samedi 30 juin 2007

Việt Gian CS Phải Trả Lại Quyền Bổ Nhiệm Giám Mục

Việt Gian CS Phải Trả Lại Quyền Bổ Nhiệm Giám Mục

Việt Gian Cộng Sản Phải Trả Lại Quyền Bổ Nhiệm Giám Mục Cho Vatican!
Việt Gian Cộng Sản Phải Trả Lại Tên Saigon!
Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ



Tại sao lại phải tẩy trừ huyền thoại Hồ Chí Minh? Tại sao Việt gian cộng sản phải trả lại quyền bổ nhiệm giám mục cho tòa thánh Vatican? Tại sao lại gọi Hồ Chí Minh là Việt gian? Xin mời quý bạn đọc theo dõi buổi nói chuyện của linh mục Nguyễn Hữu Lễ trên đài truyền hình SBTN, và chúng tôi xin mạn phép trích lại để quý bạn đọc tham khảo.

Phần Audio

Tốc Độ 56K Modem
Lấy Xuống Để Nghe
Xin bấm vào đây để nghe
Xin bấm vào đây để lấy xuống nghe

Phần Video
Xin bấm vào đây để xem phần 1
Xin bấm vào đây để xem phần 2
Xin bấm vào đây để xem phần 3
Xin bấm vào đây để xem phần 4

http://www.vietnamexodus.org/vne/modules.php?name=News&file=article&sid=2100

jeudi 28 juin 2007

Thêm Một Thành Tích của Hồ Chí Minh

Thêm Một Thành Tích của Hồ Chí Minh

Cuối năm 1924 khi Nguyễn Ái Quốc tới Trung Quốc để nhận công tác trong Bộ Phương Đông của Quốc Tế Cộng Sản bên cạnh phái viên của chính phủ Liên Xô Borodine với vỏ bọc "không đủ giỏi tiếng Nga để hiểu Borodine, cũng không đủ giỏi tiếng Tàu phiên dịch" (ông để hiểu người Tàu), họ Nguyễn được nhà cách mạng Việt Nam nổi tiếng Lâm Đức Thụ đón về ở chung trong ngôi nhà của gia đình vợ Lâm Đức Thụ là Lý Huệ Quần. Gia đình bà Lý Huệ Quần là một gia đình giàu có tại Quảng Châu. Ngôi nhà của gia đình bà về sau trở thành Huệ Quần Y Quán, tại đường Văn Minh, Quảng Châu, nơi thế hệ cách mạng đầu tiên của Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội lấy làm nơi cư ngụ và huấn luyện lý thuyết cách mạng và công tác vận động quần chúng.

Ông Hồ Chí Minh đã ở đây từ năm 1925 đến năm 1927. Gia đình bà Lý Huệ Quần đã nuôi nấng các chiến sĩ cách mạng Việt Nam suốt thời gian này. Số Nguyễn Ái Quốc cũng nhiều may mắn, đi đâu cũng gặp quý nhân phù trợ. Bà Lý Huệ Quần có cô em gái tên là Lý Huệ Khanh. Chàng thanh niên Việt Nam Nguyễn Ái Quốc đem lòng yêu mến cô gái Trung Quốc này và giữa hai người một mối tình đã nảy nở dưới sự bảo trợ của cả Lâm Đức Thụ lẫn Lý Huệ Quần. Hai người yêu nhau say đắm và họ có với nhau một đứa con gái. Lý Huệ Khanh về sau gia nhập Đảng cộng sản Trung Quốc, rồi bị Quốc Dân Đảng Trung Hoa giết trong vụ biến Quảng Châu Công Xã (12.12.1927).

Theo lời kể của những nhà cách mạng cộng sản thuộc thế hệ đầu tiên thì từ đó Nguyễn Ái Quốc mới có bí danh Lý Thụy, chắc hẳn để ghi lại kỷ niệm với người đã khuất. Từ bí danh này các thanh niên cộng sản Việt Nam được Lý Thụy huấn luyện mới mang họ Lý của đàn anh như Lý Quý, Lý Tự Trọng, Lý Phương Thuận, Lý Phương Đức...

Một cuộc tình lãng mạn thật đẹp !

Nhưng tiếc thay, bên cạnh mối tình đẹp này lại có cái không đẹp. Đó là tình bạn giữa Lý Thụy và Lâm Đức Thụ. Giống như Phan Văn Trường đã giúp Nguyễn Ái Quốc ở Paris, họ Lâm đã đón họ Nguyễn về ở với gia đình vợ mình, để rồi trở thành hai anh em đồng hao, cơm bưng nước rót. Nghĩa này tình ấy phải nói rằng rất sâu nặng.

Những người biết tình bạn giữa hai người kể rằng Lâm Đức Thụ đã giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc rất nhiều không những về công tác mà cả về nhận thức. Cụ Nguyễn Hải Thần đánh giá Lâm Đức Thụ rất cao "Thụ giỏi hơn Vương (Nguyễn Ái Quốc) nhiều lắm". Tiếc rằng nhân chứng này không để lại những ghi chép cho hậu thế. ở đây kẻ viết bài này chỉ ghi lại lời nói của cụ mà một hậu sinh nghe được để gợi ý cho các nhà nghiên cứu tìm hiểu thêm.

Chẳng thế mà trong Tổng Bộ Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, Lâm Đức Thụ được anh em tín nhiệm bầu làm Thư ký thường trực, điều hành mọi công việc. Ông đầu xứ Viễn (Lâm Đức Thụ tên thật là Nguyễn Công Viễn, thi đỗ đầu xứ nên mới có tên gọi là đầu xứ Viễn, tức Trương Béo, tức Hoàng Chấn Đông) con trai cụ tú tài Nguyễn Hữu Đàn, cháu nội nhà nho yêu nước Nguyễn Mậu Kiến, là một trong mấy người sáng lập Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội (1925), tổ chức cách mạng thoát thai từ tổ chức Tâm Tâm Xã (1923), cũng lại do Lâm Đức Thụ sáng lập cùng với Hồ Tùng Mậu và Lê Tùng Sơn. Trong tập sách không chắc có được đầy đủ (nghi ngờ có sự cắt xén) "Các Văn Kiện Về Lịch Sử Các Tổ Chức Tiền Thân Của Đảng" do Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Trung ương Đảng xuất bản tại Hà Nội trong thập niên 60 và 70 có nhiều chỗ còn tên Lâm Đức Thụ.

Đọc thì thấy Lâm Đức Thụ là người tài ba thế nào. Thế mà sau khi đảng cộng sản Đông Dương được thành lập thì người sáng lập và rèn luyện là "đồng chí Vương" đã đang tâm gạt ngay người anh em chí cốt ra ngoài để độc chiếm ngôi bá chủ trong tổ chức. Tệ hơn nữa, Lâm còn bị Nguyễn vu cho là chỉ điểm, mật thám, tay sai thực dân đế quốc... để rồi kết thúc cuộc đời trước họng súng của dân quân vào năm 1947 tại quê hương Vũ Trung, huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình. Một nhân chứng của vụ "xử lý" đồng chí một cách tàn nhẫn này kể lại :"Ông Lâm Đức Thụ mặc áo the thâm bình thản đứng trên thềm chờ những người tới giết mình. Khi họ chĩa súng vào ông, ông điềm đạm hỏi :"Ai sai các anh đến giết tôi ?". Họ nói "Cấp trên !" "Là ai?" Họ không nói. Ông bảo:"Thế thì bắn đi !". Họ nổ súng".

Nhật Quang

http://www.lmvntd.org/dossier/9705_hcm.htm

Bức Thư Mật Liên Quan Đến Hồ Chí Minh

Bức Thư Mật Liên Quan Đến Cuộc Đời Của Hồ Chí Minh

Ðăng ngày 14 tháng 03 năm 2003
(Tài liệu mật từ Văn Phòng Chủ Tịch Quốc hội Cộng Sản Việt Nam. Nguyên văn bức thư này được giữ tại Văn Phòng Chủ Tịch Quốc Hội Cộng Sản Việt Nam.)

Cao Bằng ngày 29 tháng 7 năm 1983.

Kính gởi Ông Nguyễn hữu Thọ Chủ tịch quốc hội nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Tôi là một thương binh đã 25 năm nay vô cùng đau khổ, không dám hé răng với ai. Không phải chỉ vì vết thương bom đạn, chiến tranh mà là một vết thương lòng vô cùng nhức nhối. Nay tôi xắp được từ giã cái xã hội vô cùng đen tối này đi sang thế giới khác, tôi phải chạy vạy rất khó khăn mới viết được bức thư này lên Chủ tịch, hy vọng ông còn lương tri, lương tâm đem ra ánh sáng một vụ bê bối vô cùng nghiêm trọng tàn ác, mà người vợ chưa cưới của tôi là một nạn nhân. Nay tôi hy vọng những tên hung thủ được lột mặt nạ trước công chúng, không để cho chúng ngồi trên đầu trên cổ nhân dân.

Nguyên từ năm 1954 tôi có người yêu tên Nguyễn thị Vàng, 22 tuổi quê làng Hà Mạ, Xã Hồng Việt, huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng. Cô Vàng có người chị họ là Nguyễn thị Xuân, tên gọi trong gia đình là cô Sang tức Minh Xuân. Tôi nhập ngũ đi bộ đội cuối năm 1952. Cô Vàng và cô Xuân tình nguyện vào công tác hộ lý trong một đơn vị quân nhu. Được mấy tháng sau ông Trần Đăng Ninh, Tổng cục trưởng Tổng cục hậu cần mấy lần đến gặp cô Xuân. Đầu năm 1955 thì đem xe tới đón về Hà Nội, nói là để phục vụ Bác Hồ. Được mấy tháng sau thì cô Xuân cũng xin cho cô Vàng về Hà Nội, ở trên gác nhà 66 Hàng Bông Nhuộm với cô Xuân và cô Nguyệt con gái ông Hoàng văn Đệ cậu ruột cô Xuân.

Đã luôn 2 năm tôi chỉ được tiếp thư chứ không được gặp cô Vàng, người yêu của tôi. Nhưng khoảng tháng 10 năm 1957 tôi bị thương nhẹ được đưa về điều trị tại bệnh viện Huyện Hoà An. Chúng tôi vô cùng sung sướng lại được gặp nhau. Trong một tuần lể cô Vàng kể lại mọi nỗi đau xót cô đã gặp phải cho tôi nghe. Tôi xin ghi lại tỉ mỉ những lời cô Vàng tâm sự với tôi, mà không bao giờ tôi có thể lãng quên đi được. Vàng kể :

Đầu năm 1955 cô Xuân được về gặp Bác Hồ. Bác Hồ định lấy cô Xuân làm vợ chính thức. Mấy tháng sau chị Xuân xin cho em cùng về ở trên gác nhà 66 Hàng Bông Nhuộm, Hà Nội. Còn tầng dưới thì cho ông Nguyễn Quý Kiên, Chánh văn phòng Thủ tướng phủ ở. Vì các lãnh đạo không cho chị Xuân cùng ở với Bác trên nhà chủ tịch phủ, giao cho ông Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng bộ Công an trực tiếp quản lý chị Xuân, cho nên chị Xuân mới được đem về ở 66 Hàng Bông Nhuộm, nhà của Công an.

Cuối năm 1956 chị Xuân sinh được một cậu con trai. Cụ Hồ đặt tên là Nguyễn Tất Trung. Em có nhiệm vụ bế cháu.

Ông Bộ trưởng Công an có nhiệm vụ quản lý chị Xuân nên thường đến luôn. Nhưng một buổi tối vào khoảng mồng 6 hay mồng 7 tháng 2 năm 1957, ông Hoàn tới, ngồi nói chuyện vu vơ một tí rô i nắm tay chị Xuân, kéo vào một cái buồng xép, từ cầu thang đi lên, vật chị Xuân lên một cái giường nhỏ, định hãm hiếp. Chị Xuân bị nhét khăn vào miệng nhưng vẫn ú ớ la lên. Em hoảng sợ la tru tréo. Còn chị Nguyệt sợ quá, rúm người lại ngồi một góc tường. Nghe tiếng cửa sổ nhà dưới xô xầm vào tường, lão Hoàn bỏ chị Xuân ra, rút khẩu súng lục trong túi áo hoa lên nói to : "Chúng mày im mồm, không ông cho chết hết" rồi hầm hầm chạy xuống thang ra ô tô chuồn.

Chị Xuân thất thểu đi ra khóc nức nở, ôm choàng lấy em. Em hỏi nó nắm tay chị, sao chị không văng vào mặt nó để nó dắt đi ? Chị Xuân vừa nức nở vừa nói : Đau khổ nhục nhả lắm. Chị phải nói hết để các em tha tội cho chị. Từ hôm chị mới về nhà này, có một bà già độ 60 tuổi ở một buồn dưới nhà, vợ một cán bộ Công an đã chết, lên thân mật nói chuyện với chị rằng : Sao cô ở đây một mình ? Bạn đàn bà để tôi nói thật cho cô biết. Cái lão đem cô về đây là một tên côn đồ lưu manh, dâm ô tàn ác vô kể. Tôi xin kể một vài chuyện cho cô nghe. Ông Lương Khánh Thiện, một Uỷ viên Trung ương, bị đế quốc Pháp giết có con gái tên là Bình. Chị Đường, vợ anh Thiện đem con gái gởi bác Hoàn nhờ bác tác thành cho. Lão Hoàn đã hiếp nó, nó chửa rồi chọn một tên lưu manh vào làm Công an để gả cô Bình làm vợ. Lão lại đem một cô gái có nhan sắc nhận là cháu, cũng hiếp cô gái này cho tới chửa, rồi giết chết quăng xác xuống hồ Ha Le để khỏi mang tiếng. Cán bộ Công an nhiều người biết chuyện của nó, nhưng không ai dám hở răng, vì sợ lão vu cho tội gì bắt giam rồi thủ tiêu.

Nghe chuyện đó chị cũng khủng khiếp, nhưng lại nghĩ là nó đối với mọi người khác, còn đối với mình thì nó đâu dám. Nhưng chỉ được mấy hôm sau chị nghe tiếng giầy đi nhè nhẹ lên gác, chị chạy ra thì thấy nó đi lên nhếch mép cười một cách xõ lá. Nó chào chị rồi đi thẳng vào nhà, nó ôm ghì lấy chị vào lòng rồi hôn chị. Chị xô nó ra nói : "Không được hỗn, tôi là vợ ông chủ tịch nước". Nó cười một cách nhạo báng : "Tôi biết bà to lắm nhưng sinh mệnh bà nằm trong tay tôi". Rồi nó lại nói : "Sinh mệnh tất cả dân tộc Việt nam, kể cả bố mẹ anh chị nhà bà cũng nằm trong tay tôi. Tôi muốn bắt ở tù, thủ tiêu đứa nào tuỳ ý. Và tôi nói cho bà biết cụ già nhà bà cũng không ngoài tay với của tôi."

Rồi nó rút khẩu súng lục dí vào ngực chị. Chị ngồi xụp xuống ghế nói : "Anh cứ bắn đi". Nó cười khì khì : Tôi chưa dại gì bắn. Tôi tặng bà vật khác. Nó dắt súng vào túi quần rồi rút ra một sợi dây dù to bằng chiếc đũa, đã thắt sẳn một cái thòng lọng. Nó quàng cái tròng vào cổ chị rồi kéo chị đi lại cái giường kia, đẩy chị nằm xuống, rồi đầu sợi giây nó buộc vào chân giường. Chị khiếp sợ run như cầy sấy. Nó nói " Bây giờ bà muốn chết tôi cho bà chết ". Rồi nó lột hết quần áo chị, nó ngồi xuống nó ngắm nghía ngâm nga :

Rõ ràng trong ngọc trắng ngà, đào nguyên lạc lối đâu mà đến đây ? Phẩm tiên đã đến tay phàm, thì vin cành quýt cho cam sự đời .

Rồi nó nằm đè lên hiếp chị. Chị xấu hổ lấy tay che mặt. Nó kéo tay chị nói : " Thanh niên nó phục vụ không khoái hơn ông già mà còn vờ làm gái ". Xong nó cởi thòng lọng cho chị, rồi nó ngồi bên chị tán tỉnh hàng giờ : "Anh thương em lắm. Người ta gặp hạnh phúc phải biết hưởng hạnh phúc. Nếu em thuận tình thì muốn gì cũng có. Nó đeo vào tay chị một chiếc nhẫn vàng, chị đã ném vào nhà xí. Nó lại dặn : " Việc này phải tuyệt đối bí mật, nếu hở ra thì mất mạng cả lũ và tôi nói cho cô biết ông cụ tin tôi hơn cô."

Rồi từ đó chị biến thành một thứ trò chơi của nó. Thấy bóng dáng nó chị như một con mèo nhìn thấy con cọp, hồn vía lên mây. Nó muốn làm gì thì tuỳ ý nó. Trong mấy tháng trời chị tính quẩn lo quanh, không biết tâm sự với ai mà không làm sao thoát khỏi nanh vuốt của nó. Nhớ lại lời nói của bà già, chị liền xin bác cho hai em về đây, mong tránh được mặt nó.

Nhưng những hôm Công an gọi các em đi làm hộ khẩu, đi làm chứng minh thư lâu hàng buổi là nó tới hành hạ chị. Nó bảo chị phải nói cho hai em biết. Phải biết câm cái miệng nếu bép xép thì mất mạng cả lũ. Hôm nay nó lại đây trắng trợn như vậy vì nó tưởng chị đã dặn hai em rồi. Bây giờ việc đã xẫy ra chị thấy rất nguy hiểm. Em nói : "Hay là chị em ta trốn đi ?". Chị Xuân nói : "Sau ngày sinh cháu Trung, chị thưa với Bác, bây giờ đã có con trai, xin bác cho mẹ con ra công khai". Bác nói : "Cô xin như vậy là hợp tình, hợp lý. Nhưng phải được Bộ Chính Trị đồng ý, nhất là mấy ông Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt đồng ý mới được. Do đó cô đành phải chờ một thời gian nữa". Mấy tuần trước Bác lại hỏi chị : "Các cô ở đó có nhiều người lạ tới thăm phải không ?". Chị thưa : "Ba chị em không có ai quen biết ở Hà Nội. Còn bà con ở Cao Bằng không biết chị em ở đâu." Bác nói : " Không nhẽ ông Bộ Trưởng Công an nói dối."

"Chị suy nghĩ mãi mới thấy rõ, nó muốn vu cáo chị em ta liên hệ với gián điệp hoặc đặc vu gì đó để định kế thoát thân nếu việc của nó bị bại lộ Bây giờ ta trốn cũng không làm sao thoát khỏi tay nó, mà nó còn vu cáo giết hại ba chị em chúng ta". Chị Xuân lại nói : "chị bị giết cũng đáng đời, chị rất hối hận xin hai em về đây để chịu chung số phận với chị". Em thấy nguy hiểm vì tên Hoàn đã nổi tiếng ở Bộ Công an là một tên dâm bôn vô cùng tàn ác.

Đến độ một tuần sau, vào 7 giờ tối ngày 11 tháng 2 năm 1957, ngày em còn nhớ như đinh đóng cột. Một chiếc xe com măng ca thường đón chị Xuân lên gặp bác Hồ, anh Ninh xồm, người bảo vệ Trần Quốc Hoàn chuyển lên bảo vệ Bác, vào gặp chị Xuân nói lên gặp Bác. Chị Xuân mặc quần áo, xoa nước hoa rồi ra đi. Sáng hôm sau, 12 tháng 2, một nhân viên Công an Hà Nội đến báo tin chị Xuân gặp tai nạn ô tô chết rồi, hiện còn để ở nhà xác bệnh viện Phủ Doãn. Em hốt hoảng đưa cháu cho Chị Nguyệt, ra lên xe Công an vào bệnh viện. Em không được vô nhà xác, họ nói còn mổ tử thi. Lên một phòng chờ em thấy trong phòng đã khá đông người : Công an, Tòa án, Kiểm sát viên. Sau một tiếng, hai bác sĩ, một cán bộ Công an, một kiểm sát viên lên phòng chờ, đem theo một tờ biên bản đọc to lên cho mọi người nghe. Tử thi thân thể không có thương tích gì, thấy rõ không bị tai nạn ô tô và cũng không phải bị đâm chém đánh đập gì. Mổ tử thi trong cơ thể lục phủ ngũ tạng cũng không có thương tích gì. Da dầy không có thức ăn, không có thuốc độc. Tử cung không có tinh trùng biểu thị không bị hiếp dâm.

Duy chỉ có xương đỉnh đầu bị rạn nức. Mổ sọ não không còn óc, mà chỉ còn nước nhờn chảy tuôn ra. Bác sĩ tuyên bố đây có thể bị chùm chăn lên đầu rồi dùng búa đánh vào giữa đầu. Đây là phương pháp giết người của bọn lưu manh chuyên nghiệp của nhiều nước đã xử dụng. Em vô cùng đau khổ chạy về kể chuyện lại cho chị Nguyệt nghe để hai chị em cùng khóc. Ít lâu sau một cán bộ Công an đến bế cháu Trung đi, chúng em không được biết đem đi đâu. Rồi em thì được đi học một lớp y tá của khu tự trị Việt Bắc ở Thái Nguyên. Chị Nguyệt không biết họ cho đi đâu sống chết thế nào. Học mấy tháng thì em được chuyển về bệnh viện Cao Bằng, em khóc luôn, họ cho là em bị thần kinh nên cho về đây điều trị. May lại được gặp anh kể hết mọi chuyện cho anh nghe. Em nghĩ anh chỉ bị thương nhẹ, anh còn sống được lâu anh sẽ nói rõ cho toàn dân biết được vụ bê bối này. Còn em thì chắc chắn sẽ bị chúng giết vì em đã nói vụ này cho nhiều chị em bà con biết. Bọn hung thủ còn theo dõi em. Ở Cao Bằng có hôm em thấy thằng Ninh xồm tới gặp ông bác sĩ bệnh viện trưởng, được ít hôm họ tuyên bố em bị thần kinh được chuyển về điều trị tại Hoà An.

Tôi chỉ được gặp Vàng em tôi có một tháng, đến ngày mồng 2 tháng 11 năm 1957 cô Vàng đi về thăm ông cậu Hoàng văn Đệ. Hung thủ đi theo rồi giết chết em tôi quăng xác xuống sông Bằng Giang đến ngày mồng 5 tháng 11 mới nổi lên ở cầu Hoàng Bồ. Tôi được tin sửng sốt chạy về cầu Hoàng Bồ thì thi hài đã được kiểm nghiệm và chôn cất rồi. Nghe dư luận xôn xao bị đánh vở sọ, đồng hồ vẫn còn nguyên và người nhà đã nhận về chôn cất. Tôi đâm bổ về Hà Nội liên lạc được với một cậu bạn cùng học làm việc ở Toà án Hà Nội. Tôi kể vụ án em tôi bị giết thì bạn tôi sao cho tôi một bản Công Văn Viện Kiểm sát hỏi toà án về vụ em tôi và cô Xuân bị giết. Tôi xin sao bản văn đó trình ông để tiện việc điều tra. Vụ này nhiều người bị giết. Cô Xuân, vợ cụ Hồ Chí Min h, cô Vàng, vợ chưa cưới của tôi, cô Nguyệt, còn nhiều người ở Trường y tá Thái Nguyên nghe chuyện Vàng kể đi nói chuyện lại cũng bị giết lây.

Mấy chục năm nay tôi tim gan thắt ruột, nghĩ cách trả thù cho em tôi nhưng sức yếu thế cơ đành ngậm hờn chờ chết. Theo Vàng dặn lại, tôi liên hệ với một sốcán bộ về hưu Công an, kiểm sát họ cho tôi biết cậu Trung ngày đó đã được đưa về cụ Bằng nuôi. Độ 4, 5 tuổi thì gửi cho Chu Văn Tấn, đến năm 13 tuổi là năm 1969 ngày Bác Hồ mất thì giao cho ông Vũ Kỳ, nguyên Thư Ký của Bác, nay là Phó Giám đốc Bảo tàng Hồ chí Minh làm con nuôi. Vũ Kỳ có 2 con đẻ là Vũ Vinh và Vũ Quang, còn Vũ Trung là con nuôi ; là con chị Xuân với Bác Hồ. Tôi một thương binh sắp đi qua thế giới khác, máu hoà nước mắt viết thư này nhờ một người bạn chí tình, thành tâm bảo vệ lẽ phải, đánh máy bức thư gởi tới trình ông. Mong ông lưu ý xét cho mấy việc :

1- Các ông sẵn lòng bảo vệ chân lý điều tra cho ra những đứa thủ mưu, thủ ác, chứ không truy xét những người có lương tâm phát hiện lũ tàn ác.

2- Ở xã Hồng Việt bà con bạn hữu chị Xuân vào trạc tuổi 45 trở lên còn khá nhiều đều biết rõ ràng cô Vàng, cô Xuân, cô Nguyệt và chắc gia đình của cô Xuân còn khá nhiều di vật của cô Xuân. Nhưng tất cả mọi người đều khiếp sợ, không dám hé răng. Mong ông cho điều tra thận trọng, bí mật, vì việc điều tra này bị lộ thì cả lô bà con này bị thủ tiêu.

3- Cậu Nguyễn Tất Trung còn sống khoẻ mạnh nhưng việc điều tra lộ ra thì cậu cũng dễ dàng bị thủ tiêu. Tên hung thủ lái xe đón bà Xuân đi giết là Tạ Quang Chiến hiên nay là Tổng cục Phó Tổng cục Thể dục Thể thao. Còn tên Ninh xồm thì chúng tôi không hiểu đã leo lên chức vụ nào rồi.

Từ thế giới khác kính chúc Ngài nhiều hạnh phúc.

Vợ chồng Nguyễn thị Vàng

(quehuongmedia)

*
***
*

Bức Thư Mật Liên Quan Đến Hồ Chí Minh – do Huyền Thoại đọc

http://www.hotmit.com/mega/Buc%20Thu%20Mat%20Lien%20Quan%20Den%20Ho%20Chi..mp3

Diễn Ðàn Hộtmít -> Truyện Audio

http://www.huyenthoai.org/Van.html
http://www.lmvntd.org/tailieucs.htm

Nhận Định Về Chuyến Đi Của VC Triết

Nhận Định Về Chuyến Đi Hoa Kỳ Của Việt Gian Cộng Sản Nguyễn Minh Triết - phần 1

Nhà báo Việt Thường

Tại sao không được chào đón 21 phát súng thần công dành cho một nguyên thủ quốc gia, không được mời ăn quốc yến, không được cho ngủ tại nhà quốc khách Blair House mà Việt gian cộng sản Nguyễn Minh Triết vẫn cứ Mỹ? Việt gian được gì và không được gì trong chuyến đi triều kiến tổng thống Hoa Kỳ? Xin mời quý bạn đọc theo dõi buổi nói chuyện của nhà báo Việt Thường từ Luân Đôn.

:::Nhận Định Về Chuyến Đi Của Việt Gian Triết

----
- · Hồ Chí Minh

Giải Tỏa Huyền Thoại Hồ Chí Minh

Giải Tỏa Huyền Thoại Hồ Chí Minh

Luật sư Nguyễn Hữu Thống


Hồ Chí Minh - lúc chập chững đi làm Việt gian cho đệ tam quồc tế


Để xây dựng uy tín cho Hồ Chí Minh, Đảng Cộng Sản đã sử dụng nhiều chiêu bài và ngụy tạo nhiều huyền thoại:


1) Huyền thoại gia đình cách mạng.
2) Huyền thoại lên đường cứu nước.
3) Tiếm danh Nguyễn Ái Quốc.
4) Giả danh Trần Dân Tiên.
5) Giả đoàn kết quốc gia.
6) Giả hiệp ước quốc tế.
7) Ngụy tạo tư tưởng Hồ Chí Minh.


1. HUYỀN THOẠI GIA ĐÌNH CÁCH MẠNG.

Các nhà sử học Cộng Sản trình bày rằng Hồ Chí Minh xuất thân từ một gia đình cách mạng. Thân phụ là phó bảng Nguyễn Sinh Sắc hay Nguyễn Sinh Huy, là bạn đồng khoa với Phan Chu Trinh và thường giao kết với Phan Bội Châu là người đồng hương. Sau khi được bổ nhiệm tri huyện Bình Khê, Nguyễn Sinh Sắc đã tự ý từ quan để phản kháng chế độ thực dân phong kiến.

Sự thật không phải như vậy. Dầu là một sĩ phu đỗ đại khoa, Nguyễn Sinh Sắc đã không có một đời sống cá nhân đứng đắn. Ông thường say rượu và trong những lúc nóng giận đã có thái độ thô lỗ và đánh đập con cái. Năm 1910, cũng vì say sưa, Nguyễn Sinh Sắc đã quá tay đánh chết một nghi can là Tạ Đức Quang. Cũng vì vậy ông bị triều đình tuyên phạt 100 trượng, giáng 4 cấp, cách chức tri huyện và sa thải khỏi quan trường. Sau này ông được miễn phạt trượng hình. Dầu sao ông đã làm nhục giới nho sĩ vì không biết tu thân trước khi trị quốc. Do sự sỉ nhục này đối với sĩ lâm và bà con lối xóm, ông đã dắt các con rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, đi tha phương cầu thực làm nghề bốc thuốc tại miền Nam.


Sự thật lịch sử này đã được chứng minh bằng một văn thư do Hồ Chí Minh dưới tên Paul Tất Thành viết từ Nữu Ước ngày 15-12-1912 gửi Khâm Sứ Trung Kỳ, xin cho cha được phục chức và được làm thừa biện, giáo thụ hay huấn đạo để có phương tiện mưu sinh.

Và truyền thống gia đình cách mạng của Hồ Chí Minh chỉ là một huyền thoại (Chính Đạo: Hồ Chí Minh, con người và huyền thoại).


2. HUYỀN THỌAI LÊN ĐƯỜNG CỨU NƯỚC.

Các nhà sử học CS còn trình bày rằng năm 21 tuổi Hồ Chí Minh rời Bến Nhà Rồng Saigon xuất dương lên đường cứu nước. Thời gian này, phong trào kháng thuế tại Quảng Nam và các tỉnh miền Trung đã bị dập tắt. Trường Đông Kinh Nghĩa Thục tại Hà Nội đã bị thâu hồi giấy phép và tại Nhật Bản, Phan Bội Châu, Cường Để cùng 200 sinh viên Việt Nam du học đã bị trục xuất. Theo gương Phan Chu Trinh, năm 1911 Hồ Chí Minh tìm đường qua Pháp để học hỏi tinh thần tự do dân chủ, hy vọng có ngày trở về giải phóng đồng bào khỏi ách đế quốc tư bản.


Đây cũng chỉ là một huyền thoại. Do đơn ngày 15-9-1911, Nguyễn Tất Thành xin Bộ Thuộc Địạ Pháp đặc cách cho theo học Trường Thuộc Địa “để trở nên người hữu ích cho nước Pháp” (utile à la France). Trường Thuộc Địa là trung tâm đào tạo các cán bộ hành chánh và giáo dục của chế độ thuộc địa. Theo quy chế, các sinh viên phải được sự giới thiệu của nhà chức trách Đông Dương. Nhiều vị khoa bảng và trí thức nổi tiếng đã theo học trường này như Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Thân Trọng Huề, Bùi Quang Chiêu, Bùi Bằng Đòan v...v... Vì không đúng thủ tục, đơn của Nguyễn Tất Thành đã bị bác bỏ.


Và huyền thoại Hồ Chí Minh từ Bến Nhà Rồng xuất dương lên đường cứu nước đã bị giải tỏa.


3. TIẾM DANH NGUYỄN ÁI QUỐC.

Từ 1911 đến 1914, Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp tại các tầu buôn của hãng Les Chargeurs Réunis chạy quanh các nước Âu Châu, Phi Châu và Mỹ Châu. Khi Thế Chiến Thứ Nhất bùng nổ, Nguyễn Tất Thành sang Anh làm phụ bếp tại nhà hàng Carlton và trở về Paris năm 1917. Trong thời gian này LS Phan Văn Trường đã thành lập Hội Những Người Việt Nam Yêu Nước để đấu tranh công khai đòi tự trị và độc lập cho Việt Nam.

Do lời mời của lãnh tụ Đảng Xã Hội Pháp Jean Jaures (người đã can thiệp với Thủ Tướng Pháp để ân xá cho Phan Chu Trinh), cùng với cụ Phan, LS Phan Văn Trường đã nhiều lần đến điều trần tại Quốc Hội Pháp để trình bày quan điểm về chính sách bảo hộ của Pháp tại Việt Nam và đạo đạt nguyện vọng của người dân Việt Nam lên Quốc Hội.

Sau Thế Chiến Thứ Nhất, năm 1919 tại Paris, dưới bút hiệu chung Nguyễn Ái Quốc, bộ ba Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành, nhân danh Hội Những Người Việt Nam Yêu Nước đã đệ trình các Chính Phủ Đồng Minh và Chính Phủ Pháp Thỉnh Nguyện Thư của Dân Tộc Việt Nam trong tinh thần hợp tác và thương nghị, nguyên văn như sau:

“Từ sau cuộc chiến thắng của Đồng Minh, các dân tộc bị trị vô cùng xúc động trước những triển vọng tương lai, căn cứ vào những cam kết minh thị và trân trọng của các cường quốc Đồng Minh trước dư luận thế giới trong cuộc đấu tranh vừa qua để bảo vệ Văn Minh chống Dã Man.


Chiếu theo các cam kết này, một Kỷ Nguyên mới của Luật Pháp và Công Lý sẽ khai mở đem lại hy vọng chứa chan cho các dân tộc bị trị.


Trong khi chờ đợi Nguyên Tắc Chủ Quyền Quốc Gia được chấp thuận trong lý tưởng cũng như trên thực tế do sự thừa nhận và thực thi Quyền Dân Tộc Tự Quyết thiêng liêng, Dân Tộc Việt Nam trân trọng đệ trình các Chính Phủ Đồng Minh cao quý, cũng như Chính Phủ Pháp khả kính, những thỉnh nguyện khiêm tốn sau đây:


1) Ban hành Đại Xá cho tất cả các chính trị phạm bản xứ.
2) Cải thiện chế độ tư pháp Đông Dương bằng cách ban hành những bảo đảm về quyền bình đẳng trước pháp luật giữa người bản xứ và người Âu Châu. Bãi bỏ toàn bộ và vĩnh viễn hệ thống tòa án đặc biệt được dùng làm công cụ khủng bố và đàn áp các thành phần lương thiện nhất của dân tộc Việt Nam.
3) Ban hành Tự Do Báo Chí và Tự Do Ngôn Luận
4) Ban hành Tự Do Lập Hội và Tự Do Hội Họp.
5) Ban hành Tự Do Di Trú và Xuất Ngoại
6) Ban hành Tự Do Giáo Dục và thiết lập tại các tỉnh những trường kỹ thuật và chuyên nghiệp cho người bản xứ.
7) Thay thế chế độ cai trị bằng nghị định bằng chế độ pháp trị.
8) Thành lập Phái Bộ Thường Trực dân cử của người bản xứ bên cạnh Quốc Hội Pháp để đạo đạt tới Quốc Hội những nguyện vọng của người bản xứ.

Khi đệ trình những thỉnh nguyện nêu trên, Dân Tộc Việt Nam kỳ vọng vào nền Công Lý Thế Giới của các Cường Quốc và đặc biệt tin tưởng vào sự hào hiệp của Dân Tộc Pháp cao quý hiện đang nắm giữ vận mệnh của Dân Tộc Việt Nam bằng cách đứng ra bảo hộ Dân Tộc Việt Nam nhân danh Cộng Hòa Pháp. Dân Tộc Việt Nam không hổ thẹn được sự bảo trợ của Dân Tộc Pháp, trái lại còn cảm thấy vinh hạnh. Vì họ biết rằng Dân Tộc Pháp biểu tượng cho Tự Do và Công Lý, và sẽ không bao giờ từ bỏ lý tưởng cao cả của Nghĩa Bác Ái toàn cầu. Vì những lý do đó, trong khi lắng nghe tiếng nói của kẻ bị trị, Dân Tộc Pháp sẽ hoàn thành nghĩa vụ của mình đối với nước Pháp cũng như đối với nhân lọai”.


Thay mặt Hộâi Những Người Việât Nam Yêu Nước,
Nguyễn Ái Quốc

Luật Sư Phan Văn Trường, tiến sĩ luật, Chủ Tịch Hội Những Người Việt Nam Yêu Nước là người soạn tài liệu này.

Nguyễn Ái Quốc (Nguyen le Patriote) là bút hiệu chung của bộ ba Phan văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành. Nguyễn là dòng họ đa số tại Việt Nam và Ái Quốc là phỏng theo tên Hội Những Người Việt Nam Yêu Nước (Groupe des Patriotes Annamites). Với bút hiệu này, họ đã viết những bài bình luận trên các báo của Đảng Xã Hội như Nhân Loại (L'Humanité), Dân Chúng (Le Populaire) v...v... Mặc dầu vậy, Hồ Chí Minh đã tự nhận mình là Nguyễn Ái Quốc. Dưới bút hiệu Trần Dân Tiên, trong cuốn “Những Mẩu Chuyện về Đời Hoạt Động của Hồ Chủ Tịch”, Hồ Chí Minh viết: “Khi chiến tranh chấm dứt, tại Hội Nghị Hoà Bình Véc Xây, Tổng Thống Mỹ Wilson nói về 14 điều. Các đại biểu các dân tộc bị áp bức đến để yêu cầu độc lập và tự do. Trong số đó, có Nguyễn Ái Quốc (tức là Anh Ba hay Hồ Chí Minh). Ông Nguyễn tổ chức nhóm người Việt Nam yêu nước tại Paris và ở các tỉnh khác. Với danh nghĩa của tổ chức này, ông đã đưa yêu cầu 8 điều ra trước Hội Nghị Véc Xây”.


Đây chỉ là một sự mạo nhận. Vì những lý do sau đây:


a) Thỉnh Nguyện Thư được soạn thảo nhân danh Hội Những Người Việt Nam Yêu Nước, một tổ chức do Phan Văn Trường thành lập năm 1914 tại Paris, khi Nguyễn Tất Thành còn ở Luân Đôn.
b) Thỉnh Nguyện Thư đề cập đến những nguyên tắc pháp lý mà trong thời gian đó (1919) chỉ các luật gia và chính trị gia mới thấu hiểu như quyền bình đẳng trước pháp luật, chế độ pháp trị, chế độ tòa án đặc biệt, quyền dân tộc tự quyết v..v...
c) Đề nghị thành lập Phái Bộ Thường Trực Dân Cử Việt Nam tại Quốc Hội Pháp là do sáng kiến của Phan Văn Trường. Từ năm 1911, cùng với Phan Chu Trinh, theo lời mời của Jean Jaures, ông đã nhiều lần đến điều trần tại Quốc Hội Pháp để đạo đạt những nguyện vọng của nhân dân Việt Nam lên Quốc Hội.
d) Nguyễn Tất Thành chỉ là một học sinh vừa qua bậc tiểu học và không có kiến thức chính trị. “Ông rất ít hiểu về chính trị, không biết thế nào là công hội, thế nào là bãi công, và thế nào là chính đảng... Ông không đủ tiếng Pháp để viết và phải khẩn khoản yêu cầu ông Phan Văn Trường viết thay... Ông lắng nghe những buổi thảo luận, nhưng không hiểu rõ về chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội, giai cấp vô sản v.v... ông nhức đầu vì khó hiểu”. Vả lại vốn liếng tiếng Pháp của ông chỉ gồm những chữ thông dụng trong đời sống hằng ngày học từ những cô sen trong giới bình dân (Trần Dân Tiên, sđd).
e) Trần Dân Tiên còn nêu lên yêu cầu bãi bỏ chế độ sưu dịch, thuế đinh, thuế muối và việc bắt ép dân mua muối và thuốc phiện. Các điều khoản này không thấy trong bản Thỉnh Nguyện Thư tiếng Pháp đăng trên báo L'Humanité ngày 18-6-1919. (Chính Đạo: Hồ Chí Minh, con người và huyền thoại).

Nói tóm lại, trái với lời Trần Dân Tiên, Hồ Chí Minh không phải là tác giả Thỉnh Nguyện Thư của Dân Tộc Việt Nam. Và năm 1919 Hồ Chí Minh cũng chưa phải là Nguyễn Ái Quốc. Đây chỉ là một sự mạo nhận tư cách của Nguyễn Tất Thành, một người ít học nhưng nhiều tham vọng.

Năm 1917, khi từ Luân Đôn trở về Paris, Nguyễn Tất Thành tá túc tại nhà Luật sư Phan Văn Trường số 6 Villa des Gobelins. Năm 1914, Phan Chu Trinh và Phan Văn Trường bị bắt giam về tội phản nghịch (tình nghi liên lạc với Cường Để tại Berlin). Sau 9 tháng điều tra hai nhà chí sĩ họ Phan đã được miễn tố (Phan Chu Trinh chủ trương hợp tác với Pháp đánh Đức, cũng như Gandhi hô hào thanh niên Ấn Độ tình nguyện gia nhập quân đội Hoàng Gia Anh). Mặc dầu vậy, hai vị vẫn bị cảnh sát điều tra theo rõi. Mỗi khi có trát đòi Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Tất Thành đứng ra nhận trát, tự xưng là Nguyễn Ái Quốc. Ông nói “Nguyễn Ái Quốc chính là tôi, các ông cứ đưa trát cho tôi, đừng làm phiền chú/bác tôi (ý nói Phan Văn Trường hay Phan Chu Trinh)”. Năm 1921, Nguyễn Tất Thành bỏ Đảng Xã Hội để gia nhập Đảng CS dưới tên Nguyễn Ái Quốc.


4. GIẢ DANH TRẦN DÂN TIÊN

Các nhà sử học cho rằng Hồ Chí Minh là người thông minh, nhưng là sự thông minh ngoài phố. Sự khôn ngoan giảo quyệt này đã được biểu lộ rõ nét nhất trong cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch” của Trần Dân Tiên xuất bản và tái bản nhiều lần từ 1948 đến 1976. Ngày nay ai cũng biết Trần Dân Tiên là Hồ Chí Minh. Trong lịch sử văn học thế giới, không thấy một nhà văn tự trọng nào lại giả danh bằng một bút hiệu để tự đề cao mình. Dùng bút hiệu thật để nói về mình cũng là vạn bất đắc dĩ, vì cái tôi thường đáng ghét. Dùng bút hiệu giả để thần thánh hóa mình thì quả là đáng ghét!


Chúng ta thử đánh giá sự khiêm tốn của tác giả:


“Nhiều nhà văn nhà báo Việt Nam và ngoại quốc muốn viết tiểu sử của vị Chủ Tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, nhưng mãi đến nay chưa có người nào thành công. Nguyên nhân rất đơn giản: Chủ Tịch Hồ Chí Minh không muốn nhắc lại thân thế của mình (...). Hiện nay còn nhiều việc cần thiết hơn, rất nhiều đồng bào đang đói khổ. Sau 80 năm nô lệ, nước ta bị tàn phá, bây giờ chúng ta phải xây dựng lại. Chúng ta nên làm những công việc hết sức cần kíp đi đã (...). Với đức tính khiêm tốn nhường ấy, và đương lúc bề bộn bao nhiêu công việc làm sao Hồ Chủ Tịch có thể kể lại bình sinh của Người được”.


Thế nhưng Hồ Chủ Tịch đã đại ngôn:

“Khi còn là một thiếu niên 15 tuổi, người thiếu niên ấy đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào. Lúc bấy giờ anh đã có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào. Anh khâm phục các cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Hoàng Hoa Thám, nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm của 3 người, vì:
- Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương.
- Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp, chẳng khác gì đưa hổ cửa trước rước beo cửa sau.
- Cụ Hoàng Hoa Thám còn nặng cốt cách phong kiến”.
Năm 1905, khi Hồ Chí Minh 15 tuổi, cụ Phan Chu Trinh chưa viết Đầu Pháp Chính Phủ Thư (l906), chưa phát động phong trào Duy Tân và Đông Kinh Nghĩa Thục (l907). Vậy mà Hồ Chí Minh đã phê phán chính sách canh tân và giáo dục của cụ là cải lương (mà cải lương thì đã sao?).
Chưa thấy cụ Phan Bội Châu rước cọp vào nhà, chỉ thấy Hồ Chí Minh cõng rắn CS về cắn gà nhà, gây tai hại vô lường cho đất nuớc và dân tộc.
Năm 1945 khi mới 55 tuổi, Hồ Chí Minh tự phong mình là “cha già của dân tộc”. Ông còn tự thần thánh hóa mình, kể rằng “chân dung Hồ Chủ Tịch được treo trên bàn thờ giữa những bình hương hoa đèn nến”.
“Hồ Chủ Tịch được nhân dân yêu mến là do lòng hy sinh và lòng nhân từ của Người. Chủ Tịch không bao giờ nghĩ đến mình. Người chỉ nghĩ đến người khác, nghĩ đến nhân dân (...). Đối với nhi đồng, tên Bác Hồ là như một người mẹ hiền. Chỉ nhắc đến tên Bác là các em trở nên ngoan ngoãn”.

Vậy mà người cha già (67 tuổi) đã nhẫn tâm để đàn em hạ sát người vợ trẻ đã sinh cho mình đứa con trai là Nguyễn Tất Trung. Năm l957, khi cô Nguyễn thị Xuân yêu cầu công khai hoá cuộc hôn phối đã kéo dài trên 2 năm, Hồ Chí Minh vẫn ngọt ngào giả lả: “Cô xin như vậy là hợp tình hợp lý, nhưng phải được Bộ Chính Trị đồng ý, nhất là mấy ông Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt đồng ý mới được”. Do đó, cô đành phải chờ một thời gian. Trong thời gian này, cô đã biến thành chướng ngại vật làm mất uy tín của lãnh tụ. Theo đúng phương châm hành động, tất cả những chướng ngại vật làm cản trở con đường của lãnh tụ sẽ bị thanh toán và vô hiệu hóa.


Thanh toán trước hết bằng cách hạ nhục đối phương, cho viên tướng công an Trần Quốc Hoàn mặc sức hãm hiếp. Rồi cho thủ hạ chùm chăn lên đầu và dùng búa đánh vỡ sọ nạn nhân (như vụ Staline hạ sát Trotsky tại Mexico).

Một người có những thủ đoạn bất nhân như vậy, mà bộ máy tuyên truyền của CS còn đề cao như một vị anh minh kết tinh “đức tính từ bi của Đức Phật, tính công bằng bác ái của Chúa Ki Tô, sự minh triết của Khổng Tử, sự siêu thoát của Lão Trang”.

Ngoài ra, Trần Dân Tiên còn tự sánh mình với Mặc Tử là người đã mòn trán lỏng gót, bôn ba khắp nơi để lo cho thiên hạ. Điều đáng nói là, trong khi Mặc Tử chủ trương hòa bình, thì Hồ Chí Minh cổ võ chiến tranh. Trong khi Mặc Tử theo thuyết kiêm ái, yêu dân tộc, yêu nhân loại, thì Hồ Chí Minh gieo rắc căm hờn, thúc dục thú tính để phát động đấu tranh giai cấp và thủ tiêu những lương dân vô tội và những người quốc gia yêu nước theo chủ nghĩa dân tộc.


5. GIẢ ĐOÀN KẾT QUỐC GIA.

Khi hay biết phe Thế Giới Dân Chủ không chịu trao Đông Dương cho Đảng Cộng Sản Đông Dương vì họ không muốn Staline mở rộng Bức Màn Sắt từ Đông Âu qua Đông Á, ngày 11-11-1945 Nguyễn Ái Quốc giả bộ giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương để thành lập Hội Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Các Mác. Để có chính nghĩa đoàn kết quốc gia, Hồ Chí Minh mời Nguyễn Hải Thần thuộc Cách Mạng Đồng Minh Hội và Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam thuộc Việt Nam Quốc Dân Đảng tham gia chính phủ liên hiệp.


Trong Tuyên Cáo Đoàn Kết ngày 24-12-1945, Hồ Chí Minh cam kết tôn trọng sự đoàn kết của các đảng phái quốc gia để tranh thủ độc lập, “Vì độc lập quốc gia là cứu cánh tối hậu cần phải tranh thủ và chỉ có sự hợp tác và hữu nghị chân thành giữa những người Việt Nam mới có thể đạt được độc lập quốc gia”. Ông còn lên án mọi hành vi phá hoại tình đoàn kết quốc gia cũng như việc dùng võ lực để tiêu diệt các đảng phái quốc gia.

Vậy mà sau đó Trần Dân Tiên đã vu oan giá họa: “bọn phản động Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam được Trung Hoa Quốc Dân Đảng giúp đỡ đã có âm mưu phá hoại và Hồ Chủ Tịch đã phải nhường cho họ 70 ghế quốc hội”.

Ngày 6-3-1946, Hồ Chí Minh ký Hiệp Ước Sơ Bộ Sainteny công nhận Việt Nam là một quốc gia tự trị trong Liên Bang Đông Dương và trong Liên Hiệp Pháp. 15-ngàn-quân Pháp được thay thế quân Trung Hoa, đổ bộ Hải Phòng và đồn trú tại Bắc Việt trong 5 năm.

Tháng 5-1946, Hồ Chí Minh qua Paris thương nghị. Phái đoàn Việt Nam đáng lẽ do ngoại trưởng Nguyễn Tường Tam lãnh đạo, nhưng trước đó: “Bộ Trưởng Tam đã bỏ trốn”. Và mùa hè năm đó, Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh cũng bỏ trốn sang Tàu để khỏi bị sát hại như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm v...v... Sau khi tống xuấât quân đội Trung Hoa, CS thẳng tay đàn áp và thủ tiêu các cán binh Quốc Dân Đảng và Đồng Minh Hội. Như vậy, Tuyên Cáo Đoàn Kết 1945 chỉ nhằm thành lập chính phủ liên hiệp để làm bình phong thương nghị với Pháp. Rồi nhờ Pháp tống xuất Tàu cho Đảng CS rảnh tay tiêu diệt các đảng phái quốc gia để được độc quyền lãnh đạo.
Trong Thế Chiến Thứ Hai, để được Đồng Minh yểm trợ, Staline đưa ra chính sách thân thiện với Anh Pháp. Đảng CS Pháp phối hợp với Đảng Xã Hội trong Mặt Trận Bình Dân. Phe CS Việt Nam cũng hợp tác với phe Tân Tả Phái của Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch để thành lập Mặt Trận Dân Chủ và xuất bản tờ La Lutte (Tranh Đấu). Trong những cuộc bầu cử Hội Đồng Đô Thành Saigon và Hội Đồng Quản Hạt Nam Kỳ, liên danh Tranh Đấu của Tạ Thu Thâu toàn thắng. Đây là giai đoạn đấu tranh công khai, ôn hòa, hợp pháp và bất bạo động. Chiêu bài đoàn kết quốc gia một lần nữa được áp dụng. Nguyễn An Ninh thuộc phe Trung Hoà, Tạ Thu Thâu thuộc phe Tân Tả Phái và Nguyễn Phan Long thuộc phe Lập Hiến, đã đứng ra tổ chức Đông Dương Đại Hội để đạo đạt thỉnh nguyện của nhân dân Việt Nam tới phái đoàn Quốc Hội từ Paris sang.

Vậy mà ngay sau khi cướp được chính quyền, Đảng CS đã phản bội lời giao ước đoàn kết và đã thủ tiêu Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Phạm Quỳnh, Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Văn Sâm, Hồ Văn Ngà, Dương Văn Giáo v...v... là những người quốc gia yêu nước thuộc các nhóm Tân Tả Phái và Lập Hiến.

Về việc hạ sát Tạ Thu Thâu, Hồ Chí Minh còn giả nhân nghĩa tiếc Tạ Thu Thâu là người yêu nước. Nhưng ông lại thêm rằng những ai chống lại chính sách của ông đều sẽ bị vô hiệu hoá. Sau khi Staline thủ tiêu người chiến hữu đàn anh của mình là Trotsky năm 1940, tất cả phe tân tả phái Trotskit đều phải bị thanh toán và triệt hạ uy tín.
Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn cho hạ sát Đức Giáo Chủ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ và các lãnh tụ các đảng phái quốc gia yêu nước như Trương Tử Anh (Đại Việt), Lý Đông A (Duy Dân), Khái Hưng, Nhượng Tống (Quốc Dân Đảng) v...v...


6, GIẢ HIỆP ƯỚC QUỐC TẾ.

Theo sách lược CS ký hiệp ước không phải để thi hành hiệp ước. Vì các hiệp ước ngoại giao chỉ là những phương tiện để thực thi những mục tiêu chính trị:
a. Ký Hiệp Ước Sơ Bộ Sainteny ngày 6-3-1946 nhờ Pháp tống xuất Tàu để rảnh tay thanh toán các đảng phái quốc gia nhằm giữ độc quyền yêu nước, độc quyền lãnh đạo. Sau đó lại phát động chiến tranh ngày 19- 12-1946.

b. Ký Hiệp Định Đình Chiến Genève 1954 để tống xuất Pháp và cướp chính quyền tại Miền Bắc. Sau đó lại tái phát động chiến tranh.

c. Ký Hiệp Định Hòa Bình Paris 1973 để tống xuất Mỹ. Sau đó lại tái phát động chiến tranh để thôn tính Miền Nam.


7. NGỤY TẠO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH.

Sau cuộc Cách Mạng Giải Thể CS tại Đông Âu, chủ nghĩa CS đã bị nhân dân thế giới vứt vào thùng rác lịch sử. Tại Đức, quê hương của Các Mác, chủ nghĩa Mác đã bị phủ định và được thay thế bằng chủ nghĩa Dân Chủ Tự Do và Dân Chủ Xã Hội. Tại Nga, quê hương của Lênin, chủ nghĩa Lênin cũng đã bị phủ định để thay thế bằng chủ nghĩa Dân Chủ Tự Do và Dân Chủ Xã Hội.


Trước sự phá sản của chủ nghĩa Mác Lê, Đảng CS õ ngụy tạo cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh”, một điều mà chính Hồ Chí Minh thời sinh tiền cũng không bao giờ đề cập đến. Ông chỉ nói đến chủ nghĩa Mác Lê, tư tưởng Mao Trạch Đông, và tác phong Hồ Chí Minh. Ông nhìn nhận rằng, về phần tư tưởng, “Bác Mao đã viết cả rồi, tôi không còn gì để viết nữa”. Do đó ông chỉ thực thi trung thành những nguyên lý Mác Lê và tư tưởng Mao Trạch Đông. Ông hết sức tán tụng Staline và Mao Trạch Đông. Ông viết: “Mao Trạch Đông đã đông phương hóa chủ nghĩa Mác Lê và đã đưa cách mạng Trung Quốc đến thành công. Cách mạng Việt Nam phải học tập và thực sự đã học hỏi rất nhiều từ cuộc cách mạng Trung Quốc. Các nhà cách mạng (CS) Việt Nam phải ghi nhớ điều này và phải biết ơn Mao Trạch Đông về sự đóng góp to lớn này”.
Thật vậy, Hồ Chí Minh không có tư tưởng gì đặc sắc. Ông chỉ là người sao chép lại.
Những mục tiêu độc lập, tự do, hạnh phúc ghi trong các tiêu đề chánh thức của nhà nước chỉ là phỏng theo 3 cương lĩnh của chủ nghĩa Tam Dân do Tôn Dật Tiên đề xướng trong Cách Mạng 1911: “Dân Tộc Độc Lập, Dân Quyền Tự Do và Dân Sinh Hạnh Phúc”.

Bản Tuyên Ngôn Độc Lập do Hồ Chí Minh đọc ngày 2-9-1945 cũng là sự sao chép Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ theo đó: “mọi người sinh ra bình đẳng và được Tạo Hóa ban cho những quyền bất khả xâm phạm như quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Thêm vào đó là lời mở đầu Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền Pháp 1789 (chứ không phải 1791 như Hồ Chí Minh đã ngộ nhận): “mọi người sinh ra tự do và bình đẳng và luôn luôn được tự do và bình đẳng”.

Dùng giả nhân nghĩa là ngụy quân tử. Nhưng khéo ngụy trang Hồ Chí Minh đã viện dẫn các tư tưởng minh triết của Nho Gia trong việc giáo hóa, trị dân và dựng nước như: “Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, lo trước cái lo của dân, vui sau cái vui của dân, không lo nghèo mà lo không đều, mười năm trồng cây, trăm năm trồng người” v...v....


Về mặt kiến thức, Hồ Chí Minh thú nhận ông không am tường chính trị và nhức đầu khi nghe nói về những vấn đề lý thuyết chủ nghĩa. Ông chỉ là người cán bộ thừa hành trung thành và tận tụy của Staline và Mao Trạch Đông. Nhờ Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền, ông nổi danh vì bút hiệu chung Nguyễn Ái Quốc. Từ đó, ông được giới thiệu với các lãnh tụ Xã Hội và CS Pháp như Léon Blum, Marcel Cachin v...v... Từ một tiểu trí thức, ông đã bước lên địa vị một cán bộ CS quốc tế, phụ trách vùng Đông Nam Á.


Trong khi các lãnh tụ CS Á Châu khác như Roy tại Ấn Độ hay Malaka tại Nam Dương đều bị thất sủng dưới bàn tay sắt của Staline vì họ có những tư tưởng hướng về chủ nghĩa Dân Tộc và chủ thuyết Hồi Giáo, thì Hồ Chí Minh vẫn một lòng một dạ chung thủy với Quốc Tế CS.


Dầu không có tư tưởng chính trị đặc sắc nhưng Hồ Chí Minh đã thành công trong việc:

Dùng ngụy trang dối trá (ngụy chủ nghĩa Dân Tộc);


Lấy giả nhân giả nghĩa (bằng các chiêu bài độc lập, tự do, hạnh phúc, đoàn kết, hòa giải, hòa hợp);

Để giành chính nghĩa (giải phóng dân tộc, giải phóng lao động);
Và cướp chính quyền (để không chia quyền với bất cứ ai)
.

L.S. Nguyễn Hữu Thống

http://www.vietnamexodus.org/vne/modules.php?name=News&file=article&sid=2080
*
***
*
http://www.huyenthoai.org/Van.html
TỔ CHỨC UNESCO KHÔNG VINH DANH HỒ CHÍ MINH

mercredi 27 juin 2007

Ðộc tài là chất độc

Ðộc tài là chất độc
Tuesday, June 26, 2007

Ngô Nhân Dụng

Mạng lưới Express ở Việt Nam đăng lại một bản tin hàng ngày theo báo Dân Trí. Một người lái xe “đi công tác” từ thành phố Vinh, Nghệ An, đi tới thị trấn Hưng Nguyên. Xe đang chạy thì gặp cảnh sát công lộ ngăn lại. Tài xế Tăng Hồng Hà đạp thắng, xe chưa kịp ngừng thì anh bị một viên đại úy “tổ tuần tra giao thông” dùng gậy đập vào đầu. Trán chảy máu, người chao đảo, phải đưa vào bệnh viện cấp cứu. Trưởng chi công an huyện Hưng Nguyên nhận là thuộc cấp đã làm sai, phải bị kiểm điểm. Nhưng viên đại úy thì không nhận tội, nói rằng anh chỉ đưa cây gậy lên làm dấu hiệu cho xe ngừng, vô tình gây thương tích. Ý nói: Người lái xe tự đập đầu vào cây gậy của cảnh sát! Có tin được không? Nếu ai tin lời ông Nguyễn Minh Triết nói rằng, nước Việt Nam có tự do dân chủ, thì mới tin anh đại úy cảnh sát này.

Tại sao một anh cảnh sát lưu thông lại hung dữ, đánh bể đầu người ta như vậy? Nếu hỏi ông Nguyễn Minh Triết, ông sẽ trả lời rằng, anh đại úy cảnh sát này “hành động theo ý riêng,” và một hành động như vậy chắc chắn “không phải là điều tốt.” Và ông Triết sẽ hứa chính phủ Việt Nam “sẽ có biện pháp thích hợp để xử lý.” Ông có thể còn nói thêm, “Ðây là một lỗi lầm của nhân viên thừa hành chứ chính sách của chính phủ không chủ trương làm như thế.”

Chúng ta có thể đoán ông Nguyễn Minh Triết sẽ nói vậy, vì đó là những lời ông nói khi giải thích về hành động một công an bịt miệng Linh Mục Nguyễn Văn Lý giữa phiên tòa ở Huế. Nhưng chúng tôi đề nghị ông Nguyễn Minh Triết đừng dùng biện pháp nào “xử lý” ông công an bịt miệng. Vì ông ta chỉ hành động một cách máy móc, theo phản ứng tự nhiên, không kịp suy nghĩ gì cả. Cả đời ông ta đã được huấn luyện để làm công việc đó. Bắt tội ông ta là oan! Còn viên đại úy cảnh sát tuần tra giao thông thì đáng phạt thật. Ðánh bể đầu người ta, không lẽ bỏ qua? Nhưng nếu định truy tố anh ta thì nên điều tra thật kỹ lưỡng. Hãy hỏi tại sao anh ta lại có hành động hung dữ đối với người dân như thế? Có phải cha mẹ anh dạy con như thế hay không? Hay là khi đến trường bị thầy, cô giáo đầu độc, sinh ra tính ác? Có phải anh bị bà xã cằn nhằn, sinh ra nóng nảy hay chăng? Hay là chính cái chế độ sử dụng những người như anh đã tạo nên thói quen coi thường sinh mạng người dân, tự coi họ có quyền hành hạ người dân một cách thản nhiên như vậy?

Những hành động của viên đại úy cảnh sát lưu thông hay viên công an bịt miệng người giữa tòa tuy xảy ra trong những hoàn cảnh khác nhau rất nhiều nhưng đều cùng diễn tả một tình trạng xã hội Việt Nam. Ðó là tình trạng một xã hội sống dưới chế độ độc tài quá lâu năm. Chế độ đó dựa trên guồng máy công an cảnh sát cho nên trao cho những giới chức này rất nhiều quyền hành. Tất cả các chế độ độc tài đều phải dựa trên guồng máy công an, mật vụ. Phải chia quyền lợi cho quý vị này, vì họ là những giường cột nâng đỡ chế độ, là lá chắn bảo vệ chế độ, là những người lính xung phong tấn công vũ bão khi có ai dám đứng lên chỉ trích, phê bình chế độ.

Những người cảnh sát, công an có hành động hung bạo chỉ là một triệu chứng dễ thấy nhất về tính chất cực độc của một nhà nước độc tài. Ðộc tài là một thứ chất độc. Nó độc hại vô cùng. Nó phải dùng bạo lực để bắt dân vâng lời, nếu không thì không người dân nào chịu sống làm nô lệ mãi. Khi vua quan chuyên dùng bạo lực để khép dân chúng trong vòng “ổn định” của nhà nước, thì cả xã hội cũng bắt chước theo. Cả xã hội sống trong bạo lực, sống bằng bạo lực. Quý vị có đọc những truyện ngắn và những vở kịch của Nguyễn Huy Thiệp thì hiểu. Tại sao trong đó có nhiều người hành động một cách tàn ác, bất nhân với những thái độ thản nhiên, hờ hững như vậy? Ở đâu mà có những bác sĩ chuyên phá thai ở bệnh viện để lấy xác phôi thai đem về nuôi lợn bán? Ở đâu có cảnh cô con chờ bố nằm ngủ thì cầm búa bổ lên đầu bố? Vì xã hội đã sống thản nhiên với tội ác như vậy từ lâu. Con đấu tố cha, vợ đấu tố chồng, học trò giết thầy. Tất cả các quy tắc “đạo đức cũ” xóa bỏ hết. Chỉ cần hết lòng trung thành với đảng, tuyệt đối theo đúng chính sách, thằng nọ tố cáo thằng kia làm sai lời lãnh tụ, đó là “đạo đức cách mạng” mà ông Hồ Chí Minh vẫn dạy đảng viên của ông.

Nhưng bạo lực riêng thôi chưa đủ độc hại. Những ông Bokassa, Idi Amin chuyên dùng bạo lực, ách độc tài không trụ được bao lâu. Những chế độ của Hitler, Pol Pot không phải chỉ dùng bạo lực. Họ còn một guồng máy tuyên truyền để kéo dài chế độ nữa. Nhà văn Aleksandr Solzhenitsyn viết trong bài diễn văn gửi cho Hàn Lâm Viện Thụy Ðiển, khi ông được trao giải Nobel về văn chương năm 1970, nhưng không được đi lãnh: “Chúng ta đừng quên rằng bạo lực không bao giờ đứng một mình, nó không bao giờ tồn tại được nếu đứng một mình. Nó phải liên kết với dối trá.”

Hai guồng máy đó dựa vào nhau mà sống. Solzhenitsyn giải thích thêm: “Bạo lực tìm thấy chỗ trú ẩn duy nhất của nó là gian dối. Sự dối trá tìm được bạo lực là chỗ nâng đỡ duy nhất. Bất cứ kẻ nào coi bạo lực là phương tiện thì cũng đều lấy gian dối làm quy tắc sống.”

Một người đã sống trong “trại học tập cải tạo” của Stalin nhiều năm, rồi phải sống trong một xã hội Liên Xô hơn nửa đời người, nghẹt thở dưới ách kiểm soát tinh vi của công an mật vụ và của guồng máy tuyên truyền ngụy tạo dối trá trâng tráo, cho nên Solzhenitsyn đã nhìn thấu mối tương quan giữa gian trá và bạo lực như thế. Ông Hồ Chí Minh đã học tập, giác ngộ và nhập cảng toàn thể hai bộ máy bạo lực và dối trá đó vào nước ta. Và đảng Cộng Sản Việt Nam bảo rằng họ đời đời biết ơn ông ấy.

Solzhenitsyn giải thích rằng, chế độ độc tài “không cần phải luôn luôn bóp cổ, xiết họng người ta.” Họ chỉ cần bắt người dân vâng theo những lời giả trá, chỉ cần đồng lõa với dối trá, như vậy là đủ “ổn định” xã hội rồi.

Nhưng khi người dân tập sống chung với sự giả trá cả một đời, người ta sẽ mất thói quen sống lương thiện. Trẻ em lớn lên trong xã hội như vậy, sẽ không phân biệt được thiện và ác. Hãy đọc năm lời dạy của Hồ Chí Minh dành cho nhi đồng. Có câu nào khuyên các em phải sống thật thà, phải kính yêu cha mẹ hay không? Ðó là những thứ “đạo đức cũ,” mà ông Hồ coi là “đứng ngược đầu” khi so sánh với đạo đức cách mạng của ông.

Cho nên một chế độ độc tài sẽ đầu độc cả xã hội. Một nhà văn châu Mỹ La tinh, Mario Vargas Llosa, cũng diễn tả ý đó. Ông nói, “Chế độ độc tài làm nhiễm độc tất cả những thứ mà nó nắm trong tay; từ các định chế chính trị cho tới mối tương quan giữa cha và con.” Những cuốn tiểu thuyết của Llosa mô tả xã hội nơi ông sống, trong những giai đoạn họ phải chịu đựng chế độ độc tài. Trước đây 20 năm, Llaso là một tiếng nói lẻ loi ở Peru, khi ông kêu gọi phải bảo vệ quyền tư hữu và tự do kinh doanh. Vị tổng thống thời đó, Alan Garcia nhất định theo Chủ Nghĩa Xã Hội, quyết định phải quốc hữu hóa các ngân hàng. Năm 1990 ông Llaso ra ứng cử tổng thống, nhưng may mắn thua ông Alberto Fujimori. Nhờ không trúng cử, Llaso tiếp tục viết, bây giờ ông nhất định chỉ làm một nhà văn để được nói sự thật. Bộ tiểu thuyết bốn cuốn “Trò Truyện Trong Giáo Ðường” của ông kể những câu chuyện về đời sống hàng ngày của những người dân bình thường. Ông muốn mô tả “cái chế độ độc tài nó không phải chỉ tự giới hạn trong việc kiểm soát sách báo hay cấm người dân không được sinh hoạt chính trị. Không! Chế độ độc tài nó tạo ra cả một hệ thống để thấm nhập vào tất cả mọi sinh hoạt trong đời sống con người.”

Ngày nay, ông tổng thống cũ Alan Garcia trở lại chấp chánh sau khi ông Fujimori bị tố cáo quá độc tài, bị lật đổ, phải sống lưu vong. Llaso nhận xét: “Bây giờ, ông Garcia đang cai trị lần nữa, nhưng chính ông Garcia ngày xưa đó lại đang là một người cổ vũ mạnh nhất cho một nền kinh tế tư bản ở Peru! Buồn cười không?”

Llosa đã sống lưu vong trong nhiều năm, và ông có dịp so sánh cuộc sống tự do khác với đời sống dưới chế độ độc tài. Trong một cuốn tiểu thuyết khác, “Bữa Tiệc Của Con Dê,” có đoạn ông viết về cái thú vui khi một người sống tự do. “Nó sướng lắm. Cái tách cà phê đó, hay cái ly rượu rum đó đều có vị ngon hơn, hít một hơi khói thuốc hay bơi trong đại dương giữa một ngày nóng bức, cái cuốn phim mình coi chiều Thứ Bảy hay điệu nhạc nghe trên radio, tất cả mọi thứ đem lại cho mình một thú vui êm ái trong thân thể và trong tinh thần, khi mình được hưởng cái thứ mà nhà độc tài Trujillo đã lấy mất của người dân Dominican trước đây 31 năm: tự do!”

Không cần nói nhiều, chúng ta hiểu được những điều mà Solzhenitsyn hay Llaso diễn tả. Một chế độ độc tài là một thứ chất độc. Nó xâm nhập cơ thể và đầu óc mọi người dân sống trong đó. Thử hít thở không khí tự do đi, người ta có thể cảm thấy sống dưới chế độ độc tài nó độc hại thế nào.

Anh đại úy cảnh sát giao thông đập vỡ đầu anh tài xế Tăng Hồng Hà, anh ấy hành động đúng theo thói quen của một người xưa nay vẫn được trao toàn quyền sinh sát trong phạm vi hoạt động của mình. Thằng nào ông bảo không vâng lời ngay thì ông đánh bỏ mẹ nó đi! Nền văn minh xã hội chủ nghĩa đã tạo nên thái độ và cung cách hành sử đó. Anh công an bóp miệng ông thầy tu cũng vậy. Anh phản ứng rất tự nhiên khi thấy người nằm trong bàn tay quản lý của mình bỗng dưng to tiếng. Ở một tòa án bình thường, một quốc gia bình thường, người cảnh sát sẽ chờ quan tòa đập chày và lên tiếng cảnh cáo, rồi ra lệnh đưa “bị cáo” ra khỏi tòa khi gây ồn ào. Nhưng Việt Nam không phải là một xã hội bình thường. Người dân đã sống trong chế độ độc tài hơn nửa thế kỷ, anh công an tự nhiên thấy công việc của mình là phải thò tay bị miệng! Anh ta không có ý định xấu. Cái chế độ bao trùm lên xã hội đã tạo cho anh lối phản ứng vũ phu và thiếu văn minh như vậy! Ông Nguyễn Minh Triết đừng có phạt anh ta. Hành động của anh là tiêu biểu cho cả chế độ Stalin nít mà ông Hồ Chí Minh đã đem từ Nga về nước ta. Có buộc tội ai, phải trở về từ ông Hồ.

Chất độc do một chế độ độc tài đem tiêm nhiễm vào trong xã hội chỉ được giải đi khi nào không còn chế độ độc tài đó nữa. Khi nào người dân được phép nói sự thật, nói thẳng, không lo tự kiểm duyệt; khi đó xã hội sẽ bắt đầu thay đổi. Người công an sẽ khác. Người cảnh sát giao thông cũng sẽ khác. Rồi trẻ em sẽ được học những nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Những giá trị tạo nên các xã hội an lành, lương thiện hơn. Chính vì biết như vậy cho nên những ông Hoàng Minh Chính, Nguyễn Văn Lý, Trịnh Vũ Bình, Nguyễn Văn Ðài, bà Lê Thị Công Nhân v.v... cứ mỏi miệng yêu dầu đảng cộng sản cho người dân Việt được sống tự do hơn.

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=61809&z=7

lundi 25 juin 2007

Người Cộng Sản trên cả tuyệt vời

Người Cộng Sản trên cả tuyệt vời

Hoàn Nguyên


Ối dzời ơi!!!

Cái bọn phản động ở khắp nơi trên thế giới, kể cả ở Việt Nam (VN) cứ đè ngửa đảng và Chủ tịch ra mà chửi rủa thậm tệ, nào là xấu xa, tham nhũng, v.v. và v.v. Bây gìờ hãy kể ra các thành công trên cả tuyệt vời của đảng để cho cả thế giới và bọn phản động sáng mắt.


Thành công trên phương diện truyền thông

Đất nước VN có khoảng 600 tờ báo chỉ làm có mỗi công việc giống hệt như 600 máy photocopy là đăng tin tức nào đảng chọn cho đăng. Chẳng hạn việc tổng thống (TT) Bush mời 4 tên phản động và khủng bố (theo định nghĩa của đảng) vào tòa Bạch Ốc bàn chuyện chống đảng thì 600 bộ máy photocopy đồng loạt cúp điện; chuyện các dân biểu Hoa Kỳ xoay chủ tịch Triết chóng mặt tại trụ sở quốc hội về tình trạng đàn áp dân chủ tại Việt Nam; chuyện W. Bush “nói rất rõ” về vấn đề nhân quyền khi tiếp Triết; chuyện Hoa Kỳ nghênh đón một nguyên thủ quốc gia mà chỉ Vụ trưởng Lễ Tân ra hướng dẫn vào gặp Bush tại toà Bạch Ốc, không đội quân danh dự, không được mời ở nhà khách của Chính phủ, không quốc yến (chỉ bữa lunch nhẹ nhàng), báo chí quốc tế đều loan tin, nhưng 600 tờ báo và TV của đảng cố tình lờ tịt!

Chính quyền ở các chế độ tự do dân chủ thua xa đảng và nhà nước cộng sản ta về điểm này. Bọn nó đâu dám làm truyền thông như đảng cộng sản (CS) anh hùng tiến bộ của ta trong nghành... bịt tai và che mắt!

Nếu cả nước ta chỉ cần có một tờ báo tự do, độc lập thôi cũng đã đủ chuyên chở hết điều đảng không muốn nói với nhân dân, biết thế nên đảng ta cấm ngặt!

Ngoài tin cáo phó được xem là trung thực của ngành truyền thông Việt Nam, còn mọi tin tức khác thì người dân cứ bảo là láo như vẹm (từ Vẹm này nghe đâu như hình thành từ chữ Việt Minh viết tắt VM, từ hồi còn mồ ma thực dân Pháp kìa). Cứ xem Vienamnet, Tuổi Trẻ, Thông Tấn Xã VN, Thanh Niên... nói về chuyến công du Hoa Kỳ của chủ tịch Triết là... thấy rõ như ban ngày.


Thành công trong giáo dục

Đảng đã có công biến nghành giáo dục thành nền giáo dục kinh tế thị trường mà không có quốc gia tự do dân chủ (cho dù dở hơi) nào làm nổi.

Kinh tế thị trường là thâu lợi nhuận nên từ mẫu giáo, nhà trẻ tiểu học đến đại học, nhân viên ngành giáo dục tha hồ bán đề thi và bán điểm, bán bằng cấp. Nếu không có tiền mua điểm mà có chút nhan sắc thì thầy sẵn sàng nhận “vốn tự có” của các em nữ sinh. Đảng lãnh đạo ngành giáo dục nước ta và sản xuất hàng loạt tiến sĩ giấy, giờ này ra ngõ còn gặp nhiều hơn là “anh hùng” thời chống Mỹ.

Không oan nếu nói rằng, giáo dục theo kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là theo định hướng móc (tiền) và... khai thác tối đa “vốn tự có” của các em nữ sinh!


Thành công trong ngoại giao

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết sang nước Mỹ để bàn chuyện làm ăn bang giao với Tổng Thống Mỹ mà phải đi cửa hậu vào tòa Bạch Ốc. Cha ông ta thường nói: Chỉ bọn ăn trộm mới khoái cửa sau. Ngài ớn cửa trước vì phía cửa trước đồng bào ta cầm cờ vàng, biểu tượng của cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản, biểu ngữ đòi dân chủ, nhân quyền, chào đón” tưng bừng. Mặc dù quốc hội của đảng ngài đã thông báo rằng, nhân dân trong nước đã đi bầu với tỉ lệ 99.65% để ủng hộ ngài và chính phủ của ngài, nhưng không thể qua mặt bà con được. Như một dân biểu nói, ngài chỉ là một Gangster của tập đoàn cộng sản mafia mà thôi!

Chắc ngài Chủ tịch không chỉ sợ bị chụp hình giữa rừng cờ vàng mà nếu bị phỏng vấn thì 100% chủ tịch sẽ biến thành chủ.. tịt, nên đành xài cửa sau cho tiện!

Nhờ đảng chỉ đạo những hành động đầy sáng tạo như bắt giam người vô tội và trí thức, đàn áp tôn giáo nên cộng đồng Âu Châu, Úc Châu và Mỹ Châu đều lên án Việt Nam vi phạm nhân quyền và chà đạp lên tự do ngôn luận. Đây là một "thành công" đáng nể của đảng vì đâu có quốc gia nào trên thế gìới ngoại trừ Miến Điện mà được cả 3 châu lục địa cùng xúm vào chửi đảng. Đâu dễ gì cùng lúc được nghe cả thế giới chửi?

Hình như chỉ duy nhất chỉ có lãnh đạo nhà nước của đảng CS VN ta khi ra nước ngoài thì các họ sợ gặp bà con đồng hương của nước mình như sợ cọp. Không hiểu đảng đã ăn ở như thế nào mà "khúc ruột ngàn dặm "cứ chờ lúc nào các lãnh đạo đảng ló dạng là tập trung để chửi cho thỏa thuê, chửi cho tốc nóc nhà và chửi cho các lãnh đạo phải chuồn êm bằng cửa hậu. Đảng đúng là number one (nằm-bờ-oan)!

Không biết các vị chủ nhân ngoại quốc nghĩ sao về nỗi nhục nhằn, khốn khổ này của đảng ta?


Thành công trong kinh tế

Từ ngày đảng nắm chính quyền toàn nước VN thì ngành kinh tế xuất cảng (mà đúng nghĩa là bán) gái tơ có lẽ phát triển vượt chỉ tiêu. Các cô gái trẻ đẹp còn trinh tiết mà chỉ bán được giá 250-300 đô la. Đảng đã có công thúc đẩy hạ giá thành gái tơ để cạnh tranh giữa các tỉnh thành trong nước và thu được một số ngoại tệ từ khách (của làng chơi hoặc những tay nông dân đui què mẻ sứt, già cọp ế vợ của Đài Loan, Đại Hàn). Đảng nói rằng, hàng rẻ là do có quá nhiều người tự ý muốn bán (trinh), chứ nhà nước không can thiệp vào chuyện riêng, với lại kinh tế thị trường theo định hướng... xả rác thoải mái thì có gì mà thắc mắc! Vì thế cái vụ hai thằng cha Đại Hàn bắt mấy chục cô gái khoả thân, đi vòng quanh xăm xét như những món hàng là chuyện nhỏ. Ở các nước dân chủ, hai gã Sở Khanh này ra hầu toà, nằm bóc lịch nhiều năm về tội xúc phạm nhân phẩm phụ nữ là cái chắc!

Nghĩ cho cùng, đảng cũng đã có nhiều tiên phong dẫn lối đưa đường rồi nên cơ sự mới như thế! Ví dụ, Lương Quốc Dũng ở Tổng Cục Thể Thao dụ gái 13 tuổi, hay thứ trưởng giao thông Nguyễn Việt Tiến (một trong những đại nhân của vụ án PMU 18) uống rượu, ôm ẩu vợ người ta, bị chồng cự nự, không xin lỗi lại còn cho ông chồng ăn đấm gãy cả răng, rồi để êm chuyện vừa dùng quyền lực, quen biết đe đoạ vừa bỏ ra mấy chục ngàn đô dàn xếp...

Song song, xuất khẩu lao động gia tăng kỷ lục trong lịch sử 4.000 năm, chưa có triều đại nào làm nổi. Nói là xuất khuẩu lao động, nhưng thực tế người VN đi ở đợ và làm lao nô trong những điều kiện hết sức khắc nghiệt cho các ông chủ tư bản mà lẽ ra đảng phải “đào mồ chôn” chúng nó theo đúng học thuyết Marx-Lenine mà đảng đang hô khẩu hiệu.

Ngày xưa bọn tư bản đế quốc phải chiến đấu đến mất mạng ở VN để mong chinh phục dân Việt, được dân Việt phục vụ, chiếm đoạt tài nguyên của đất nước như đảng vẫn rao giảng.

Ngày nay bọn đế quốc cứ khểnh chân nằm nhà, đảng ta đưa người trực tiếp đến phục vụ, nhanh, nhiều, tốt, rẻ, tiến bộ vượt bực.

Mỗi năm ước tính trung bình có vài trăm ngàn cô gái Việt bị đảng cấu kết (phó mặc, làm ngơ, không phải cấu kết ăn chia thì là cái gì?) với tú bà và ma cô, đem bán khắp thế giới. Rất nhiều gái VN làm đĩ ở Cambodia. Thương tủi cho số phận bất hạnh của con Rồng cháu Tiên!

Không có tập đoàn tư bản nào mà tài ba đến độ chỉ ngồi không mà mỗi năm thu được 3-5 tỷ Mỹ kim tiền tươi, không hoàn lại từ người Việt hải ngoại. Ôi đúng là kinh tế thị trường theo định hướng xã hội... ăn xin. Số tiền này gần tương đương 1/10 tổng thu nhập quốc dân. Trong bụng thì mừng rơn với “khúc ruột ngàn dặm”, “máu của máu Việt Nam” nhưng cái mồm vẫn cứ leo lẻo về cái bọn Việt gian, phản động mỗi khi họ đụng tới dân chủ, nhân quyền, tức là đụng tới cái ghế của đảng...

Kinh tế nước ta được đảng dẫn dắt từ thời tiến nhanh tiến mạnh lên xã hội chủ nghĩa, tức là tiến đến... thời kỳ tiền sử của chủ nghĩa tư bản khi nguời bóc lột người.


Thành công trong bầu cử

Dưới sự lãnh đạo của đảng độc tài và kìm kẹp nên nhân dân đi bầu quốc hội luôn luôn đạt tỉ lệ 99.65%. Có lẽ 0.35% lcòn lại đang bị đảng cầm tù vì kêu gọi tẩy chay bầu cử? Thật là một kết quả trên cả tuyệt vời mà không có một quốc gia thứ hai nào làm được. Nếu có chút liêm sỉ thì không ai có thể nói láo trơ trẽn đến mức đó. Đảng trơ trẽn số một.


Thành công trong ngành Tư Pháp

Vụ tham nhũng PMU 18 cho đến nay đã hai năm mà chưa xong vì Bùi Tiến Dũng và các quan chức khác núp sau cây cổ thụ là Nông Đức Mạnh. Bứt giây động rừng mà!

Ông Linh Mục Lý và các nhà đấu tranh dân chủ thì bị đưa ra toà xử nhanh như chớp. Ngành tư pháp của đảng ta đã được nổi tiếng khắp hoàn vũ do bịt miệng Linh Mục Lý trước tòa án, cho cả thế giới coi chơi, rồi chửi. Đảng CS đã có công rất lớn trong việc phát huy danh tiếng của “Ngành Tư pháp Bịt Miệng” tuyệt hảo, có một không hai trong thế kỷ XXI ngày nay!


Thành công trong ngành Lập Pháp

Đảng đã vượt chỉ tiêu khi chỉ có một thành viên quốc hội không do đảng chỉ định mà trúng tuyển vào “quốc hội nhân dân”, mấy trăm nghị viên còn lại đều do đảng nặn ra. Các đảng viên trong quốc hội được tập luyện môn thể thao gật đầu nên đã thành các lực sĩ gật. Cả cái quốc hội gật gật và gật gật chỉ tốn tiền thuế của dân. Đảng đã làm vang danh bịp và chuyên sản xuất luật (rừng) cho ngành lập pháp. Luật pháp và hiến pháp của đảng lúc nào cũng chửi nhau chí choé vì được phát sinh từ các lực sĩ gật. Nhìn buổi họp quốc hội giống như đoàn quân diễn hành khi cái động tác gật thật nhịp nhàng theo nhịp nói của đảng.


Kết

Trên thế giới có quốc gia thứ hai nào thành công trên cả tuyệt vời ở mọi lãnh vực như đảng ta. Từ bán gái tơ vượt chỉ tiêu với giá rẻ; 99.65% nhân dân đi bầu quốc hội; chủ tịch nước Cộng Hòa XHCNVN độc lập-tự do-hạnh phúc đi thăm chính thức Hoa Kỳ, vươn "ra biển lớn" bằng... cửa hậu của Toà Bạch Ốc; chủ tịch khi gặp kiều bào thì biến thành chủ.. tịt và sợ kiều bào như sợ cọp; chủ tịch đi ra nước ngoài mà nhìn quanh tuyệt nhiên chẳng tìm được một đồng chí nhân dân nào cầm quốc kỳ đỏ sao vàng ra đón tiếp... v.v.

Nhìn cung cách đón tiếp của chủ nhà và các cuộc biểu tình hàng ngàn người ở Washington DC, Dana Point (California) thì ngài chủ tịch nếu còn biết suy nghĩ như một con người, hãy vắt tay lên trán xem ngài đang đại diện cho ai! Không ai bầu các ngài cả. Các ngài “cướp chính quyền” rồi tự tôn nhau, giữ chặt độc quyền cai trị trong một phe đảng mafia chỉ chiếm 3% trên số dân 84 triệu! Các ngài không phải là đại diện chân chính của nhân dân và dân tộc Việt Nam.

Cứ thử đưa Linh Mục Lý hay Luật sư Nguyễn Văn Đài hoặc Luật sư Lê Thị Công Nhân qua Mỹ thì xem đồng bào ở đây sẽ đón tiếp nồng ấm ra sao!

Oái ăm thay, những người như vậy thì ngồi tù và còn đội quân giả nhân, giả nghĩa thì chia nhau vác mặt ăn xin đi khắp nơi.

Cứ cộng hết tất cả các thành công trên cả tuyệt vời của đảng lại thì chúng ta sẽ thấy một tác phẩm tuyệt tác của cái tập thể láo khoét, bịp bợm đang ở trong bộ chính trị đảng CSVN.


© DCVOnline

http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=3509
*
***
*
Ý kiến Bạn đọc (DCVOnline không chịu trách nhiệm về nội dung của những ý kiến đóng góp từ bạn đọc)

Người Cộng Sản ăn chơi trên xương máu của nhân dân 2007-06-25 01:48:47
xuanthuHỡi đồng bào, "khúc xương giọt máu của ta ơi"! Chủ tịt Triết quảng bá Việt Nam bằng cách giới thiệu với quốc khách rằng Việt Nam ta "có nhiều cô gái xinh đẹp". Nhiều người tỏ ra bất bình và buồn cười với cách gợi ý kiểu như thế từ miệng của một quốc gia nguyên thủ.
Không biết cung cách của chủ tịt Chết như thế nào khi phát biểu câu này mà lại có nhiều người bất bình nhỉ? Triết advertised Vietnam: "Tourists, please come to Vietnam to see the Vietnamese ladies are very charming in their long dresses..." http://www.youtube.com/watch?v=Se5toEsmmuc http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2007/06/070621_incidentasiasociety.shtml

Biên giới nước VN ở đâu ???

Biên giới nước VN ở đâu ???
Nước Việt hình Chữ S... nhưng biên giới “Nước” ấy tới đâu? V H San
http://www.doi-thoai.com/baimoi0607_254.html

Biên giới nước VN ở đâu ???

dimanche 24 juin 2007

Slides show Ho Chi Minh 1

Slides show Ho Chi Minh

Bác Hồ và một số người vợ, người tình, đơn xin học trường thuộc địa Pháp (để ra làm quan), công hàm dâng lãnh hải - hải đảo VN cho TQ



*
***
*



*
***
*



*
***
*

samedi 23 juin 2007

Thêm vài nét về HCM

Thêm vài nét về HCM

Sinh ra trong một gia đình nhà Nho. Ngày, tháng, năm sinh đều không rõ vì có nhiều niên hiệu khác nhau. Tên khai sinh là Nguyễn Tất Thành. Thân phụ là phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, đang làm quan cho chính phủ Nam triều bị cách chức vì say rượu đánh chết người. Thiếu phương tiện sinh sống, Nguyễn Tất Thành xuống tầu Latouche - Tréville làm phụ bếp kiếm kế sinh nhai, nhờ đó được chu du thế giới. Đến Marseilles, anh Thành nộp đơn xin vào trường Thuộc Địa của Pháp nhưng bị từ chối. Anh tiếp tục làm bồi tàu, thuỷ thủ để kiếm sống do đó từng qua cả Mỹ lẫn Anh. Thời gian ở Anh không được rõ anh ở đâu làm gì. Năm 1917, Thành trở lại Pháp, tiếp xúc với những nhà ái quốc tên tuổi như Nguyễn Thế Truyền, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, nhất là nhà cách mạng Phan Chu Trinh, bạn học cũ của thân phụ anh và được mang tên chung Nguyễn Ái Quốc cùng với các nhân vật này để hoạt động tuyên truyền vận động cho phong trào yêu nước tại Pháp.

Năm 1919 Thành gia nhập đảng xã hội Pháp là một đảng Mác-xít có đường lối đấu tranh tương đối ôn hòa. Anh say mê nghiên cứu học thuyết Marx. Đại tác phẩm Tư Bản Luận là sách gối đầu giường của anh (Sainteny).

Anh cũng theo dõi các biến chuyển trong phong trào Mácxít và tìm đến Lênin vì ông này đã lãnh đạo thành công cách mạng tháng mười.

Cuối năm 1920 dự hội Tours của đảng xã hội, trong đó đảng chia làm hai và anh theo phe ủng hộ QT3 của Lênin tham gia thành lập đảng CS Pháp.

Lúc ấy Manuilski, đồ đệ của Lênin từng lưu vong ở Pháp từ 1905, đang có ảnh hưởng lớn trong đảng CS Pháp, tiếp xúc với Thành mà ông ta chỉ biết dưới tên chung Nguyễn Ái Quốc. Manuilski lợi dụng Quốc để quảng bá chủ trương sách lược mới của Lênin: khai thác lòng yêu nước của nhân dân các nước bị trị để đánh đổ các đế quốc thực dân, làm suy yếu chế độ Tư Bản. Thành cũng lợi dụng Manuilski để có dịp gặp Lênin và các cán bộ cao cấp QTCS. Với sự thông minh và tài ngoại giao anh đã toại nguyện. Anh được được đi dự các hội nghị lớn của QT3, được cử vào ủy ban trung ương QT Nông Dân. Rồi vào trung ương Ủy Ban Tuyên Truyền Quốc Tế.

Cuối năm 1924, Manuilski cử Quốc sang Trung Hoa làm phụ tá và thông dịch viên cho Mikael Borodin, trưởng đoàn cố vấn Liên Xô cạnh chính phủ Quốc Dân Đảng Tôn Dật Tiên. Thực ra, đó chỉ là bình phong, vì Quốc được QT3 trao nhiệm vụ Tuyên Truyền chủ nghĩa CS và lập các chi bộ CS tại Đông Nam Á. Quốc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nên được cử đại diện cho QT3 lo hợp nhất 3 đảng CS ở Đông Dương ngày 3-2-1930.

Bị nhà cầm quyền Anh bắt ở Hương Cảng vì tình nghi hoạt động Cộng Sản, bị giam rồi được thả (nhờ QT3 can thiệp cử luật sư người Anh có khuynh hướng thiên tả bào chữa), sau đó bị gọi về Mạc Tư Khoa tái huấn luyện và học 3 năm tại trường cao cấp Lênin.

Trong đại hội VII (1935), theo tình hình Liên Xô muốn đấu dịu với các nước Tư bản Tây Phương, Đảng CS Đông Dương được lệnh Mac Tư Khoa đổi hướng đấu tranh đòi tự do dân chủ theo chân đảng Cộng Sản Pháp với Mặt Trận Bình Dân.

Năm 1938, Quốc được phái trở lại Trung Quốc chuẩn bị cho cuộc hợp tác Quốc - Cộng của nước này vào năm sau, khi thế chiến II bùng nổ.

Được trang bị đầy đủ về lý thuyết, chiến lược sách lược đấu tranh của Lênin, nhất là được rèn luyện kỹ hơn về tình báo gián điệp và tuyên truyền, Quốc trở lại hoạt động ở Hoa Nam. Ông đã thành công trong việc xâm nhập, thao túng và chiếm danh của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, lũng đoạn chính phủ lâm thời của Trương Bội Công, thao túng Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội của Nguyễn Hải Thần. Hai tổ chức này đều đã tiếp nhận Quốc và bị ông phản, vì mục đích của ông là gia nhập để “biến chúng thành tổ chức của mình” thể hiện đúng kỹ thuật đấu tranh theo sách lược liên minh giai đoạn của Lênin.

Năm 1942 Nguyễn Ái Quốc đổi tên là Hồ Chí Minh, nhận sự giúp đỡ của tướng Trương Phát Khuê của THDQ và những người Mỹ trong tổ chức OSS, tiền thân của CIA. Để đổi lại, ông hứa cung cấp những tin tức về hoạt động của quân Nhật tại Việt Nam.

Với uy tín hội Việt Minh của Hồ Học Lãm và tài tổ chức của một cán bộ QTCS lão luyện, Hồ Chí Minh nhân danh hội này, lập nên Mặt Trận Việt Minh ngày 19-5-1941 tại hang Pác Bó tỉnh Cao Bằng, quy tụ đồng bào trong nước tiến hành cuộc Cách Mạng Tháng Tám thành công, lập nên chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Dần dần các cá nhân đoàn thể yêu nước từng ủng hộ ông nhưng không tán thành đường lối CS đều bị ông loại khỏi Việt Minh. Từ đó Việt Minh coi như đồng nghĩa với CS nên ông lập ra mặt trận Liên Việt để quy tụ những nguời không tán thành đường lối của Việt Minh. Với mặt trận này, Hồ Chí Minh tiến hành chiến tranh chống Pháp.

Nhưng lúc ấy có nhiều dấu hiệu cho thấy dân chúng đã nhận ra tính chất CS của Hồ Chí Minh và các nước Đồng Minh cũng không còn ủng hộ. Tình thế càng nguy ngập hơn do những tổn thất nặng về quân sự sau những trận đánh lớn ở vùng Việt Bắc trong năm 1947.

Ông bèn ngồi viết kiệt tác tuyên truyền dưới bút hiệu Trần Dân Tiên, tự mô tả mình như một nhà ái quốc chân chính được nhân dân gọi là “Cha Già Dân Tộc” với những đức tính dễ thương, lòng nhân ái vô hạn. Ông cho dịch gấp ra tiếng Pháp, gửi sang Ngưỡng Quang, Miến Điện để dịch ra tiếng Anh và nhiều thứ tiếng khác. Cán bộ Cộng Sản khắp nơi dựa theo đó tô vẽ, tạo ra các huyền thoại biến ông thành vị thần bí ẩn và một số nhà báo, học giả ngoại quốc cũng theo đó ca tụng ông là “Cha già dân tộc”, là nhà ái quốc. Nhân danh “cha già dân tộc”, Hồ Chí Minh lôi cuốn, xô đẩy nhân dân vào vòng lửa đạn để nắm vững quyền lực và gây thanh thế.

Áp dụng chiến thuật Mao Trạch Đông và tự đặt dưới sự chỉ đạo của các tướng Trung Cộng Trần Canh, Vi Quốc Thanh, ông đánh thắng Pháp tại Điện Biên Phủ, chiếm được nửa nước, từ vĩ tuyến 17 trở ra.

Lập tức, ông cho tiến hành Cải Cách Ruộng Đất và Hợp Tác Hóa nông, công, thương nghiệp theo mô hình các nước cộng sản đàn anh. Trong CCRĐ nửa triệu dân đã bị hành quyết vì “tội sở hữu một số tư điền”, và bị những tòa án nhân dân do ông chỉ thị cho dựng lên kết án họ là địa chủ, cường hào ác bá. CCRĐ coi như thất bại, ông cử đàn em thân tín là Võ Nguyên Giáp xin lỗi nhân dân, mở ra chiến dịch “sửa sai” để làm cái bẫy bắt gọn những ai ra mặt phê bình “Bác” và đảng.

Kế hoạch kinh tế chỉ huy thất bại khiến kinh tế miền Bắc suy sụp. Năm 1959, ông đưa cán binh xâm nhập miền Nam, mở con đường mòn xuyên lãnh thổ Ai Lao mang tên HCM chuyển quân và vũ khí vào Nam, thi hành chính sách “chiếu cố miền Nam”. Cán bộ “nằm vùng” được lệnh ám sát, bắc cóc, thủ tiêu các viên chức chính quyền Miền Nam tại các thôn xã.

Quốc hội miền Nam đối phó bằng cách ban hành luật 10/59 đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật. Trong khi miền Nam dùng luật pháp để tự vệ, thì ông Hồ và đảng cộng sản khủng bố phá hoại miền Nam bằng mọi cách phi pháp. Cuối năm 1960 ông cho lập “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam” do các cán bộ cộng sản nằm vùng đứng sau điều động đẩy mạnh hơn nữa các hành động phá hoại khủng bố.

Sau khi tổng thống Ngô Đình Diệm tại miền Nam bị giết, Hồ Chí Minh theo lệnh Trung Cộng tiến hành một kế hoạch đại quy mô tiến chiếm miền Nam trong lúc hỗn loạn. Nhưng Mỹ đã can thiệp để cố giữ miền Nam thêm 10 năm nữa. Đầu năm 1968, mặc dầu đã gần 80 và đang dưỡng bệnh tại Trung Quốc, ông Hồ vẫn tích cực chỉ đạo và thường xuyên theo dõi cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân là trận đánh quyết liệt đẩy gần năm chục ngàn cán binh cộng sản vào chỗ chết.

Hơn năm sau ông cũng chết vào ngày 2-9-1969, nhằm đúng ngày “quốc khánh” của ông.

Minh Võ

http://diendan.datviet.com/forum/showthread.php?t=147956

jeudi 21 juin 2007

Bức hinh biết nói

:: Thông Tấn Xã Công Giáo Việt Nam ::
Chùa Đại Nam Quốc Tự ở Bình Dương. Hồ Chí Minh được thờ trong Đại Nam Quốc Tự. b) Tư tưởng Hồ Chí Minh Chúng ta có thể khẳng định mà không sợ sai lầm rằng ...vietcatholic.net/News/Html/44444.htm

HCM và Đại Nam quốc tự và khách sạn 5.000 phòng

Thứ Bảy, 10/02/2007, 11:30 (GMT+7)

Đại Nam quốc tự và khách sạn 5.000 phòng


Bàn thờ chính trong Đại Nam Quốc Tự.



TTCT - “Đại Nam thế giới du lịch” là một công trình du lịch có qui mô lớn bậc nhất VN với tổng vốn đầu tư 3.000 tỉ đồng đang được xây dựng trên diện tích 450ha tại Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.


Đền thờ Đại Nam quốc tự trong khu du lịch này đã hoàn chỉnh, đó là một công trình kiến trúc cổ có diện tích 5.000m2 với chất liệu chính là gỗ, đá và công nghệ mạ vàng. Nơi đây những trang sử vàng của VN được tái hiện một cách công phu, tỉ mỉ.

Chính điện gồm ba tầng thờ tượng đức Phật, vua Hùng Vương và Chủ tịch Hồ Chí Minh, tất cả đều được mạ vàng 24K. Hai bên là cặp nến rồng, phượng, mỗi cây đúc nặng 1,8 tấn sáp. Dưới chính điện là điểm vọng âm, đứng ngay vị trí này nói không cần micro cả đền đều có thể nghe được. Mỗi du khách VN vào đền đều tìm thấy mình qua bảng thờ 54 dân tộc anh em và hơn 2.000 dòng họ của các dân tộc VN.

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=179640
Các cánh cửa đền là những câu chuyện lịch sử mạ vàng. Mỗi ô cửa là một câu chuyện. Cả thảy 28 câu chuyện lịch sử từ thời vua Hùng dựng nước được thể hiện bằng phù điêu. Mặt ngoài cửa là những câu chuyện tương truyền trong dân gian được chạm khắc trên gỗ. Hai bên hông đền đặt hai bức tượng Thánh Gióng và Lý Thường Kiệt trong tư thế phi ngựa chồm lên. Trên bức tường bao quanh ngôi đền, những hình ảnh về đồng bào các dân tộc VN cũng được khắc họa dưới dạng phù điêu.

Bức trường thành dài 13km ôm lấy khu du lịch này hiện đang được xây dựng. Điều thú vị là chạy suốt chiều dài bên dưới trường thành sẽ là 5.000 phòng nghỉ. Nếu đúng thế thì có lẽ đây là khách sạn được ghi vào kỷ lục về chiều dài của thế giới. Trong đó có 1.000 phòng được thiết kế theo kiểu cung điện với giá 5-200 USD/phòng/đêm, 4.000 phòng còn lại có giá 5-30 USD/phòng/đêm.

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=179641
Một lô hạng mục khác để du khách có thể ở lại chơi trong khu du lịch này hai ngày liền như biển nhân tạo, khu trò chơi hiện đại, mê cung thần tiên với ba phương tiện đi bộ, xe và thuyền, vườn thú thiên nhiên, VN thu nhỏ, thế giới thu nhỏ, làng văn hóa, làng nghề, làng ẩm thực VN, phòng chiếu phim 3D, 4D phục vụ học sinh... Bên cạnh đó là các hoạt động, trò chơi tìm hiểu về lịch sử đất nước con người VN.

Theo kế hoạch của những người đầu tư, khu du lịch này sẽ mở cửa đón khách vào ngày 2-9-2007.

TỐ OANH
http://www.tuoitre.com.vn/
---
- http://www.vnn.vn/chinhtri/doinoi/2006/03/551563/
- .: Hướng Dương - Hồ Chí Minh Đến Chết Vẫn làm tội :Vô Thần nhưng ...
Ngôi chùa tự phong tên Đại Nam Quốc Tự khánh thành ngày 18/3 và được ngụy trang dưới hình thức "đại lễ cầu siêu cho toàn bộ người dân Việt Nam đã khuất từ ...www.huongduong.com.au/article_1721.html?PHPSESSID=4d5
- SO DU LICH TP. HO CHI MINH
Trang chủ > Thông tin >Thông tin cần biết > Bình Dương: Đại Nam quốc tự và khách sạn 5.000 ... Đền thờ Đại Nam quốc tự trong khu du lịch này đã hoàn chỉnh, ...tourism.hochiminhcity.gov.vn/thongtin/tintuc_action.php?detail_news_id=780&news_id=1&current_page=4
- Đại Nam quốc tự và khách sạn 5.000 phòng - + + +.: TTO :.+ + + ++ ...
Courant Vietnam - nha san xuat va nhap khau: Ong cach dien ruot ga Courant, ong nuoc Courant, he thong tuoi tu dong tiet kiem nuoc Courant., Tin tuc tu dong ...www.courant.com.vn/component/option,com_onboom-news-tuoitre/Itemid,113/ArticleID,186536/ChannelID,100/
- .: Hướng Dương - Tài liệu :.
Ngôi chùa tự phong tên Đại Nam Quốc Tự khánh thành ngày 18/3 và được ngụy trang dưới (...) • 17/05/2007 - MẠNG LƯỚI NHÂN QUYỀN VIỆT NAM HỌP ĐẠI HỘI, ...www.huongduong.com.au/section_6.html?PHPSESSID=4d5
- Dan Viet
Ngôi chùa tự phong tên Đại Nam Quốc Tự khánh thành ngày 18/3 và được ngụy .... Họ cũng tin rằng ngôi chùa tự xưng Đại Nam Quốc Tự này là một kiểu “rửa tiền ...www.danviet.com.au/news/wmview.php?ArtID=1264
- ykien - :
Còn một điều tối quan trọng mà con rất đau lòng và rất nhiều phật tử cũng rất đau lòng như con, khi nhìn thấy trong ngày lễ khánh thành chùa Đại Nam Quốc Tự ...www.ykien.net/chanhdat01.html
- PTDCVN Tin tức Phát triển tư duy giáo dục trong thế giới trẻ ...
... khu non nước hoàng tránh vô dụng cho tương lai bọn trẻ như "đền thờ đất nước, nửa đền nửa chùa " nhập nhằng lấy tên là “Đại Nam quốc tự !" ở Bỉnh Dương. ...www.ptdcvn.org/modules.php?name=News&file=article&sid=1073
- Use the form below to search for- !
ĐẠI NAM QUỐC TỰ HAY HỒ CHÍ MINH QUỐC TỰ ?????????? CHÚNG TA ĐẾN CHUÀ LỄ PHẬT HAY LỄ HỒ CHÍ MINH????????????????????????? ÔI THÔI VUA HÙNG VÀ CÁC BẬC THÁNH ...www.thaoluanphatphap.net/dainamquoctu.html
- Tieng Noi Tu Do Dan Chu Cho Viet Nam - Trần Khải: Dựng đền thờ ông Hồ
Nghĩa là, lần này, nhà nước CSVN sẽ mở một khu du lịch quốc tế thượng hạng, để mời du khách quốc tế tới Bình Dương, xem đền thờ Đại Nam Quốc Tự khổng lồ, ...tiengnoitudodanchu.org/vn/modules.php?name=News&file=print&sid=3981
- Giaitri24.vn - Khu vui chơi Đại Nam
Đại Nam quốc tự trong khu vui chơi Đại Nam, được xây dựng trên diện tích 5.000m2, theo lối kiến trúc cổ, bao quanh nó là sông Bảo Giang, dài 720m. Ảnh: AQ ...www.giaitri24.vn/News/diemden/dulich/2007/05/9814.aspx
- Thu Vien Hoa Sen !
Hành ngàn ngọn nến được thắp sáng tại Đại Nam Quốc Tự. ... Toà nhà Đại Nam Quốc Tự, với mái ngói cong vút theo kiến trúc thời nhà Lý, phủ hai màu xanh, ...www.thuvienhoasen.org/dailecausieuchotoandanviet.htm

- :: Thông Tấn Xã Công Giáo Việt Nam :: !!!!!
Chùa Đại Nam Quốc Tự ở Bình Dương. Hồ Chí Minh được thờ trong Đại Nam Quốc Tự. b) Tư tưởng Hồ Chí Minh Chúng ta có thể khẳng định mà không sợ sai lầm rằng ...vietcatholic.net/News/Html/44444.htm

Hồ Chí Minh không có công mà nặng tội với nước - NTB

Hồ Chí Minh không có công mà nặng tội với nước - NTB
Nguyễn Tường Bá Tác gỉa không giử bản quyền. Yêu cầu phổ biến rộng rải

Hồ Chí Minh không có công mà nặng tội với nước, với tất cả các đảng khác, với tất cả tôn giáo, làm thụt lùi nhiều thế kỷ, về mặt nhân quyền văn hóa xã hội, vĩnh viễn lỡ nhiều dịp phát triển Việt Nam thế kỷ vừa qua và hậu quả vẫn đè nặng ngày nay.

Ðể đừng hiểu sai viết lầm về Hồ Chí Minh, trước tiên người ta cần biết 3 điều căn bản tổng quát:
Thế Chiến Hai Và Chiến Tranh Lạnh, Lực Lượng Khởi Đầu Của Việt Minh Cộng Sản và Huyền Thoại Hồ Chí Minh.

Thế Chiến Hai Và Chiến Tranh Lạnh

Tại Âu Châu, Quân Quốc Xã Ðức xâm chiếm các nước có thuộc địa: Pháp, Hòa Lan, Bỉ và tàn phá Anh Quốc. Tại Á Châu. Quân phiệt Nhật đánh tan các thế lực thuộc địa tại Hồng Kông, Ðông Dương, Phi Luật Tân, Miến Diện, Mã Lai, Singapore, v. v…trước khi thua trận, Nhật đã trả độc lập cho các nước Ðông Nam Á. Hai thế lực mạnh: Mỹ và Nga đối nghịch trong chiến tranh lạnh cổ võ và chủ trương trao độc lập trên thế giới. Nhờ vậy, phong trào độc lập thành tất nhiên. Nhiều nước độc lập dễ dàng như Ấn Ðộ (1946) Phi Luật Tân (1946) Nam Dương (1949) Mã Lai, Miến Ðiện (1947) Nam Bắc Hàn (1945) Có nước còn không muốn độc lập như Djibouti, Trung Hoa dưới Tưởng cũng như Mao đều không thấy ích lợi đòi Hồng Kông Ma Cao trước thời hạn.

Riêng tại Việt Nam, một ngày sau khi diệt quân đội Pháp (6-3-45) quân Nhật đã trả (nói cho đúng là “cưỡng bách”) Việt Nam độc lập và chính phủ Trần Trọng Kim cũng là chính phủ Việt Nam độc lập đầu tiên kể từ khi bị Pháp xâm chiếm và các con tem bưu điện hồi đó là chứng minh cụ thể theo thế giới sử. Lực Lượng Khởi Đầu Của Việt Minh Cộng Sản Sở Công Tác Chiến Lược Hoa Kỳ (O. S. S) nay là C. I. A, đã giúp Việt Minh Cộng Sản năm 1944-1945: 5000 (năm ngàn) vũ khí với đạn dược cho số vũ khí đó, huấn luyện tại chiến khu cho bộ đội Việt Minh và danh nghĩa quân đội đồng minh (Sedgwick Tourison, Archimedes L. A. Patti).

Ðó là lực lượng tuyệt đối thời điểm 1945 vì chính phủ Trần Trọng Kim cầm quyền chỉ chú trọng về giáo dục, cứu đói, không chú trọng về quân sự, chỉ có lính khố đỏ mỗi nơi vài chục người võ trang súng bắn viên một của Pháp đã cổ, không có súng lục (chỉ Hoa Kỳ, Pháp mới có) mà súng nầy lại cần trong chiến tranh khủng bố. Khi quân Việt Minh cướp được chính quyền xong họ mới đi tìm Hồ Chí Minh đang lang thang trong rừng vài ngày sau mới gặp (Nguyễn Hưũ Ðang, Nhân Văn Giai Phẩm). Sau vài ngày Việt Minh đảo chính tại Hà Nội, Lê Khang Đỗ Ðình Ðạo và mươi đảng viên Việt Nam Quốc Dân Ðảng (VNQDD) với vài khẩu súng săn của đồn điền Đỗ Ðình Ðạo cũng đã cướp được chính quyền ở Vĩnh Yên. [ Hoàng Văn Ðào] cũng vì sợ lực lượng mạnh tuyệt đối của Việt Minh mà vua Bảo Ðại thoái vị và chính phủ Trần Trọng Kim không dám chống cự mặc dầu quân Nhật đề nghị sẵn sàng dẹp loạn (Trần Trọng Kim, Nguyễn Xuân Chữ).

Huyền Thoại Hồ Chí Minh

Ở trong nước, Huyền Thoại Hồ Chí Minh được dàn dựng theo kiểu mẫu lãnh tụ Nga Tàu, quy mô và độc đoán, coi Hồ Chí Minh như thánh, đạo đức anh minh. Tuy nhiên huyền thọai ở Việt Nam được đẩy xa hơn, thêm nhiều gian dối trắng trợn và rẻ tiền.

Thí dụ: Hồ Chí Minh không vợ, sống độc thân. Mặc dầu không hoang dâm như Mao Trạch Ðông, nhưng Hồ Chí Minh rõ rệt nhiều vợ hơn Mao. Ðủ mọi giống: Trung Hoa, Việt, dân tộc thiểu số, da trắng (Nga, Pháp). Ðặc biệt có sự biến đổi tâm tính từ một thiếu niên ngây thơ ngờ nghệch tán tỉnh cô đầm Bourdon không thành công (Nguyễn Thế Anh); Thân nhân tiệm hình Khánh Ký Paris còn cho biết các sinh viên du học tại Pháp khi về nước đã bàn giao các cô đầm để lại cho Hồ Chí Minh nhưng Hồ Chí Minh đã lúng túng thất bại. Giai đoạn ở bên Trung Hoa hoàn toàn khác, sau khi huấn luyện tại Nga làm việc Hoa Kỳ trong phái đòan Nga Borodin và cùng với Lâm Ðức Thụ bán nhà cách mạng Phan Bội Châu lấy 10 vạn đồng Ðông Dương. (Richard Nixon, No More Việt Nams) Hồ Chí Minh đã lão luyện mua chuộc bà mẹ cô Tàu Tăng Tuyết Minh, ngọai giao anh cô nầy và cưới Tăng Tuyết Minh vào tháng 10 năm 1926 trong một hôn lễ rất linh đình có cả vợ chồng Chu Ân Lai tham dự (Huang Zhen); Nhưng năm 1934, Hồ Chí Minh và Nguyễn Thị Minh Khai cùng tham dự Hội Nghị Quốc Tế Cộng Sản tại Moscow với danh nghĩa vợ chồng chánh thức (Sophie Quinn Judge), đây là một hôn phối chính trị vừa có lợi cho Nguyễn Thi Minh Khai lấy được cán bộ Moscow, có lợi cho Hồ Chí Minh có người vợ là đại biểu phụ nữ Ðông Dương duy nhất. Hồ Chí Minh lúc nầy đang bị xuống cấp và có nguy cơ bị thanh trừng. Sau năm 1937 Minh Khai về nước mới lấy Lê Hồng Phong. Ghi nhận năm 1930, Minh Khai đến làm việc với Hồ Chí Minh thì quan hệ với Tăng Tuyết Minh chấm dứt (William J. Duiker), Hồ Chí Minh ra tòa án Hồng Kông, Tuyết Minh có đến xem nhưng không nói chuyện và cũng không để cho Hồ Chí Minh nhìn thấy. (Huang Zhen) lúc bị bắt tại Hồng Kông Hồ Chí Minh lại ở cùng với một phụ nữ Tàu khác. Ðây là giai đọan Hồ Chí Minh bắt đầu già dặn, tôi luyện trong tình trường và lão luyện trong việc xử dụng quản trị phụ nữ trong đời tư và nhất là trong mưu tính chính trị. Ðiều nầy do kết quả chủ nghĩa cộng sản học tập ở Moscow, hay do sự ăn chơi cùng Lâm Ðức Thụ nhờ dư tiền bán Phan Bội Châu hay do bản tính xấu của chính mình, hay do cả 3 yếu tố? Có ảnh chụp một phụ nữ đẹp ngồi chung với các sĩ quan O. S. S đặc biệt là vị trưởng toán Archimedes L. A. Patti và Hồ Chí Minh trong chiến khu Việt Bắc 1944-1945. Archimedes L. A Patti chối là không bị mỹ nhân kế nhưng không hiểu phụ nữ nầy có mặt trong chiến khu làm gì? Phái đoàn O. S. S nầy lại thiên vị cho Việt Minh rất quá đáng, kỳ thị không những kháng chiến Pháp mà còn kỳ thị mọi phe quốc gia. Khi về Hà Nội cầm quyền 1945-1946, Pháp có đưa một số cô đầm từ Pháp sang gặp Hồ Chí Minh, trong đó có cô Brière chụp ảnh chung với Hồ Chí Minh. Nhưng Hồ Chí Minh không mắc mỹ nhân kế.

Trong trận điện biên phủ, nhiều đêm Võ Nguyên Giáp hủ hóa HCM không thể không biết vì ở chung môt chổ. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ khi ra bưng cũng được thỏa mãn tình dục đầy đủ vì điều nầy giới luật gia tại Miền Nam thập niên 1950 đều biết bệnh đa dâm này của Thọ và chính Thọ cũng đang bị dính líu trong một vụ hiếp dâm tại Nha Trang trước khi đi bưng. Ðể tái kết thân với Chu Ân Lai vì lỗi HCM đã né trốn không tham gia Vạn Lý Trường Chinh, Hồ Chí Minh thân thiết tán tỉnh vợ Chu Ân Lai, một phụ nữ xâu xí và kết quả là được Chu Ân Lai nâng đỡ, lúc chụp hình với Mao luôn luôn được Chu Ân Lai cho đứng cạnh. Cao điểm Hồ Chí Minh với phụ nữ là thủ tiêu Nông Thị Xuân năm 1957 (Hồ Chí Minh lúc nầy 65 tuổi và cô Xuân chỉ 20) sau khi ăn nằm và có con với cô Xuân từ ít nhất 1952. (Vũ Thư Hiên) và cô Xuân ngờ nghệch xin Hồ Chí Minh cho công khai tương quan.
Tính toán sai lạc của Hồ Chí Minh trong việc dùng phụ nữ là ôm hôn bà Sokarno tại hội nghị Bandung, Nam Dương, xứ hồi giáo, việc ôm hôn nầy gây câm phẫn bất lợi ngoại giao.

Thí dụ: Hồ Chí Minh ở nhà sàn.

Ký giả Oliver Todd gọi nhà sàn nầy là của người gác vườn (vì xây dựng lên trong khuôn viên dinh thự thực dân Pháp xưa), nhưng dân Hà Nội oái ăm gọi là nhà sống không ở được. Không làm việc và chỉ chết mới đem xác về vì nhà sàn thiếu chỗ đi vệ sinh, công sản cũng nghĩ đến điều đơn giản này nhưng thực hiện lại khó vì dung cầu giật thì quá văn minh (thời gian 1969 tại Bắc Việt) và dùng cầu đổ thùng thì quá buồn cười với khách ngoại quốc, dù sao “nhà sàn” nầy thiếu tiện nghi truyền thông cho một nguyên thủ bề bộn trong thời chiến.
Ðiều quan trọng không phải Hồ Chí Minh được ở dinh thự hay ở nhà sàn. Bác sĩ Lý, bác sĩ riêng của Mao Trạch Ðông đã tả rỏ rệt cảnh Hồ Chí Minh thèm thuồng (khiến ông Lý nầy phải thương hại) trước những tiện nghi mỹ lệ của các dinh thự tại Bắc Kinh.

Thí dụ: Hồ Chí Minh ăn hút

Các ký giả ngoại quốc nhận xét Hồ Chí Minh hút thuốc thơm ngoại quốc chứ không phải thứ nội hóa nhãn Điện Biên Phủ xanh đỏ. Nhưng thời gian trước 1945 Hồ Chí Minh vẫn hút thuốc thơm (Philips Moris) nhưng để trong bao Melia vàng nội hóa. Giáo sư khả kính Vũ Khắc Khoan kể lại đã được Hồ Chí Minh khoái chí cười cho một điếu thuốc Philis Moris lại để trong bao Melia nội hóa, trong một chuyến du hành rõ ràng láu cá ranh vặt. Các cán bộ Quốc Dân Ðảng ngay từ năm 1945 đã báo cáo Bắc Bộ Phủ Việt Minh hằng ngày lấy thức ăn từ khách sạn Métropole ở bên kia đường, thức ăn Pháp “cao cấp” nhất Ðông Dương. Suốt thời gian 1954-1975 phần hàng ăn của Métropole vẫn sống mạnh trong khi phần khách sạn bỏ hoang phế, Hồ chí Minh và các thân cận nghiền cơm Pháp. Vua chúa hưởng lạc vốn thông thường, họ có phải dấu diếm cũng vì chính trị, nhưng gian dối lường gạt là điều hiếm có và đi cả đến chỗ sát nhân là điều hi hữu. Sau khi Hồ Chí Minh chết huyền thọai trên không giảm mà lại tăng thêm:

Thí dụ 1. Ngày chết của Hồ Chí Minh đúng vào ngày 2 tháng 9, ngày “Quốc Khánh” liền được sửa lại là ngày 3 tháng 9. Nhưng sau đó sự thật lộ ra nên các tài liệu sau nầy tránh nhắc đến ngày chết của Hồ Chí Minh, chỉ để năm thôi. Hậu quả là Hồ Chí Minh không có ngày giỗ.

Thí dụ 2. “Xây Lăng” và ướp xác. Xây mộ rất nguy nga và ngay trong thời chiến và các xác được ướp theo mẫu Nga Xô. Nhiều quân nhân bị bom chết trong lúc lấy gỗ trong rừng.

Thí dụ 3. “Cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh” Hồ Chí Minh ít khi nói thật, nhưng khi nói thật: “Tôi không có tư tưởng gì, tất cả những gì đã do Stalin, Mao Trạch Ðông nghĩ ra” thì các hậu duệ Hồ Chí Minh không tin (!) Giáo sư Sophie Judge nhận xét: Cho đến hết sự nghiệp của ông, Hồ chỉ là một người thực hành thỏa hiệp về chính trị, tạo thế liên hiệp hơn là một người chuyên về lý thuyết và ý thức hệ. (Ðại họcYale, Connecticutt). Nếu đem so sánh với các lãnh tụ cộng sản thế giới thì Hồ Chí Minh thua kém Mao Trạch Ðông và Kim Nhật Thành (Bắc Hàn) về mặt tư tưởng; Mao có tư tưởng “cách mạng văn hóa” và Kim có “tự cường” (Juche), một thứ tổng hợp Mác xít và quân chủ Á Ðông. Hồ cũng không làm được như Ti Tô, người trung lập đứng ngoài tranh chấp Nga Mỹ. Hồ cũng đã dự hội nghị trung lập Bandung 1955 có lẽ thử trung lập nhưng không làm nổi vì không khả năng ăn nói như Nehru và các lãnh tụ khác. Hồ giống Fidel Castro ở điểm nô lệ Mác Xít, thiếu khả năng kinh bang tế thế nên lấy chiến tranh đánh thuê làm lẽ sống. Chỉ CSVN mới có cả một binh chủng đặc công, kỷ lục thế giới về chiến tranh khủng bố.

Hàng ngàn trang Hồ Chí Minh Toàn Tập đọc rất chán với người có trình độ văn hóa vì lập luận một chiều: cộng sản luôn luôn tốt, tư bản luôn luôn xấu. Ca tụng Mác Xít như Sách Ước muốn gì cũng được. CSVN khoe Hồ Chí Minh có công phổ biến chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam.

Sai; công nầy do Trương Tửu, Ðặng Thế Mai, Tạ Thu Thâu. Hồ không bao giờ phê bình hoặc giải thích chủ nghĩa cộng sản. Hồ chỉ là người bắt chước các chế độ Nga Tàu cộng đã làm. Ðem áp dụng một cách máy móc tựa như Monkey sees Monkey does. Hồ chẳng bao giờ quan tâm, thắc mắc, suy nghĩ về các vấn đề tư tưởng. “Cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh” chỉ là bóp méo ngôn ngữ, bịp bợm của đám hậu bối.

Không có “Cái Gọi Là Tư Tưởng Hồ Chí Minh”, điều người ta phải bàn là đầu óc Hồ Chí Minh. J. H. Roy, cộng sản Ấn, đồng môn với Hồ Chí Minh từ 1924 ở Moscow đã cho biết ngay từ thập niên 1950 về cái đầu óc của Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh học hành không xuất sắc, kém cỏi trong các đề tài thảo luận, thậm chí đến nỗi không biết lập luận. J. H. Roy ngạc nhiên tại sao Hồ lại thành công tại Việt Nam. Câu trả lời cho J. H. Roy là Hồ Chí Minh không thông minh, Hồ chỉ khôn vặt. Ðể đo thông minh ngày nay ta có chỉ số thông minh (I Q), tuy nay không thể áp dụng với Hồ, nhưng ta có thể đoán chắc là nếu đo IQ (tỷ số thông minh) vì Hồ không biết lập luận, không biết toán và khoa học nên số tỷ lệ thông minh của Hồ khó mà bằng mức trung bình. Nhưng Hồ có thể thành công vì các điều sau:

-Hồ có khiếu ngoại ngữ, biết nói nhiều thứ tiếng Pháp, Anh, Nga, Quảng Ðông; tuy nhiên Hồ không viết Pháp văn, Nga văn khá, chữ Hán thì chỉ viết được thư từ thông thường. Biết nói Anh ngữ là một lợi khí hiếm có vào thời đó và chính nhờ Anh ngữ mà Hồ chinh phục được người anh cô Tăng Tuyết Minh vốn là sinh viên du học Hoa Kỳ, đặc biệt là mua chuộc và lèo lái các nhân viên tình báo Hoa Kỳ O. S. S
Hồ có óc thực tế và điều nầy được C. S. V. N đề cao. Ðừng tưởng lầm lẫn với tinh thần thực tế phóng khoáng vượt thóat giáo điều Mác xít, kiểu như “Mèo trắng, mèo đen đều bắt chuột” của Ðặng Tiểu Bình. Óc thực tế kiểu Hồ Chí Minh vị kỷ duy vật Mác xít cứng nhắc và chỉ ranh vặt.

[Hồ ích kỷ] Khi còn hàn vi Hồ đã từng vì tình gia đình viết thư xin quan thuộc địa cho cha phục chức và nhờ gởi tiền cho cha; nhưng khi lên ngôi cao Hồ chỉ tiếp người chị ruột một lần và nói những gì khiến cho người nầy khóc bỏ ra về và từ đó không ai trong gia đình Hồ còn đến quấy nhiểu Hồ nữa và Hồ cũng không hỏi thăm giúp đở gì gia đình nghèo nầy. Nói cho đúng Hồ có môt lần viết thư chia buồn nhân đám tang mà dụng tâm chỉ để quảng cáo cho tiếng tăm cá nhân. Với người vợ cả chính thức Hồ thủ tiêu Lâm Đức Thụ người bạn chơi bời và mối lái xưa, cắt đứt mọi liên lạc tai tiếng có vợ và vợ người Tàu. Thủ tiêu Nông thị Xuân người đã có con với Hồ nhưng khờ khạo muốn công khai hóa tương quan nầy, các thân nhân của cô Xuân biết chuyện đều cũng bị thủ tiêu.

Hồ không yêu nước theo nghĩa truyền thống hàng nghìn năm Việt: yêu nước là yêu dân. Trong tim Hồ chỉ có cá nhân Hồ và Ðảng cộng sản; không có chỗ cho người dân. Suốt cuộc đời của Hồ, việc thiện duy nhất là ngỏ ý sẽ miễn thuế cho dân nếu hết chiến tranh. Thích Quảng Ðộ than rằng CSVN quá ác và ngay các trẻ thơ Việt thường rù rì lén chỉ cho nhau râu Hồ Chí Minh hiện hình ra “cái đầu lâu”.

Hồ không có tinh thần tự cường độc lập. Hồ là người Việt duy nhất từng muốn và đã làm tay sai cho hầu hết các thế lực ngoại quốc tại Việt Nam, Pháp (Xin học trường thuộc địa) Nga Sô (Làm cán bộ có lương nhiều chục năm) Trung Cộng (thân tín của Beria Trung Cộng Khang Sanh) Trung Hoa Quốc Gia (Phục vụ cho 2 tướng Trương Phát Khuê và Tiêu Văn) Hoa Kỳ (Phục vụ cho O. S. S với bí danh Lucius). Tay sai đắc lực tận tuỵ mà các quan thầy đều hài lòng và đặc biệt tiếc rẻ nếu đã không còn dùng Hồ nữa (Archimedes L. A Patti, Jean Sainteny).

Hồ có tài gây cảm tình cá nhân, tạo ấn tượng tốt trong đám đông, nhưng cũng là người rất vong ân bội nghĩa như đối với gia đình và các ân nhân: Chủ nhân tiệm hình Khánh Ký Paris (Ls Trần Tấn Việt), Lâm đức Thụ v. v. . . Hồ đa nghi và rất ghen ngay lúc tuổi đã già, chính “Beria” Trần Quốc Hoàn biết rỏ điều nầy và lợi dụng để thuyết phục Hồ cho phép thủ tiêu cô Nông Thị Xuân (Vũ Thư Hiên).

Thân Thế:

Hồ là nhân vật mà thân thế đã bị sửa chữa bịa đặt quá nhiều do chính Hồ và cả các thân cận hậu huệ nên rất mù mờ khó mà tìm ra sự thật và có thể coi là không có thân thế.
Hồ có cả thảy 145 bí danh và tên, theo Antatoli Sokolov và theo Trần Anh Tuấn là 150 trong đó có đến 62 bí danh dùng để viết sách báo ca tụng chính mình như Trần Dân Tiên, T. Lan v. v… lúc thì lấy tên đàn ông, lúc tên đàn bà, lúc thì họ Hồ, họ Lê, họ Nguyễn và Trần, lúc thân cận như Bác, lúc bí hiểm như X. Y. Z. (Thế kỷ, May 1999) Ðặc biệt Hồ có bí danh dùng riêng với tình báo Nga Xô là “Lin” và tình báo Hoa Kỳ O. S. S là “Lucius, nhân viên số 19” (Back Fire, Loren Baritz trang 46)
Tất cả các tên và bí danh của Hồ đều không nổi tiếng và không đáng chú ý trừ 2 tên: Nguyễn Aí Quốc và Hồ Chí Minh. Tên Nguyễn Ái Quốc (hay Quấc) là bí danh chung của 5 người chống Pháp: Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Phan Chu Trinh, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh) mà giới Việt Kiều Paris gọi là Ngũ Long. Tên Nguyễn Ái Quốc không do Hồ nghĩ ra vì lẽ đơn giản là Hồ Chí Minh là kẻ đến sau gia nhập nhóm này và cũng là người trẻ nhất.

Các bài viết của nhóm cũng không do Hồ viết vì trình độ Pháp ngữ của Hồ kém, tuy chỉ một mình Hồ ngang nhiên lấy xử dụng tên này để khoe khoang cho đến khi Hồ bán Phan Bội Châu cho Pháp, tên nầy trở thành mang tiếng xấu thì Hồ mới chấm dứt đội tên Nguyễn Ái Quốc.

Tên Hồ Chí Minh vốn là một bí danh cũ của Hồ Học Lãm, một người Việt lưu vong ở Trung Quốc chết năm 1942 (Chánh Ðạo, Niên Biểu Nhân Vật Chí Việt Nam). Chí Minh là một tên rất phổ thông ở bên Tàu và họ Hồ cũng thế, cho nên rất nhiều người Trung Hoa có cái tên Hồ Chí Minh. Theo Vũ Hồng Khanh người đã đem Hồ Chí Minh ra khỏi tù thì là Nguyễn Tất Thành đã mua một căn cước của một hành khất vô thừa nhận mang tên Hồ chí Minh và xử dụng giấy này khi bị bắt, đến khi thả ra phải mang tiếp căn cước này.
Ðiều khôi hài là nhiều tác giả, có cả tự điển đã diễn nghĩa ca tụng “Hồ Chí Minh” có nghĩa là người sáng suốt, thức tỉnh khi mọi người còn ngủ. Chính họ Hồ tự khai ít nhất 5 năm sinh khác gồm 1890 (Trần Dân Tiên) 1891 (Yên Sơn, bí danh khác của Hồ) 1892 (Trong đơn xin học trường thuộc địa Marseille Pháp) 1894 (Khai với sở cảnh sát Paris) 1895 (Khai với sứ quán Nga Xô Berlin để đi học). Tìm hiểu năm nào đúng là việc vô bổ và chúng ta chỉ cần ghi nhận rằng khi còn trẻ đi du học thì khai trẻ hơn và khi về nước lại khai già hơn, tất cả là do nhu cầu thực tế và sự khôn vặt của Hồ; chẳng lẽ năm 1945 xưng là cha già dân tộc, là cụ là bác mà lại sanh 1895 mới chưa đầy 50 tuổi thì coi cũng kỳ và khi du học phải khai trẻ để tỏ ra mình xuất sắc.

Trước ngày quân đội Pháp đổ bộ lên cảng Hải Phòng. CSVN sợ phản ứng của dân chúng nên đã bịa đặt ngày 19 tháng 5 là ngày sinh nhật Hồ Chí Minh kêu gọi dân Hải Phòng treo cờ mừng ngày “sinh nhật”; trong khi chúng giải thích với thực dân Pháp là dân treo cờ thỏa thận cho quân Pháp trở lại miền Bắc Việt Nam. Ngày sinh nhật 19-5 là một ngày “chính trị” chẳng phải là ngày thật và mục đích là đón cao uỷ Pháp D’Argenlieu cùng quân đội Pháp đổ bộ lên Bắc Việt (Hoàng Văn Chí, Từ Thực Dân đến Cộng Sản).
Ngày chết của Hồ trùng với ngày Quốc Khánh nên bị sửa thành ngày 3 tháng 9. Sau ít lâu bị lộ nên sửa lại cho đúng nhưng trong các tài liệu sau đó CSVN tránh ghi ngày chết mà chỉ ghi năm chết của Hồ, như ngụ ý sợ dân chúng ăn mừng nhân dịp Hồ chết. Hồ có thân thể mặt mũi xấu mà còn có thể gọi là cổ quái gian ác nếu là hình chụp trung thực và nếu là hình sửa thì thành tốt tướng hiền lành, nhưng nhìn kỷ bộ râu dê thấy có hình đầu lâu. Tất cã các hình do CSVN phổ biến đều là hình sửa chữa, hình giả.

Sự Nghiệp:

Hồ là con một tri huyện Nam Triều bị cách chức, vị này có quen biết nhà cách mạng Phan Châu Trinh. Toàn gia đình chống Pháp và không xa lạ gì với phong trào Ðông Du Phan Bội Châu. Tuy nhiên Hồ năm 1911 đã chọn con đường tiến thân khác, bằng cách xin làm quan với thực dân Pháp ngay khi xuất ngọai đến bến Marseille, Pháp (Richard Nixon, No More Việt Nams). Ðừng lầm lẫn với con đường Tây Du, xuất ngoại mưu cầu mở mang dân trí của Phan Chu Trinh. Hồ xin làm việc cho Nga Xô; rõ ràng Hồ có căn cơ làm tay sai vì sau đó Hồ theo Khang Sinh “Beria Trung Cộng”; tướng Trương Phát Khuê khen Hồ là biết phục vụ tốt, tướng Tiêu Văn khen là Hồ đã tỏ ra hối lỗi vì theo Cộng Sản, theo tình báo Hoa Kỳ O. S. S.

-Năm 1925, Hồ đã bán Phan Bội Châu, một nhà cách mạng chống Pháp hàng đầu lấy 10 vạn đồng (Richard Nixon, No More Vietnams).

-Năm Ất Dậu, 1945 tại Bắc Việt đã xẩy ra nạn đói đã do nhiều nguyên nhân: Mất mùa, do thực dân Pháp thu thuế cao, quân Nhật bắt trồng đay và bom đạn của phi cơ Hoa Kỳ. Tuy nhiên bom đạn Hoa Kỳ là nguyên nhân thiết yếu vì đường tiếp tế gạo ở trong Nam không chở gạo ra Bắc, gạo trong Nam thừa và rẻ đến nỗi đốt máy xe lửa và gạo ngoài Bắc đắt đến mức gấp 40 lần gạo trong Nam, hậu quả là dân quê nghèo chết đói khoảng 2 triệu người. Nạn đói chấm dứt khi Hoa Kỳ ngưng ném bom vào thời điểm Nhật đầu hàng. Sở dĩ bom đạn Hoa Kỳ năm 1945 hữu hiệu là nhờ tin tình báo và sự chỉ điểm của CSVN do Hồ lãnh đạo; Cơ quan O. S. S có thể quên không quan tâm đến tình trạng dân quê miền Bắc sẽ đói. Nhưng Hồ chắc chắn sẽ biết hậu quả việc cắt đường tiếp tế gạo Nam Bắc nhất là khi báo chí lúc đó loan tin bác sĩ Vũ Ngọc Anh bộ tưởng y tế xã hội và đoàn cứu tế mang gạo đã bị chết vì bom đạn phi cơ Hoa Kỳ trên đường công tác. Ngược lại Hồ còn lợi dụng nạn đói trong mục tiêu sách động quần chúng nổi dậy và ngay cả khi đã cướp được chính quyền Hồ còn lấy tiền trong quỹ cứu đói lạc quyên do chính phủ Trần Trọng Kim gom chung với Quỹ Tuần Lễ Vàng lạc quyên do chính phủ Hồ Chí Minh lạc quyên để hối lộ các tướng Tàu sang giải giới quân Nhật. Hồ tay đã nhúng chàm nên Cộng Sản Việt Nam không dám mở miệng đòi bồi thường về nạn đói đối với Nhật và Hoa Kỳ vốn là 2 nước giàu có và trọng trách nhiệm.

Ngày 9/3/1945 Nhật đảo chính Pháp và trả độc lập cho Việt Nam, ngày 11/3/1945 vua Bảo Ðại tuyên ngôn độc lập và thành lập chính phủ Trần Trọng Kim. Chính phủ đoản mệnh cầm quyền 5 tháng nhưng đã làm các bước căn bản đáng kể cho nền giáo dục. Hồ đảo chính chính phủ Trần Trọng Kim và ngày 2/9/1945 lại ra tuyên ngôn độc lập lần thứ hai.
Thực dân Pháp hay Tàu khi cai trị đã đem lại văn minh của họ, nhưng CSVN vì tầm văn hóa thấp (Hà Sĩ Phu) CSVN đã làm ngưng bước tiến văn minh của Việt Nam từ ngày 2/9/1945. Boris Yelsin coi nước Nga “tái sinh” và Nhất Linh Nguyễn Tường Tam coi nước Việt “mất nước” (di chúc 7/7/1963 Nhất Linh Nguyễn Tường Tam), dân Việt thành nô lệ thấp kém cho chính người nước mình, một chế độ bóc lột hơn thực dân Pháp, mức chênh lệch giữa thống trị và bị trị lớn hơn, nhân quyền bị vi phạm nhiều hơn và ngay cả tự do tôn giáo như thời Pháp thuộc cũng không còn.

Chiến tranh Việt Pháp chỉ xảy ra khi quân Pháp trở lại Việt Nam sau thế chiến 2, ở miền Nam nhờ quân Anh ngầm giúp cho đổ bộ, nhưng tại miền Bắc do Hồ chính thức mời bằng Hiệp Định 6-3-1946. Hồ giãi thích gian dối là chịu đựng Pháp còn hơn là phải chịu đưng Tàu, mặc dầu Hồ biết rõ Tưởng Giới Thạch tại hội nghị Yalta đã từ chối gợi ý của F. Roosevelt về việc để Tàu chiếm đóng Việt Nam và trên thực tế quân đội của Tưởng còn bận chống quân Trung Cộng tại Mãn Châu. Nguyễn Tường Tam, bộ trưởng ngoại giao, phản đối và từ chức ngày 6-3-1946. Lý do Hồ đón quân Pháp là để đánhh dẹp các chiến khu của quân quốc gia với sự hỗ trợ pháo binh và chiến xa của Pháp (Richard Nixon, No More VietNams).
Ngày 6-3- 1946 có thể coi là ngày bắt đầu cuộc chiến Việt Nam lần I, hoặc cụ thể hơn là ngày 19 tháng 5 năm 1946 ngày Hồ ra lệnh cho dân chúng treo cờ mừng sinh nhật của Hồ để luôn thể đón quân Pháp đổ bộ lên Hải Phòng Bắc Việt. Đáng lẽ CSVN bị tiêu diệt nhưng không ngờ Trung Cộng thắng chiếm lục địa năm 1949 và cứu CSVN, nhưng tội cõng rắn cắn gà nhà, phản quốc của Hồ đã tỏ rõ. CSVN và Hồ khoe thắng Pháp và dứt điểm với trận Điện Biên 1954.

Khi Trung Cộng chiếm lục địa 1949 và khi Anh Hoa Kỳ từ chối hỗ trợ cho nỗ lực chiến tranh của Pháp tại Việt Nam sau chiến tranh Triều Tiên 1952 thì Pháp đương nhiên phải thua. Không có trận Điện Biên Phủ Pháp cũng thua và trận Điện Biên Phủ chỉ là một trận thí quân không cần thiết. Pháo binh quyết định trận Điện Biên Phủ (trừ khi phi cơ Hoa Kỳ chịu lâm trận). Đại tá Piroth chỉ huy pháo binh Pháp tự vận ngay đợt pháo đầu tiên khai hỏa, pháo binh Trung Cộng cho CSVN phần lớn chở đến tận chỗ do quân xa Trung Cộng chuyên chở và do Trung Cộng bắn hộ khi cần; Điều thấy rõ là tương quan tớ chủ giữa phái đoàn CSVN và phái đoàn Trung Cộng tại Hội Nghị Genève. Võ Nguyên Giáp được đề cao là người chiến thắng, nhưng Trung Cộng dần dần tiết lộ vai trò then chốt của các tướng Tàu và vai trò của Võ chỉ là trình diễn, nhất là trong lúc lâm trận Võ mổi đêm đều phá trinh một cô thiểu số (Ls Lê Sĩ Giai)

Kết quả trận Điện Biên Phủ cho đảng CSVN quyền cai trị miền Bắc Việt Nam (miền Nam Việt Nam đã được Pháp trả độc lập cho vua Bảo Đại từ 1948). Nhưng dân Bắc chịu đựng ách cộng sản hà khắc và bắt đầu với cải cách ruộng đất ăn cướp tàn ác mà trong lúc chiến tranh Hồ chưa dám thi hành. Nhiều tác giả ngoại quốc ngờ nghệch cho rằng Tổng Thống Ngô Đình Diệm không chấp nhận tuyển cử sau hiệp định Genève đã làm chiến tranh Việt Nam lần 2 xâỷ ra. Họ không biết điều mà người dân Việt ai cũng biết: Khi bộ đội cán chính cộng sản họ đã nhất loạt dụng tâm để lại toàn bộ vợ con và điều nhắn nhủ sẽ trở lại, đường mòn Hồ Chí Minh để xâm lăng miền Nam 1956, nhưng được chuẩn bị dự trù cả năm trước. Dù sớm hay muộn con đường chiến tranh đánh thuê của Hồ, giống như của Fidel Castro và ngày nay do Kim Chính Nhật Hàn Quốc làm, chỉ vì họ không có tài năng kinh bang tế và “tầm văn hoá thấp” (Hà Sĩ Phu) của trào lưu cộng sản đánh thuê là con đường tất nhiên của Hồ và được Hồ gọi mỹ miều “Nghĩa Vụ Quốc Tế” Chiến tranh Việt Nam có vẻ như một cuộc nội chiến Nam Bắc, nhưng bản chất không phải vậy vì ngay từ 1925, Hồ đã bán Phan Bội Châu năm 1930 CSVN tung truyền đơn tố cáo với Pháp việc Việt Nam Quốc Dân Đảng nổi dậy (Hoàng Văn Đào) và trong lúc chưa chống xong Pháp CSVN đã thủ tiêu các lảnh tụ các tôn giáo, cuộc chiến mang mầu sắc ý thức hệ rỏ rệt và rỏ hơn hết do quyền lợi của riêng phe đảng cộng sản Việt.

Mặc dầu chiến tranh với Pháp đã xâỷ ra, CSVN tiếp tục giết các cán bộ đảng viên quốc gia, Trương Tử Anh, Lê Khang bị giết đầu năm 1947. Riêng họ Nguyễn Tường bị triệt hạ kể từ ngày Nhất Linh Nguyễn Tường Tam không chịu ký Hiệp Định Sơ Bộ 6-3-1946 cho đến năm 1954 thì họ Nguyễn Tường tại đất Bắc không còn một ai, nội cũng như ngoại. Ác là bản chất CSVN (Thích Quảng Độ), quy mô và không ngại bất cứ điều gì, nhưng mang bộ áo đạo đức nhân từ của Hồ Chí Minh. Người Á Đông tin nhiều vào một con người cụ thể khác với người Tây Phương tin nhiều vào định chế trừu tượng. Hồ Chí Minh dù chết đã nửa thế kỷ nhưng vẫn là thần tượng quan trọng của chế độ.

Mặc dầu người dân không tín tưởng Hồ như trước đây nhưng đảng cộng sản Việt Nam, toàn bộ các cán bộ cao cấp và đa số cán bộ trung cấp vẫn tuyệt đối thần kính Hồ, có thể có người giả vờ nhưng bề ngoài vẫn phải suy tôn.
Với sự sụp đổ lý thuyệt Mác Lê và các chế độ cộng sản, huyền thoại Hồ Chí Minh là sức mạnh tinh thần duy nhất của CSVN. Nói chạm nhẹ đến Hồ Chí Minh dù nhẹ như chuyện Hồ có vợ cũng là điều cấm và bị trừng trị.

Các nhà phản kháng dù trong hay ngoài đảng, các nhà trí thức đều không dám động đến Hồ, ngược lại họ còn dùng các lời nói của Hồ làm bung xung để thêm sức thuyết phục. Huyền thoại Hồ Chí Minh còn, đảng cộng sản Việt Nam còn sức mạnh tinh thần và như vậy chế độ còn vững chắc mặc dầu vô số khuyết điểm đầy râỷ bất mãn. Bóng ma Hồ Chí Minh tan, sự kềm toả cuả chế độ Mác Lê sẽ không còn chống nổi sự bất mãn chống đối của dân chúng, của các tôn giáo và các lực lượng quần chúng chính trị. Ánh sáng trí tuệ, đạo đức ngay thẳng sẽ trở lại trên quê hương để Việt Nam tái sinh; trong nước và hải ngoại cùng nhau, trong dân chủ tự do, phấn chấn xây dựng đất nước.

San Jose thang 7/2003

Dựng Đền Thờ Ông Hồ...

Dựng Đền Thờ Ông Hồ...


Trần Khải



Tưng bừng xây đền thờ ông Hồ Chí Minh... Đó là hành vi lấy điểm lập công tiện lợi nhất, đối với bất kỳ địa phương nào. Đó là chưa kể tới việc chính phủ CSVN lấy chuyện lập đền thờ ông Hồ Chí Minh làm chính sách an dân ở các nơi có nhiều thành phần dân chúng mê tín dị đoan

Vậy thì, câu hỏi nơi đây là có bao nhiêu đền thờ ông Hồ tại Việt Nam? Một cách chính xác, chúng ta hiện nay chưa tìm ra thống kê. Tuy nhiên, một bản tin nhà nước cho biết về trường hợp vùng đồng bằng Cửu Long, đặc biệt là về tỉnh Cà Mau.
Bản tin nhan đề “Mỗi ngôi Đền thờ Bác là một huyền thoại diệu kỳ” của hãng thông tấn nhà nứơc TTXVN, hiện lưu giữ nơi trang web của báo Tiền Phong (link: http://www.tienphongonline.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=84149&ChannelID=7 ) hôm 15/05/2007 cho biết là có vài chục đền thờ.

Bản tin trích:
“...Ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long hiện có 7 trong số 13 tỉnh, thành phố xây dựng đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh với tổng số 30 đền, phủ thờ cúng trang nghiêm.
Riêng tỉnh Cà Mau có đến 18 đền thờ, phủ thờ Bác, thể hiện tình cảm yêu thương Bác Hồ sâu sắc hòa quyện chung trong tình yêu nước của nhân dân nơi đây. Mỗi ngôi đền thờ Bác dựng trên đất Cà Mau là một huyền thoại diệu kỳ, một câu chuyện cảm động về lòng kính yêu Bác của nhân dân vùng cực Nam Tổ quốc...” (hết trích)
Tuy nhiên, nếu bạn nhớ các bản tin hồi năm ngoái, thì đền thờ ông Hồ lớn nhất tại VN vẫn là ngôi chùa đang xây ở Bình Dương, do đại gia Huỳnh Phi Dũng thực hiện. Trong khu vực du lịch có đền thờ này, sẽ xây một khách sạn 5,000 phòng. Làm sao chúng ta có thể hình dung được một khách sạn 5,000 phòng tại Việt Nam? Nghĩa là một khách sạn đẳng cấp qúôc tế, hoặc siêu qúôc tế...

Nghĩa là, lần naỳ, nhà nứơc CSVN sẽ mở một khu du lịch qúôc tế thượng hạng, để mời du khách qúôc tế tới Bình Dương, xem đền thờ Đaị Nam Quốc Tự khổng lồ, nơi đó, có chính điện ba tầng đề thờ Đức Phật, Vua Hùng Vương và ông Hồ Chí Minh.
Bản tin trên báo Tuổi Trẻ hôm 10/02/2007 nói về kế hoạch sẽ mở cửa trong năm nay, có nhan đề “Đại Nam quốc tự và khách sạn 5.000 phòng” (link: http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=186536&ChannelID=100 ) đã viết, trích như sau:

“..."Đại Nam thế giới du lịch" là một công trình du lịch có qui mô lớn bậc nhất VN với tổng vốn đầu tư 3.000 tỉ đồng đang được xây dựng trên diện tích 450ha tại Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Đền thờ Đại Nam quốc tự trong khu du lịch này đã hoàn chỉnh, đó là một công trình kiến trúc cổ có diện tích 5.000m2 với chất liệu chính là gỗ, đá và công nghệ mạ vàng. Nơi đây những trang sử vàng của VN được tái hiện một cách công phu, tỉ mỉ.

Chính điện gồm ba tầng thờ tượng đức Phật, vua Hùng Vương và Chủ tịch Hồ Chí Minh, tất cả đều được mạ vàng 24K. Hai bên là cặp nến rồng, phượng, mỗi cây đúc nặng 1,8 tấn sáp. Dưới chính điện là điểm vọng âm, đứng ngay vị trí này nói không cần micro cả đền đều có thể nghe được. Mỗi du khách VN vào đền đều tìm thấy mình qua bảng thờ 54 dân tộc anh em và hơn 2.000 dòng họ của các dân tộc VN.
Các cánh cửa đền là những câu chuyện lịch sử mạ vàng. Mỗi ô cửa là một câu chuyện. Cả thảy 28 câu chuyện lịch sử từ thời vua Hùng dựng nước được thể hiện bằng phù điêu. Mặt ngoài cửa là những câu chuyện tương truyền trong dân gian được chạm khắc trên gỗ. Hai bên hông đền đặt hai bức tượng Thánh Gióng và Lý Thường Kiệt trong tư thế phi ngựa chồm lên. Trên bức tường bao quanh ngôi đền, những hình ảnh về đồng bào các dân tộc VN cũng được khắc họa dưới dạng phù điêu.
Bức trường thành dài 13km ôm lấy khu du lịch này hiện đang được xây dựng. Điều thú vị là chạy suốt chiều dài bên dưới trường thành sẽ là 5.000 phòng nghỉ. Nếu đúng thế thì có lẽ đây là khách sạn được ghi vào kỷ lục về chiều dài của thế giới. Trong đó có 1.000 phòng được thiết kế theo kiểu cung điện với giá 5-200 USD/phòng/đêm, 4.000 phòng còn lại có giá 5-30 USD/phòng/đêm.

Một lô hạng mục khác để du khách có thể ở lại chơi trong khu du lịch này hai ngày liền như biển nhân tạo, khu trò chơi hiện đại, mê cung thần tiên với ba phương tiện đi bộ, xe và thuyền, vườn thú thiên nhiên, VN thu nhỏ, thế giới thu nhỏ, làng văn hóa, làng nghề, làng ẩm thực VN, phòng chiếu phim 3D, 4D phục vụ học sinh... Bên cạnh đó là các hoạt động, trò chơi tìm hiểu về lịch sử đất nước con người VN.

Theo kế hoạch của những người đầu tư, khu du lịch này sẽ mở cửa đón khách vào ngày 2-9-2007.” (hết trích)

Bạn thấy chưa: Có nghĩa là chỉ vài tháng nữa, ngôi đền thờ khổng lồ này sẽ mở cửa cho du khách vào xem.

Thực sự, bản tin đó chưa nói hết những cái khổng lồ mà người CSVN muốn chứng tỏ với thế giới. Thử đọc lại một bài báo năm cũ, trên báo VietNamNet ngaỳ 15/12/2006, tựa đề “Có một giấc mơ lớn về dân tộc Việt ở Bình Dương” (link: http://vietnamnet.vn/psks/2006/01/537556/ ) đã ghi lời đại gia Huỳnh Phi Dũng, trích về những cái nhất thế giới tại Đaị Nam Quốc Tự như sau:

“...Người chủ của công trình dường như thích những sự so sánh. Ông cho biết điện thờ này lớn hơn điện Thái Hòa của Trung Quốc. Quảng trường 18 hecta trước điện có thể sẽ là quảng trường lớn nhất thế giới, rộng gấp đôi quảng trường Thiên An Môn của Trung Quốc. Đây là nơi sẽ diễn ra các sự kiện lễ hội, văn hoá lớn của tỉnh Bình Dương…
Đến khi hoàn thành giai đoạn 2 (dự kiến vào năm 2010), diện tích tổng thể của Khu văn hoá lịch sử Đại Nam sẽ là 450 hecta. Các hạng mục tiếp theo sẽ là Vịnh Hạ Long thu nhỏ với diện tích mặt biển 18 hecta; sông Cửu Long thu nhỏ; cùng với sự tái hiện các kỳ quan thế giới như tháp Eiffel, điện Kremlin, Vạn lý trường thành, đền Angkor….” (hết trích)

Bạn có thể bực bội, cho rằng thờ ông Hồ chung với Đức Phật, mà laị ngồi trứơc mặt Đức Phật, là vô lễ, là dị kỳ, là quái chiêu, là trái giaó lý.
Đúng vậy, đó là quái chiêu. Nhưng cũng là độc chiêu.

Bởi vì chỉ cần vài thế hệ thanh niên qua đi, hình ảnh đó sẽ được quen thuộc, và người dân nhiều thập niên tới sẽ thấy là tự nhiên. Đúng vậy, sẽ thấy tự nhiên. Cho dù trong điện có có dựng thêm tượng của bà Tăng Tuyết Minh, hay bà Nguyễn Thị hay Nông Thị gì gì nữa.


http://s152542055.onlinehome.us/xoops4/modules/news/article.php?storyid=711

Bác Hồ như Phật, Chúa?

Bác Hồ như Phật, Chúa?


Trần Khải


HCM như Phật (sám hối) ở chùa Đai Nam Quốc Tự (Binh Duong)

Chuyện thờ cúng ông Hồ Chí Minh không phải là chuyện tự phát của một số cá nhân đồng bào ưa xin số đề, mà thực ra có thể suy luận rằng đó là chính sách lớn của nhà nước cộng sản Việt Nam. Cứ đọc báo nhà nước rải rác cũng có thể suy luận như thế được.

Không chỉ là chuyện lập bàn thờ để tưởng nhớ ông Hồ kiểu khơi khơi đâu. Chuyện nghe đâu thập phần bí hiểm, và người ta nói còn nhiều chuyện huyền bí ngoại cảm đang được Bộ Chính Trị cộng sản Việt Nam gắng sức giữ bí mật. Lâu lâu chúng ta mới nghe vài chuyện. Thí dụ, như trong một Hội Nghị về Tiềm Năng Con Người tại Hà Nội cuối năm 2005, một băng âm thanh ghi lại lời Tướng Chu Phác cho biết ông đã nghiên cứu môn Bói Dịch Cụ Hồ nhiều năm. Trong hội nghị lúc đó có nhiều viên chức công an và cả các nhà ngoại cảm, nhưng không thấy ai phản đối gì. Mới đây, một đảng Ủy Quận Hà Nội thực hiện và thu băng buổi gọi hồn cụ tổ dòng họ Nguyễn Công để sẽ trình lên Thành Ủy làm tài liệu trong hồ sơ di dời ngôi mộ cổ dòng họ Nguyễn Công. Chuyện này tất nhiên làm chúng ta dễ dàng nghĩ tới chuyện là Đảng cộng sản Việt Nam có thể bước qua vài khu phố là tới Lăng Ông Hồ, và nguyên lực lượng ngoại cảm này có thể làm lễ gọi hồn xem ông Hồ muốn gì, có thể hỏi xem ông Hồ muốn cúng chay hay cúng mặn…

http://www.danchimviet.com/php/images/052007/hcm_chua.jpg
"Bác" ngồi với Phật trong Đại Nam Quốc Tự (Bình Dương, Việt Nam)
Nguồn: http://vietnamnet.vn/
--------------------------------------------------------------------------------

Trong tuần qua, nhiều nơi trong nước rầm rộ tổ chức Lễ Sinh Nhật Ông Hồ 19/5. Ngày này có lẽ không đúng, nhưng nhà nước cần một ngày như thế để có cớ ầm ĩ.

Nếu bạn theo dõi một số sinh hoạt trong nước có liên hệ tới những ngày như thế này, có thể đôi khi thấy nhà nước rất tinh vi đã dàn dựng cho ông Hồ một vị trí y hệt như một giáo chủ. Và các cán bộ địa phương ở các tỉnh huyện cũng đua nhau lập đền thờ ông Hồ để lập công dâng đảng. Vậy chớ, nếu dân xin số đề tại Hà Nội mà vào Lăng Ông Hồ xin số hên thì bảo đảm là bị bắt liền.

Thậm chí, có nơi lịch sử còn bị đảng cộng sản Việt Nam viết lại. Thí dụ, đền thờ Quốc Mẫu Âu Cơ tại Cà Mau bây giờ không ai thấy tượng người chồng của bà Âu Cơ là Vua Lạc Long Quân ở đâu cả. Mà trong đền có tên Quốc Mẫu này, chỉ thấy tượng bà Âu Cơ đối diện với tượng ông Hồ. Chính báo nhà nước viết thế đấy.

Mời bạn vào xem báo Bạc Liêu, Số 1323 - Cuối Tuần, nơi bài nhan đề “Tổ đình Quốc mẫu Âu Cơ” đã kể chuyện Bác Hồ bứng ghế Vua Lạc Long Quân, giành ngồi với bà Âu Cơ như sau, trích


Mùng 10 tháng 3 âm lịch năm nay - ngày giổ tổ Hùng Vương và cũng là ngày giỗ Tổ đầu tiên, cán bộ, công chức được nghỉ một ngày hưởng nguyên lương. Nhân ngày kỷ niệm này, xin được nhắc về một đình thờ Tổ của người miền Nam ở cực Nam Tổ quốc.

Ngôi đình đó hiện ở TP. Cà Mau và có tên là Tổ đình Quốc mẫu Âu Cơ. Đây cũng là một trong số ít những ngôi đình thờ bà Âu Cơ ở Đồng bằng sông Cửu Long mà không phải ở tỉnh nào cũng có. Đình được thành lập khoảng đầu những năm 1960, tọa lạc tại đường Nguyễn Trãi, phường 9, TP. Cà Mau, gần đối diện trường Chính trị tỉnh Cà Mau. Trước đây, đình chỉ là gian nhà lợp lá, thờ Quốc mẫu bằng bài vị, không có tượng Quốc mẫu. Điểm đáng chú ý là đình không thờ thêm thần thánh nào khác ngoài bà Âu Cơ.

Năm 1997, đình được trùng tu, xây dựng cơ bản bằng tường gạch, mái ngói, an vị tượng Quốc mẫu, với kinh phí trên 30 triệu đồng do nhân dân địa phương đóng góp. Trong đợt trùng tu này, đình lập thêm một bàn thờ Bác Hồ ở phía trước chính điện đối diện với nơi thờ Quốc mẫu. Chính điện có ngai của vua Hùng. Ngai được làm bằng gỗ, được bá tánh dâng cúng vào ngày 6/12/1965. Phía 2 bên chính điện thờ Quốc mẫu là nơi thờ Lạc thư (bên trái) và Hà đồ (bên phải).

Trong đình có liễn đối bằng chữ quốc ngữ. Hai câu đối nơi chính điện thờ Quốc mẫu là:

DỰNG SƠN HÀ TIÊN MẸ MỞ VĂN LANG (trái)

KHAI THÁNH ĐỊA RỒNG CHA TRUYỀN BÁCH VIỆT (phải)

2 câu viết trên tường, góc dưới chính điện:

* Tạ ơn cha!

Các con mang tình cha qua từng thế hệ đến mảnh đất cuối cùng để dựng dậy hồn thiêng sông núi cho nòi giống tiên rồng (trái)

* Lạy mẹ!

Các con dù nghèo hay giàu ở quê hương hay lưu lạc tha phương từng thế hệ đi qua vẫn mang trong tim tình thương của mẹ (phải)… (hết trích)


Bạn đọc bản tin đó có bao giờ thắc mắc là tại sao Đảng Ủy Cà Mau không dựng trong đền Quốc Mẫu Âu Cơ thêm các tượng quý bà Tăng Tuyết Minh, Nguyễn Thị Minh Khai, hay các Nông Thị và Nguyễn Thị khác cho đông đủ ấm cúng? Ai mà trả lời nổi. Chỉ có cách nhờ các nhà ngoại cảm gọi hồn ông Hồ xem ý ổng thế nào.

Chưa hết, nhà nước chắc là thấy cần tăng thêm liều lượng, nên gần đây mới nhờ một ông Tiến Sĩ giữ chức phó Tỉnh viết bài, và mời nhiều vị sư và cả linh mục ca ngợi Ông Hồ đức độ mấp mé với Phật, với Chúa.

Tác giả bài báo đó là Tiến Sĩ Huỳnh Văn Tới, giữ chức Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai, trên số báo cấp tỉnh Công Nghiệp Đồng Nai vào giữa tháng 3-2007, với bài tựa đề “Bác Hồ Trong Đời Sống Văn Hóa Tinh Thần Của Nhân Dân Đồng Nai”. Trích các đoạn đáng chú ý sau:

…Bàn thờ Bác trong nhà là hiện tượng phổ biến. Gia đình của người Việt ở Đồng Nai có tập quán thờ ông bà và những vị thần có liên quan đến bổn mạng của mình: Táo quân bảo trợ việc bếp núc, các nữ thần là mẹ sanh mẹ độ, ông địa , thần tài phụ trợ việc làm ăn... Từ khi Bác mất, nhiều gia đình có thêm bàn thờ Bác với ý nghĩa Bác vừa là Cha già, vừa là người đem hạnh phúc cho gia đình….

Trong sinh hoạt cộng đồng, người Việt ở Đồng Nai có thờ cúng những người có công lớn, đem lại lợi ích thiết thực cho dân làng. Ở đình thờ thành hoàng bổn cảnh, tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ... tuởng niệm những người đã khuất tuy khuyết danh nhưng có công với mảnh đất dân làng đang sống. Những anh hùng dũng sĩ có công đánh giặc, diệt thú dữ cũng được đưa vào thờ trong đình. Với quan niệm như thế, Bác Hồ vị cứu tinh của dân tộc rất xứng đáng được cộng đồng thờ cúng…

Sau ngày thống nhất đất nước, việc thờ cúng Bác ở đình miếu được nhân rộng. Năm 1982, đình Hắc Lăng (huyện Châu Thành) làm lễ rước vong linh Bác Hồ và liệt sĩ đưa vào điện thờ, thờ cùng với các thần thánh bổn địa. Cách làm ấy được các đình khác học tập. Hiện nay, nhiều đình lập bàn thờ Bác Hồ ở chính điện xem như là một trong nhiều vị thần được phụng thờ.

Ở đền thờ Hùng Vương (Biên Hòa), Bác Hồ được thờ ở tiên điện như là vị Hùng Vương thứ 19. Ngày lễ chính của đền này là ngày 10/3 âm lịch (giỗ Tổ) và 19/5 dương lịch (sinh nhật Bác). Trong ngày lễ hội tại đền, trước bàn thờ Bác Hồ và Quốc tổ Hùng Vương có đủ thành phần: Đảng viên cộng sản, chính quyền địa phương, phật tử, giáo dân, có cả các chức sắc của Thiên chúa giáo và Phật giáo... Ở đây mối quan hệ đoàn kết toàn dân có chung hạt nhân là Quốc tổ, trong đó mặc nhiên Bác Hồ như là vị Quốc tổ thứ 19.

Người Việt gốc Hoa làm nông nghiệp tại Phú Hòa (Định Quán), Tân Phong (BiênHòa) sau ba mươi năm nghèo khó, từ năm 1990 mới vươn lên khấm khá, tổ chức được lễ cầu an theo phong tục cổ truyền. Lễ cầu an không phụ thuộc vào đình miếu, chùa chiền, không định kỳ, khi sung túc mới thực hiện nhằm tạ ơn thánh thần và cầu được mùa, phát đạt. Trong buổi lễ, cần có một chủ vương ngự ở chánh điện để chứng kiến và làm nhịp cầu nối những tấm lòng thành của dân với các đấng thần linh. Những lần trước, chủ vương được chọn là ông trời (Hoàng Thiên) hoặc Quan Thánh đế. Từ năm 1990, vị chủ vương được chọn là Bác Hồ. Ảnh Bác được rước vào chính điện, đặt ở ngôi chủ vương, hai bên là bài vị của 28 vị thần khác. Lý do chọn Bác Hồ làm chủ trương thật dễ hiểu: Chỉ có con đường của Bác Hồ mới dẫn đến đời sống khấm khá chưa từng có hôm nay.

Trong tâm trí của một số chức sắc phụ trách chùa Phật và nhà thờ Thiên chúa giáo ở Đồng Nai, lúc nào cũng có Bác Hồ bên cạnh giáo dân và phật tử Khi Bác mất, thông cáo của Hội nghị liên tịch giữa Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam và các tổ chức nhân dân được truyền đi, nhiều đình chùa ở Đồng Nai hưởng ứng, tổ chức truy điệu Bác bằng cầu siêu, cầu hồn ở chùa, nhà thờ thánh thất. Lễ cầu siêu ở chùa Long Thiền (tổ đình của Phật giáo ở Đồng Nai) có hàng nghìn người đến dự. Hòa thượng Thích Huệ Thành cho rằng: Bác Hồ có cốt cách và đức từ bi của Phật. Ni sư Huệ Hương (trụ trì chùa Bửu Phong) xem Bác Hồ như là một trong "những Giáo chủ của Phật giáo" và luôn nhang khói cho Người. Với linh mục Nguyễn Kim Đoan (giáo xứ Bùi Thượng) Bác Hồ có đức độ gần với Chúa sáng thế, ông luôn có ảnh Bác Hồ trên bàn làm việc và thường trích dẫn lời Bác Hồ để giáo huấn con chiên. Thực hiếm thấy một nhân vật lịch sử cùng được tôn vinh ở các tầng lớp nhân dân và ở các tôn giáo như vậy. (hết trích)


Xin đọc kỹ đoạn cuối vừa dẫn, và xem lại có phù hợp với kinh điển các tôn giáo hay không? Vì tôn trọng chiếc áo của các thầy tu, người viết không muốn bàn sâu lời của các tu sĩ đã ca ngợi ông Hồ như thế.

Chỉ thắc mắc là: không rõ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam và Hội Đồng Giám Mục Công Giáo VN đã chính thức có ý kiến phong thánh cho ông Hồ chưa?


Và cuối cùng, xin ghi thêm tình hình rằng trong khi Đảng cộng sản Việt Nam thúc đẩy cả nước tôn thờ ông Hồ thì “Tượng đài Trần Hưng Đạo (Nha Trang) đang xuống cấp nghiêm trọng…”. Đó là tựa đề một bản tin trên Đài Tiếng Nói Việt Nam từ Hà Nội, trích vài đoạn như sau:

http://www.danchimviet.com/php/images/052007/tranhungdao.jpg
Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (Nam Định, Việt Nam)
Nguồn: http://www.my.opera.com/
--------------------------------------------------------------------------------

Tại Nha Trang, trong khi đền thờ Trần Hưng đạo được bảo quản, chăm sóc chu đáo thì ngược lại, tượng đài ông ở công viên Bạch Đằng lại ít được quan tâm, bảo vệ, giữ gìn, tôn tạo đúng tầm với giá trị lịch sử của dân tộc…

Theo Ông Nguyễn Văn Thích, Phó giám đốc Trung tâm quản lý di tích, Danh lam thắng cảnh Khánh Hoà, tượng đài Trần Hưng Đạo tại công viên Bạch Đằng là một công trình văn hoá mang tính chất tiêu biểu của thành phố. Ở đường Nguyễn Trãi, còn có đền thờ ông. Sự kết hợp giữa đền thờ và tượng đài tạo nên một bản sắc truyền thống độc đáo của người dân Khánh Hoà.Không chỉ thể hiện truyền thống độc đáo của người dân Khánh Hoà, đây còn là nơi hàng năm tổ chức lễ dâng hương, rước xe hoa hết sức long trọng và tôn nghiêm trong lễ hội Đức Thánh Trần. Tuy nhiên, thực tế là một câu chuyện đáng buồn. Những bức phù điêu thể hiện cách điệu các trận đánh lịch sử đã bị đập phá sứt mẻ không thương tiếc, toàn cảnh khuôn viên xác xơ, hoang tàn.Ông Đàm Quang Hát - Trưởng ban quản lý đền thờ Trần Hưng Đạo-Nha Trang cho biết: "Ngày mồng 1, ngày Rằm và ngày Lễ hàng năm, chúng tôi đều dâng hương tại tượng đài Đức thánh Trần với nghi thức cổ truyền. Chúng tôi cũng đã nhiều lần phối hợp với sở Văn hoá Thông tin, Trung tâm Văn hóa-Thể thao tỉnh Khánh Hòa tổ chức rước xe hoa từ đền Trần Hưng Đạo đến Công viên Bạch Đằng một cách long trọng, tôn nghiêm. Nhưng hiện nay tượng đài tại Công viên Bạch Đằng quá xuống cấp, hư hại tất cả phù điêu, hoa văn bị đập phá, nhất là cây cảnh không có người chăm sóc".Không chỉ người có liên quan đến việc thờ cúng Đức thánh Trần mới bức xúc như vậy mà những người làm công tác quản lý văn hoá tại địa phương cũng buồn vì sự xuống cấp của tượng đài.Ông Nguyễn Văn Thích - Phó Giám đốc Trung tâm quản lý di tích- danh lam thắng cảnh Khánh Hoà cho biết, một thực trạng đáng buồn là hiện nay khu vực tượng đài không được ai chăm sóc để tôn vinh giá trị của dân tộc ta… (hết trích)


Thế đó. Bác Hồ đẩy vua Lạc Long Quân ra, để Bác vào ngồi ngang hàng Quốc Mẫu Âu Cơ. Ông Phó Tỉnh Đồng Nai cũng khéo làm sao gài được một vị sư, một vị ni, và một linh mục đồng thanh ca ngợi ông Hồ mấp mé ngang hàng Phật và Chúa. Bài viết của ông Phó Tỉnh mà dịch ra Anh Văn cho quốc tế đọc, thì cả thế giới tha hồ mà cười tới sập cả lăng. Trong khi đó, Đức Trần Hưng Đạo bị đẩy lui vào bụi mờ lịch sử…

Chỉ ghi vài chuyện cho đồng bào mình đọc, để thử suy nghĩ xem nhà nước cộng sản Việt Nam tính toán gì mà cho thiết lập Hồ Giáo như thế. Hồ Giáo, Hồ Giáo, Hồ Giáo là gì ? Trả lời theo kiểu Miền Tây Nam Bộ của dân mình là: Biết chết liền.

--------------------------------------------------------------------------------
Bài do tác giả gởi đến. DCVOnline biên tập và minh hoạ

dc
-----
http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=1836

http://www.doi-thoai.com/baimoi0507_198.html
http://www.tiengnoigiaodan.net/

Hồ Chí Minh bị Lê Duẩn lấn át, khống chế?

Hồ Chí Minh bị Lê Duẩn lấn át, khống chế?
Thursday, January 29, 2004

MINH VÕ

Nhiều tác giả ngoại quốc cho rằng ông Hồ là người ôn hòa “có lòng nhân ái”, hay ít nhất không có xu hướng dùng bạo lực. Chuyện đảng CSVN quyết dùng võ lực “thống nhất” đất nước, đẩy nhân dân vào lò chiến tranh khốc liệt gây thương vong cho hàng chục triệu người, là do nhóm Lê Duẩn chủ trương, mà ông Hồ không ngăn cản được vì thuộc thiểu số. Nói lên điều này có thể bị nhiều người đã quá hiểu ông Hồ chế riễu là ngây thơ hoặc kết tội “làm lợi cho CS”. Nhưng vì đây là ý kiến của số đông tác giả CS và ngoại quốc đã được ghi lại trong nhiều pho sách lớn, hiện nằm trong các thư viện và đại học ở Mỹ, nên thiết tưởng cũng nên đem ra mổ xẻ để xem rõ thực hư.

Trước hết hãy xét qua về tính tình và hành động của ông Hồ qua nhận xét của một số người ngoại quốc có dịp gặp ông. Không chỉ có những người Mỹ như Archimedes Patti, Charles Fenn, Gallagher hay anh chàng John nào đó mà cả những tác giả Pháp như Bernard Fall, Jean Lacouture và Jean Sainteny... đều cho rằng HCM là con người ôn nhu “ngọt ngào”. Sự việc ông hay khóc, hay ôm hôn nhi đồng, cởi áo khoác của mình tặng một sĩ quan Pháp (*) hay lấy áo len của mình cho một người lính đứng gác với mảnh áo phong phanh trong mùa đông (**)...cũng được nhắc tới như biểu lộ của lòng nhân ái.

Ngay việc ông ký hiệp định sơ bộ 6- 3- 1946 với Pháp, việc ông giải tán đảng CS, lập chính phủ liên hiệp với phe đối lập không cộng sản và chống cộng sản, cũng được nhiều nhà báo và sử gia ngoại quốc coi như những bằng chứng về sự ôn hòa.

Thời ông còn sống có hai bản hiến pháp ra đời (1946 và 1959) đều không nói đến chuyên chính vô sản và độc quyền lãnh đạo của đảng CS. Nhiều người coi đó là những bằng chứng về sự ôn hòa của HCM.

Khi tổng thống Ngô Ðình Diệm sắp bị giết, nhiều người đã nói đến tin HCM gửi tặng ông cành đào có đính kèm thiệp chúc Tết (quý mão, 1963) và một loạt những cử chỉ hành động biểu lộ thiện chí muốn thương thuyết - giải quyết vấn đề thống nhất trong hòa bình (?)- giữa Ngô Ðình Nhu và Phạm Văn Ðồng và những đàn em khác trong đó có Phạm Hùng, từng là nhân vật số hai (sau Lê Duẩn) của cộng đảng ở miền Nam trước đó 8 năm.

Nguyễn Văn Trấn, từng là một trong mấy cán bộ CS cao cấp nhất của miền Nam, sau khi đã phản tỉnh đã thuật lại trong cuốn “Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội” về thái độ của HCM đối với Liên Xô và Bắc Kinh. Tác giả cho rằng HCM theo đường lối “sống chung hòa bình” của Khrutshchev, nhưng bị thiểu số, bị Lê Ðức Thọ (đàn em ruột của Lê Duẩn) khống chế. Ông trích dẫn lời Bùi Công Trừng tả cảnh ông Hồ chủ trì hội nghị trung ương lần thứ 9 ngày 11- 12- 1963 (chỉ hơn một tháng sau khi tổng thống Ngô Ðình Diệm bị giết). Nguyên văn lời Bùi Công Trừng nói với tác giả:

“Mày coi, coi nó tội nghiệp không. Ðồng chí HCM muôn vàn kính yêu của chúng ta bận đồ lụa gụ, chủ trì hội nghị mà mặt day ra sân. Có lỗ tai tự nhiên nó phải hứng những lời công kích mạt sát Liên Xô. Khi chướng tai quá, quay vô, đưa tay để nói, thì thằng Thọ lễ phép Bắc Hà: “Bác hãy để cho anh em người ta nói đã mà.”

“Tao đếm lão Hồ, đưa tay mấy lần, lần nào thằng Thọ cũng kịp ngăn. Cuối cùng ông cũng cho hội nghị nghe, ông nói ca dao bằng tiếng khóc: Khi thương trái ấu cũng tròn. Khi ghét bò hòn cũng méo. Và ông nói xụi lơ: Thấy lợi người ta cho tên lửa vô; thấy bất lợi người ta rút ra mà!” (1)

Kết quả của hội nghị này là nghị quyết số 9, một nghị quyết tối quan trọng, mở màn cho cuộc tấn công miền Nam, sau khi tổng thống Ngô Ðình Diệm, rồi tổng thống John F. Kennedy bị giết trong vòng 3 tuần lễ trong tháng trước. Hai vị tổng thống đều có chủ trương rút quân Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam, mặc dù lúc ấy cũng chỉ mới có 16 ngàn lính Mỹ được tăng cường từ cuối 1962.

Có nhiều lý do để cho rằng cái chết bất thình lình của hai vị tổng thống nói trên đã khiến Trung Cộng thay đổi thái độ, thúc đẩy phe thân Trung Cộng trong Cộng Ðảng Việt Nam phải tốc chiến tốc thắng, để đặt tình hình Nam Việt Nam trước một sự đã rồi, trước khi quân Mỹ chắc chắn sẽ đổ vào Việt Nam để Mỹ hóa cuộc chiến tranh này, khiến Trung Cộng sẽ không có cách gì tránh bị lôi vào vòng chiến với siêu cường Mỹ. Trước kia (ngay từ tháng 7 năm 1954) Trung Cộng đã tỏ ý không chống-mà còn có vẻ muốn giao hảo với chính quyền Ngô Ðình Diệm (***) -Vì họ biết ông Diệm không phải là người muốn Mỹ hóa cuộc chiến tranh. Và có lẽ cũng vì muốn duy trì 2 nước Việt Nam hòng tránh phải đối phó với một Việt Nam thống nhất hùng mạnh và ương ngạnh.

Nay thì tình hình đã khác. Với những tướng lãnh chỉ biết theo lệnh Mỹ mới lên cầm quyền, miền Nam sẽ trở thành căn cứ quân sự của Mỹ trong nay mai. Lợi dụng lúc tình hình bất ổn ra tay trước để chiếm ưu thế là thượng sách. Người ta cho rằng đó là lý do khiến Trung cộng thay đổi chiến lược và những tay thân Trung Cộng, có xu hướng dùng võ lực tấn công Miền Nam chiếm ưu thế trong đảng CSVN.

Tuy nhiên bảo rằng ông Hồ không tán thành chủ trương của Trung Cộng, chỉ vì bị thiểu số mà tuân theo ý đồ hiếu chiến của nhóm Lê Duẩn, thì cũng không đúng. Muốn tìm hiểu ông Hồ có bị nhóm Lê Duẩn khống chế hay lấn át không, tưởng cần phải xem nguồn gốc của Lê Duẩn và trường hợp ông ta được đưa lên lãnh đạo đảng.

Lê Duẩn là người miền Nam, sinh tại Triệu Phong, thuộc tỉnh Quảng Trị liền dưới vĩ tuyến 17. Trong đệ nhị thế chiến, rồi trong kháng chiến từ 19- 12- 1946 đến 20- 7- 1954 ông ta đã 2 lần bị tù vì chống Pháp, tổng cộng 10 năm tại Côn Ðảo. Ðến khi cách mạng tháng 8 thành công, các đồng chí đã quên ông. Mãi mấy tuần sau mới rước ông về cho giữ một chức vụ kém quan trọng mà ông cho là bỉ mặt ông, coi thường thành tích đấu tranh trong quá khứ của ông. Vì vậy ông có vẻ hận những kẻ như Trần Văn Giàu, Nguyễn Bình và cả Võ Nguyên Giáp... Sau hiệp định Genève, Lê Duẩn tình nguyện ở lại nằm vùng để duy trì lực lượng và tiếp tục gây rối miền Nam. Ông được coi là người có óc tổ chức giỏi, mặc dù xuất thân từ một gia đình thợ mộc, học thức mới qua bậc tiểu học, từng làm việc bẻ ghi cho công ty đường sắt, nhưng nhờ chịu học hỏi trong những năm tù ở Côn Ðảo, nên có một kiến thức khá sâu rộng về mặt tổ chức cách mạng. Nhờ thế, sau khi trung tướng Nguyễn Bình bị loại, (2) vào năm 1951, ông đã thay ông này lãnh đạo “Cục R”, là tổ chức trung ương của chi nhánh CS tại miền Nam một cách đắc lực.

Sau khi cải cách ruộng đất ở miền Bắc gây bất mãn trong nhân dân và trong nội bộ đảng, vì có quá nhiều đồng chí bị giết oan, tổng bí thư Trường Chinh bị ông Hồ cất chức. Lúc ấy ai cũng nghĩ ông Hồ sẽ cử tướng Võ Nguyên Giáp lên thay vì tướng Giáp là anh hùng Ðiện Biên, tên tuổi vang lừng chẳng những trong nội bộ đảng và nhân dân miền Bắc, mà trên khắp thế giới. Hơn nữa chính ông Hồ đã phải nhờ tiếng “thơm” của VNG để xoa dịu sự căm phẫn của nhân dân, bằng cách cử VNG đại diện đảng xin lỗi nhân dân vì những sai lầm trong CCRÐ. Nhưng có lẽ cũng vì tiếng tăm đó khiến ông Hồ đắn đo, không muốn để VNG lãnh đạo đảng, sợ rằng uy tín thế lực của VNG sẽ lấn át chủ tịch đảng. Vì thế ông Hồ đã đích thân kiêm nhiệm chức tổng bí thư đảng trong một thời gian.

Năm 1957, sau một thời gian vắn sinh hoạt tại miền Bắc, Lê Duẩn được ông Hồ cho tạm xử lý chức tổng bí thư. Thực ra lúc ấy Lê Duẩn chưa có tiếng tăm gì. Lại là người miền Nam, trong khi ban chấp hành trung ương đảng gồm đa số người Bắc (bắc vĩ tuyến 17). Cho đến đại hội 3 vào năm 1960, Lê Duẩn với sự giới thiệu của ông Hồ, mới được bầu vào chức bí thư thứ nhất của đảng, tương đương với chức tổng bí thư cũ của Trường Chính. Nhưng danh xưng nghe có vẻ hơi lép vế. Như vậy trong khi điều hành công việc đảng, Lê Duẩn sẽ phải dựa vào uy tín và sự chỉ đạo của HCM hơn, và do vậy sẽ phải trung thành hơn. Có người cho rằng đó chính là lý do Lê Duẩn được HCM chọn. Nhưng cũng có người lại nghỉ, sở dĩ ông Hồ chọn Lê Duẩn vì Lê Duẩn có công và có kinh nghiệm với chiến trường và nhân dân miền Nam. Và, nhất là LD là người quyết tâm thực hiện thống nhất bằng bất cứ giá nào, kể cả cuộc chiến đẫm máu. Xem ra cả hai lý do đều có cơ sở.

Những ai thường nhắc đến chuyện ông Hồ luôn ôm ấp trong lòng mộng giải phóng miền Nam, coi đó như ước nguyện cả đời ông, chắc phải đồng ý về lý do chọn lựa này. Chính ông Hồ đả chẳng thốt ra trong lúc bệnh nặng ở vùng Việt Bắc, trong cơn mê sảng rằng dù có phải đốt cháy hết dẫy trường sơn, cũng phải đánh đó sao? Ông đã chẳng nhiều lần hứa với nhân dân: dù có phải chiến đấu 5 năm hay mười năm, hai mươi năm hay lâu hơn nữa cũng nhất quyết đánh đó sao? Và như vậy những gì LD làm có thể bảo là đi ngược lại chủ trương đường lối của ông Hồ không?

Tuy nhiên có một sự kiện sau đây khiến phải suy nghĩ, được nhà báo Thành Tín kể lại trong cuốn “Vietnam, la face cachée du régime” và tác giả nói là ông có ghi âm trước nhiều nhân chứng khác. Ðó là việc chính Lê Duẩn khoe khoang, cho rằng mình hơn ông Hồ. LD chê HCM không dám chủ trương chiến tranh, chỉ dám có ảo vọng thống nhất bằng đường lối hòa bình. Ðây mời bạn đọc theo dõi lời tường thuật của Bùi Tín mà chúng tôi tạm dịch sau đây:

”Một hôm ông ta (LD) khoe khoang trước những người được chính thức cử viết tiểu sử của ông ta - trong đó có tôi-: “Sau hiệp định Genève bác Hồ vẫn tiếp tục tin rằng tổng tuyển cử sẽ có thể xảy ra được trên toàn quốc. Ðó chỉ là ảo tưởng. Tôi nhìn sự việc đúng hơn Bác. Tôi lập tức tiên liệu việc phải dùng tới bạo lực cách mạng. Tôi bảo các đồng chí miền Nam hãy chôn vũ khí. Chính tôi đã bảo họ để lại lực lượng tại miền Nam chứ đừng tập kết hết ra Bắc.” (3)

Ðọc Bùi Tín thì thấy, tuy tác giả cũng có ý nghĩ ông Hồ đỡ hiếu sát hơn mấy đàn em, nhưng xem ra trong trường hợp này ông không tin LD, vì cho rằng LD hiếu danh vào hay khoe mẽ. Vả lại LD chỉ dám khoe sau lưng HCM. Ðúng ra ông Hồ đã chết được 14 năm rồi: Chuyện xảy ra năm 1983, chỉ còn 3 năm nữa đến lượt Lê Duẩn theo “bác” đi gặp Các Mác và Lênin.

Vũ Thu Hiên thì trưng dẫn lời của thân phụ ông là Vũ Ðình Huỳnh từng là người rất thân cận của ông Hồ cho rằng ông Hồ không chủ trương dùng bạo lực. Và còn muốn người ta xét ông Hồ một cách công bình. (4) Nói về Lê Duẩn, tác giả Ðêm Giữa Ban Ngày viết: “Không có chiến tranh, LD không còn là LD. LD chẳng ngần ngại chê bai HCM không dám chủ trương dùng bạo lực giải phóng miền Nam. “Bác còn do dự, chớ khi rời miền Nam tui đã chuẩn bị hết cả rồi. Với tui chỉ có uýnh thôi, uýnh cho tới thắng lợi cuối cùng”. (5)

Tôi đã trưng dẫn Nguyễn Văn Trấn, Bùi Tín, Vũ Thư Hiên. Cả ba người đều đã phản tỉnh vì chán ghét chế độ CS. Nhưng cả ba đều xem ra hãy còn nghĩ ông Hồ không chủ trương bạo lực. Như vậy khỏi cần đọc các tác giả CS khác vì họ cũng không nói khác được. Chính vì vậy mà những nhà khoa bảng và học giả Tây Phương khi viết sách về HCM, phần nhiều chỉ dựa vào những nhận xét tương tự để viết. Không lạ gì hầu hết đều khen ông Hồ khoan hòa, nhân ái và không chủ trương bạo động. Vậy chuyện hiếu chiến, quyết dùng chiến tranh tàn bạo để “thống nhất” phải là chuyện của đàn em ông Hồ đứng đầu là Lê Duẩn, được sự trợ tá đắc lực của Lê Ðức Thọ, người Bắc (Nam Ðịnh),

Với tất cả những gì được trình bày từ đầu, xem ra lập luận trên có vẻ xác đáng. Nhưng mổ xẻ kỹ từng vụ việc người đọc sẽ thấy không hẳn như vậy.

Trước hết, xin nhắc lại lời ông Hồ trả lời cho ông Vũ Ðình Huỳnh là thân phụ của nhà văn Vũ Thư Hiên hồi mùa thu năm 1946 tại Paris khi ông Huỳnh hỏi ông Hồ tại sao lại có thể khóc một cách dễ dàng như vậy tại nghĩa trang Père Lachaise. Ông Hồ trả lời: “Làm chính trị thì phải biết cười khi cần cười, biết khóc khi cần khóc.” Ông Hồ đã khóc rất nhiều lần. Với ông Nguyễn Hải Thần. Trước nhân dân sau cải cách ruộng đất. Sau khi ký hiệp định sơ bộ 6- 3- 1946... Nước mắt của nhà chính trị khác nước mắt người thường ở chỗ nó không chân thật. Nói cách khác là một kịch cảnh. Nhưng nó lại giống hệt như thực lòng.

Cũng tương tự như vậy, khi ông cười nói nhẹ nhàng giản dị đơn sơ có vẻ đầy tình người với những Patti, Fenn, Gallagher, hay Lacouture, Bernard Fall, Sainteny hay Wilfred Burchett, hay France Fitzgerald... hay bất cứ nhà báo nào khác, hoặc khi ông cố tình đi dép ăn mặc sơ sài từ ngoài bước vào “tiếng chân nhẹ nhàng như tiếng lụa xào xạc”, (chữ của Lacouture) trong khi nhà báo đang bàn luận nghiêm túc với thủ tướng Phạn Văn Ðồng về những vấn đề quan trọng. Rồi điềm nhiên hỏi sang những vấn đề cá nhân của nhà báo tỷ dụ như chân dung của HCM do phu nhân Bernard Fall vẽ vân vân... Những cử chỉ lời nói tuy thấy rất tự nhiên đó, thực ra đã được xếp đặt trước để gây cảm tình, để “đắc nhân tâm” là điều một chính khách chuyên nghiệp đã thuộc làm lòng và xử sự vô cùng tự nhiên như bản tính tự nhiên. Không phải là chính khách già dặn thì khó nhìn ra cách giả tạo của nó. Ông Hồ hơn người ở chỗ ông giả tạo một cách rất tự nhiên. Vì ông đã được học tập và rèn luyện rất kỹ khi bắt đầu làm điệp viên thượng thặng cho QTCS. Ông còn được đào luyện hơn thế nữa. Chẳng những là điệp viên mà ông còn là một nhà chiến lược, am tường cặn kẽ mọi lời dạy của lãnh tụ Lênin. Vì không biết dĩ vãng của ông Hồ trong thời gian học tập và rèn luyện (trong hơn 4 năm) về nghề gián điệp tình báo để hoạt động cách mạng bí mật cho nên những người Tây phương được gặp ông đều lầm.

Về những lời dạy của sư phụ Lênin, ông Hồ đã áp dụng triệt để khi giải tán đảng CS, ký hiệp định sơ bộ, và lập chính phủ liên hiệp. Ðọc chương đầu của phần II này, bạn đọc đã thấy rõ.

Về 2 bản hiến pháp được ban hành trong thời gian ông Hồ còn sống. Ðúng là chúng không mang tính độc tài, độc đảng, chuyên chính vô sản như hai bản hiến pháp sau này, khi ông đã chết. Nhưng như vậy không phải vì ông dân chủ hơn, vì dân tộc hơn. Mà chỉ vì, theo chiến lược sách lược giai đoạn, chưa toàn thắng thì chưa thể công khai hóa nền chuyên chính vô sản. Hơn nữa với CS hiến pháp chỉ là món đồ trang trí. Nó không có hiệu lực thực tế. Vì có bao giờ họ thực lòng áp dụng hiến pháp đâu. Cứ nhìn vào cuộc cải cách đẫm máu, “long trời lở đất”, cuộc đàn áp dã man các văn nghệ sĩ trong vụ án “nhân văn, giai phẩm”, vụ bắt bớ giam cầm hằng trăm người trong cái gọi là vụ án xét lại chống đảng, và chế độ báo chí hoàn toàn bưng bít ngay trong thời gian ông Hồ còn sống với 2 bản hiến pháp đó đủ rõ.

Về vấn đề ông Hồ tính chuyện cùng với chính quyền miền Nam lập “liên bang Ðông Dương” và khởi sự có những tiếp xúc sơ khởi với ông Ngô Ðình Nhu, thì đây là một vấn đề khá phức tạp và còn nhiều bí ẩn. Không có tài liệu chính thức nào từ phía VNDCCH cũng như từ phía Ðệ Nhất Cộng Hòa được công bố. Vì vậy không đủ dữ kiện để phán xét. Tuy nhiên chúng tôi cũng xin giả thiết là nó có thực, để bàn thêm cho vui. Vì thực ra rất nhiều người vẫn coi đó là chuyện có thực. (6)

Trước hết hãy xét về phía Bắc Việt. Ông Hồ là người Mác Xít, đồ đệ ruột của Lênin, và từng được gọi là “kẻ theo chủ nghĩa Stalin thuần thành”, được chính Khrutshchev gọi là “tông đồ” của chủ nghĩa CS. (7) Ðọc phần I, độc giả đã thấy chính những tác giả ca tụng ông Hồ là người yêu nước đã viết ra, chứ không phải chúng tôi khẳng định vô căn cứ. Với tư cách đó, mục tiêu chiến lược tối hậu của đấu tranh cách mạng của ông Hồ phải là tiêu diệt chủ nghĩa tư bản. Nhưng mục tiêu chiến lược giai đoạn của ông (lúc đó) có thể là đánh đổ chế độ đệ nhất Cộng Hòa. Và trước khi đạt mục tiêu chiến lược giai đoạn này, ông có thể áp dụng mục tiêu sách lược giai đoạn tạm thời hòa hoãn với chính quyền Ngô Ðình Diệm mà ông biết anh hai Trung Cộng đã từng có lần muốn giao hảo, thiết lập bang giao, và anh cả Liên Xô (1957) từng có lúc đề nghị thu nhập vào Liên Hiệp Quốc, và cũng là chính quyền được nhiều nước trên thế giới công nhận hơn chế độ của ông Hồ, hơn nữa nó lại có ưu thế về kinh tế.

Nếu vì cái mục tiêu sách lược vắn hạn này mà ông Hồ tính chuyện (tạm thời) hiệp thương thì cũng không có gì lạ.

Về phía VNCH, có người như sử gia Hoàng Ngọc Thành phê bình ông Ngô đình Nhu là nuôi ảo tưởng. Nhưng thực ra anh em ông Diệm đã có kinh nghiệm với CS. Họ không lạ gì những mánh lới gian xảo của CS. Vì hiểu biết rõ CS nên ông Diệm ngay từ đầu đã không bị lầm như Huỳnh Thúc Kháng và các đảng phái quốc gia khác hồi năm 1945. Ông đã dứt khoát từ chối hợp tác với HCM trong một chính phủ liên hiệp. Nhưng đó là vào lúc ông chưa có thế lực gì. Hợp tác với CS sẽ bị CS chi phối hoàn toàn. Còn bây giờ thì khác. Cái thế của ông hơn hẳn cái thế của ông Hồ, mặc dầu do vụ Phật giáo, và áp lực của Mỹ nó đã có phần kém mấy năm về trước.

Cứ xét tình hình cả hai phía lúc ấy, chuyện đi đến hiệp thương giữa hai miền có thể thực hiện được, và có thể có lợi cho cả hai bên. Cả hai miền sẽ giảm áp lực của ngoại bang. Ít nhất là trong một thời gian nào đó hai bên sẽ thi đua phát triển về mọi mặt cho đến khi một bên sẽ vượt trội lên để rồi thống nhất đất nước theo chế độ của mình. Và như vậy toàn dân sẽ được hưởng một giai đoạn tương đối an bình, tránh được cuộc chiến ác liệt như nó đã diễn ra hơn một năm sau khi anh em ông Diệm chết.

Nhưng đó là giả thiết áp lực của Liên Xô, Trung Cộng trên miền Bắc và áp lực của Mỹ đối với miền Nam không quá mạnh để phá vỡ kế hoạch hiệp thương đó. Trong thực tế vì quyền lợi các nước lớn, và vì tình hình căng thẳng giữa hai khối Ðông, Tây trên thế giới lúc ấy, đó là một chuyện rất khó thực hiện. Tuy nhiên không phải hoàn toàn là ảo tưởng. Và đối với VNCH, hiệp thương lần này không nhất thiết sẽ thất bại như sự liên hiệp của các đảng phái quốc gia với CS hồi năm 1945- 1946. Hơn nữa đồng minh Hoa Kỳ đã dồn ông Diệm vào cái thế phải thương lượng với miền Bắc.

Bây giờ lại xét về phía ông Hồ. Ông có thực lòng muốn sống chung hòa bình với chính quyền miền Nam hay không? Hay đây chỉ là cái bẫy ông giăng ra để anh em ông Diệm sa vào rồi bị giết? Trong thực tế, người Mỹ đã coi việc ông Diệm để em ông tiếp xúc với Bắc Việt như một cái cớ để lật ông. Tuy nhiên cũng có thể cho rằng ông Hồ không cố tình giăng bẫy. Ðó chỉ là sự rủi ro về phía ông Diệm.

Dầu sao, có một điều chắc chắn. Ðó là sách lược giai đoạn mà ông Hồ luôn áp dụng theo các nguyên lý của chủ nghĩa Lênin. Vì ông là “tông đồ” của chủ nghĩa đó nên tuy “ông sống và làm việc nhưng không phải ông, mà chính Lênin sống và hoạt động trong ông”. (8)

Chính vì sống khắng khít với sư tổ Lênin như thế nên lúc nào ông cũng uyển chuyển sẵn sàng thay đổi chiến lược, sách lược đấu tranh tùy theo tình hình. Cũng theo tinh thần đó và bối cảnh đó, ta có thể giải thích thái độ của ông trong hội nghị trung ương 9 vào trung tuần tháng 12- 1963 được Nguyễn Văn Trấn thuật lại trong sách của ông, và chúng tôi vừa trích dẫn một lời vắn tắt của Bùi Công Trừng. Nghe họ Bùi nói thì tội nghiệp cho ông Hồ thật. Chủ trì buổi họp mà bị anh chàng Lê Ðức Thọ, cánh tay mặt của Lê Duẩn o ép, không cho nói. Chuyện có vẻ khôi hài khó tin. Nhưng có thật. Vì chả nhẽ ông già Chợ Ðệm nỡ đặt điều nói dối mẹ ông. Ðây là thư viết gửi mẹ... mà.

Quả tình sau cái chết của ông Diệm, tình hình đột biến ngoài sự chờ đợi của ông Hồ. Nước cờ ông định đi bỗng khựng lại. Những kẻ chủ chiến từ Bắc Kinh và từ nội bộ đảng của ông ào ào tiến lên như vũ bão. Là chủ tịch đảng, chủ tịch nước, hơn nữa là một chính trị gia già dặn, ông chẳng khác nào người chủ ghe đang lái con thuyền buồm bỗng thấy cảnh “trái gió cho nên phải lộn lèo” (9) Người lái thuyền buồm phải nương theo gió, theo dòng nước mà điều khiển “tay lái tay lèo” là thế. Hãy cứ giả vờ như mình bị nhóm hiếu chiến áp đảo đi. Vì lúc này đây trong bụng mình cũng đã thuận theo chiều gió ấy rồi. Giơ tay mà đàn em không cho nói càng hay. Vì nếu nó để cho nói đâm ra lại khó nói. Ðó là cái khôn khéo trí trá của một chính khách xảo quyệt, lâm lúc khó xử. Chứ với cương vị của ông, và với sự thần phục tôn thờ của lũ đàn em chung thủy, nếu ông cương quyết dùng quyền chủ tịch, chủ tọa hội nghị, nhất định bắt hội nghị lắng nghe, thì bố anh chàng Lê Ðức Thọ cũng chẳng dám cản ngăn. Nguyễn Văn Trấn, Bùi Công Trừng, Ung Văn Khiêm toàn là những người miền Nam thẳng ruột ngựa khó mà hiểu nổi thâm ý lắt léo của ông Hồ. Chả trách những nhà báo tây phương trẻ măng lúc ấy.

Cũng chính trong hội nghị 9, đẻ ra nghị quyết 9 sặc mùi hiếu chiến này, ông Hồ đã “đánh lừa” cả tướng Lê Liêm. Theo Vũ Thư Hiên thì ông Hồ đã khuyến khích Lê Liêm phát biểu chống dùng võ lực, và hứa ông sẽ ủng hộ. Nhưng khi Lê Liêm phát biểu bị nhóm Lê Duẩn Lê Ðức Thọ khiền, thì chủ tịch HCM vẫn im lặng. Có phải vì HCM sợ đàn em hiếu chiến không? Hay đây là kế hoạch dùng Lê Liêm làm con mồi để dụ những tay “phản chiến” ra mặt? Ai mà biết được mưu sâu của “cáo già”! Cũng trong hội nghị này, trong giờ giải lao Dương Bạch Mai, một trí thức miền Nam, có xu hướng đệ tứ, sắp đọc một tham luận quyết liệt chống thống nhất bằng võ lực, thì đột tử. Căn cứ vào những sự việc xảy ra trước và liền sau khi DBM chết được VTH thuật lại tỷ mỷ trong “Ðêm Giữa Ban Ngày” thì phải kết luận: chắc chắn ông bị đầu độc. Nhưng ngoài ông Hồ, ai dám quyết định và hạ lệnh thi hành tội ác đó với một ủy viên trung ương đảng, phó chủ tịch quốc hội?

Nhà thương thuyết Jean Sainteny, trong cuốn Histoire d’une paix manquée, khi nói về hội nghị Ðà Lạt (sau hiệp định sơ bộ 6- 3- 46, trước hội nghị Fontainebleau) đã cho rằng Võ Nguyên Giáp là kẻ có cá tính mạnh đáng sợ và chi phối hoàn toàn hội nghị này, trong khi đó thì HCM mềm dẻo và hiếu hòa hơn tại Paris. (9bis) Tiếc rằng lúc ấy ông không biết chính HCM mới là người điều khiển hoàn toàn hội nghị Ðà Lạt, bất chấp vai trò trưởng đoàn của bộ trưởng Ngoại Giao Nguyễn Tường Tam, HCM đã đặt Phùng Thế Tài làm mật báo viên và chuyên viên về mật mã cạnh hội nghị để thường xuyên báo cáo cho HCM mọi diễn biến của hội nghị và chuyển chỉ thị của HCM cho Võ Nguyên Giáp, qua mặt Nguyễn Tường Tam. Ðọc lại kỹ chương về Phùng Thế Tài, độc giả sẽ rõ. Chính vì biết rõ và nhớ kỹ điều đó, nên VNG mới viết hẳn một cuốn sách nhan đề “Hồ Chủ Tịch, nhà chiến lược thiên tài” để ca tụng HCM. Vì một mặt HCM tỏ ra rất mềm dẻo, nhưng một mặt chỉ thị cho đàn em hết sức cứng rắn. Mục đích là để có thể thi hành sách lược mềm nắn rắn buông, và sách lược “tay đấm tay xoa”, làm cho đối phương như vào mê hồn trận. Ngay khi mới về nước, ông Hồ đã nổi tiếng là kẻ có bàn tay sắt bọc nhung, chuyên đổ lỗi cho cấp dưới. Nhưng thực ra không có chỉ thị hay sự chấp thuận của ông, không tay em nào dám lộng hành.

Chuyện VNG lộng quyền tàn sát đối lập khi ông Hồ ở Pháp cũng được các tác giả ngoại quốc nhận xét: VNG hiếu sát, còn HCM hiếu hòa! Những người đó không hiểu chiến pháp TUYÊN TRUYỀN hai mặt của các chiến lược gia cộng sản! Lãnh tụ phải có bộ mặt nhân ái, hòa hoãn, hiếu sinh. Chuyện hiếu chiến, hiếu sát phải để đàn em thi hành, rồi có gì không ổn, đổ lỗi cho đàn em!

Muốn xét ông Hồ có bị đàn em lấn quyền hay không, cũng cần phải xét đến những lời ca tụng, tôn thờ của toàn thể bộ chính trị và các cây viết của đảng dành cho ông Hồ, từ khi ông còn sống cho đến khi đã chết. Có ai dám công khai nói hay viết câu nào phê bình HCM không? Ai đã xây lăng tốn phí để thờ HCM? Ai đã đặt tên Saigon là thành phố HCM? Ai đã đưa ra tư tưởng Hồ Chí Minh? Ai đã cho sưu tập tất cả những lời nói bài viết của HCM làm thành bộ “HCM toàn tập” giống hệt những bộ Lênin, Stalin, Mao Trạch Ðông Toàn Tập, coi như sách thánh? Nếu ông Hồ yếu kém, không dám chỉ huy cuộc chiến xâm chiếm miền Nam, nếu ông Hồ nhu nhược để đàn em qua mặt trong những quyết định quan trọng của đảng, liệu đàn em có dành cho ông những vinh dự đó không? Vả lại, những vinh dự đó do chính Lê Duẩn, trong lúc phụ tá cho HCM đã chủ xướng cả đấy.

Trước khi kết thúc, để thêm chút “gia vị”, tôi xin nhắc lại câu chuyện được kể bởi nhà báo Việt Thường (10), từng sống nhiều thập kỷ trong chế độ miền Bắc, là nhân chứng của nhiều sự kiện lịch sử quan trọng và rất nhiều sự việc khác tuy nhỏ nhưng mang ý nghĩa chính trị to lớn trong chế độ đó. Và xin lưu ý, đây chỉ là một trong hàng trăm sự việc mà ông được biết và chọn viết lại trong hai tác phẩm độc đáo của ông.

Theo báo Nhân Dân của đảng thì vài tháng trước tết Mậu Thân (1968), ông Hồ sang sân bay Gia Lâm thăm đơn vị tên lửa và không quân để động viên... Tháp tùng ông có nhiều cán bộ cao cấp kể cả Võ Nguyên Giáp và Tố Hữu. Câu chuyện bên lề được VT kể sau đây, theo ông tuy không đăng trên báo nào cả, nhưng nó lại được kể ở hầu hết các tòa soạn báo, đài và cả ở quán cà phê, quán bia hơi ở Hà Nội:

“Khi nghe tin Hồ đến thăm đơn vị, lính ngụy (11) trong binh chủng phòng không, không quân, vừa đi học ở Nga Xô về, ào ào chạy ra chẳng có hàng ngũ gì cả. Từ tư lệnh binh chủng cho đến tụi bảo vệ, cho đến Tố Hữu, Văn Tiến Dũng đều vây quanh Hồ để bảo vệ, trong khi Võ Nguyên Giáp cầm loa điện cầm tay gào lên: “Yêu cầu trật tự”, mà lính ngụy cứ lờ đi. Hồ bèn giật lấy loa trên tay Giáp và hô: “Nghiêm”. Theo “phản xạ lính”, tất cả đứng nghiêm. Hồ lại hô: “Tất cả xếp hàng, 5 hàng dọc”! Bọn lính vội xếp hàng. Hồ hô tiếp “Nghiêm”! rồi lại hô “Nghỉ”; và cuối cùng hô: “Nghiêm! Ðằng sau quay! Ðều bước!” Bọn lính ngụy răm rắp làm theo. Bấy giờ Hồ cười cười quay lại bảo Giáp: “Chú là đại tướng vậy mà không biết điều khiển lính!” (12)

Sau khi thuật chuyện đó, tác giả hỏi: “Một tên gián điệp lão luyện, phản ứng rất nhanh như Hồ, ăn nói với phó thủ tướng, bộ trưởng, đại tướng như nói với thằng nhỏ, con sen như vậy, liệu có thể là kẻ để cho Lê Duẩn khống chế không??

Xin lưu ý bạn đọc lúc ấy là thời gian HCM thường hay sang Trung Quốc “chữa bệnh” và cũng chỉ còn hơn một năm nữa là “đi theo các cụ Mác Lê”.

Và cũng xin quý vị đọc lại chương về tổng công kích tổng nổi dậy năm Mậu Thân trong phần II này, để thấy rõ những gì ông Vũ Kỳ, thư ký riêng tín cẩn của HCM đã thuật lại về việc ông Hồ được báo cáo đầy đủ và đích thân dự các hội nghị quan trọng về cuộc tổng công kích này cũng vào dịp Tết Mậu Thân đó, để thấy thêm một bằng chứng nữa là tuy đã già yếu và bệnh tật, ông vẫn còn sáng suốt điều khiển việc nước, quyết định những trận đánh lớn, gây tang thương cho gần chục vạn người. Không phải ông ta đã “bị cho ra rìa”, “ngồi chơi xơi nước” như một số tác giả tên tuổi đã gợi ý để gián tiếp bào chữa cho ông, coi ông như người ôn hòa, còn chuyện hiếu chiến gây chết chóc là do đàn em của ông đâu.

Minh Võ

Trích Hồ Chí Minh, nhận định tổng hợp

do Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản tháng 11- 2003

Sách dày gần 800 trang khổ lớn, đóng chỉ, bìa cứng, giá 40 MK

Muốn có sách mang chữ ký của tác giả, xin liên lạc số 760- 599- 4054, hay Email:

tuyenvu@netzero.net

Chú thích:

(*) Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch của Trần Dân Tiên, nhà xb Văn Học, Hà Nội, 2001, tr. 129.

(**) Những năm tháng không thể nào quên của V.N. Giáp, nhà xb quân đội nhân dân, in lần thứ 5 tại Hà Nội, tr 46.

(***) Nhiều tài liệu đã nói đến việc thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai trong một bữa tiệc khoản đãi các phái đoàn CS tại Genève vào tháng 7 năm 1954, đã đề nghị với ông Ngô Ðình Luyện bào đệ của thủ tướng Ngô Ðình Diệm nên mở một tòa đại sứ tại Bắc Kinh. Sau này ông ta lại nhắc lại đề nghị ấy với ngoại trưởng Trần Văn Ðỗ. Chính ông Ngô Ðình Luyện cũng đã xác nhận việc này, trong dịp ông viếng Nam Cali vài năm trước khi ông mất.

SÐD trang 328.

Nhiều người nghi có bàn tay LD trong việc tướng NB bị Pháp giết vào năm 1951, khi ông ta bị gọi ra Bắc. Lộ trình của ông đã bị một kẻ nào đó mật báo cho Pháp.

SÐD của Bùi Tín trang 71. Dưới cước chú, tác giả ghi là câu chuyện xảy ra vào năm 1983, trong khi tác giả ghi âm trước sự chứng kiến của nhiều người trong đó có cả Hoàng Tùng, ủy viên ủy ban tư tưởng của đảng, Ðông Ngạc, phụ tá tổng bí thư đảng và Nguyễn Cần.

Ðêm Giữa Ban Ngày, Văn Nghệ, Nam Cali, 1997, trang 228.

SÐD trang 229. Trong cuốn “Thời Thắng Mỹ” của LD do Thép Mới chấp bút, LD cũng khoe khoang hơi lớn lối và viết không đúng sự thật, khi tự tâng bốc và làm lu mờ vai trò của những kẻ khác trong bộ chính trị kể cả HCM.

Xin xem Ngô Ðình Diệm Lời Khen Tiếng Chê của Minh Võ, Thông Vũ in lần thứ 3, 2002, trang 308- 313. Và “Tâm Sự Nước Non” Ai Giết HCM? tủ sách Tiếng Quê Hương, Virginia xuất bản tháng 3 năm 2002, trang 312- 314.

(7) Xin xem những chương liên hệ trong phần I.

(8) Nhân hai chữ “tông đồ” mà Khutshchev tặng ông Hồ, chúng tôi liên tưởng tới lời St. Paul là đại tông đồ của chúa Giêsu Kitô: “Vivo, jam non ego.Vivit vero in me Christus”(Tôi sống, song không phải tôi sống, mà là đấng Kitô sống trong tôi.)

Hồ Xuân Hương, thi sĩ nổi tiếng trong văn học sử Việt Nam với những bài thơ “lời thanh ý tục” vừa trào lộng, vừa thâm thúy. Ở đây, câu này được hiểu theo đúng nghĩa đen. Nghĩa bóng (nói lái) thì rất tục. (9bis) SÐD tr. 222.

Xin xem chương 17 phần I.

(11) Việt Thường luôn dùng chữ “ngụy” để gọi CS, xin đừng lầm với chữ ngụy mà CS gán cho người miền Nam.

(12) Việt Thường sách đã dẫn trang 227- 228.

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=153&z=12

Hồ Chí Minh: Tội nào nặng nhất?

Hồ Chí Minh: Tội nào nặng nhất?
Thursday, June 14, 2007


Ngô Nhân Dụng

Trong thời gian đi Nga và Ba Lan gần đây, tôi được nghe nhiều câu chuyện chế nhạo Hồ Chí Minh, mà những người Việt đã sống ở Hà Nội hay kể với nhau từ những năm 1950, 60 tới giờ. Tất nhiên người ta lén lút kể giữa những người thân và có thể tin cậy. Cấm kể cho trẻ em nghe, vì trẻ con không biết gì có khi kể lại với người ngoài thì cha mẹ chỉ có tù mút mùa. Những chuyện cười ở miền Bắc thường rất sâu, sâu và hiểm. Nhiều người gọi tên ông ta là Minh Râu, nghe mãi mới hiểu đó là ông Hồ. Có nhà văn kể chuyện một anh tên là Hinh, cứ ra đường ra chợ ngẩng mặt lên trời tìm cái gì đó, làm bao nhiêu người hùa theo cũng ra đường ngoảnh mặt lên trời tìm kiếm, mỗi ngày một đông hơn. Cuối cùng đám đông hỏi anh ta tìm cái gì, chính anh ta cũng không biết. Bài văn đăng lên báo, sau mới có người mách ra rằng, tên Hinh là do họ Hồ và tên Minh ghép lại, nhà văn và tờ báo đều mang họa!

Nhưng người miền Bắc đã ghét thì thường thù ghét Hồ Chí Minh thâm gan tím ruột, cho nên phần lớn các chuyện cười không có tinh thần hài hước rí rỏm như dân miền Nam. Một anh bạn đang định cư ở Phần Lan kể tôi nghe một câu chuyện cười nghe xong thì muốn khóc. Sau năm 1975, ở Chợ Gạo, tỉnh Ðịnh Tường có một ông thợ hớt tóc treo tấm biển viết, “Không gìsướng hơn cạo mặt, váy tai.” Váy, là đọc trại chữ “ngoáy,” theo lối người miền Nam. Ðó chỉ là một dòng quảng cáo. Nhưng khi công an nhìn thấy hàng chữ đó treo bên cạnh tấm hình ông Hồ thì họ hiểu. Sau đó anh thợ hớt tóc biến mất, đến bây giờ cũng chưa ai biết anh còn sống hay đã bị thủ tiêu từ hồi đó rồi. Vợ con anh ghi ngày anh bị bắt giữa đêm khuya làm ngày giỗ. Từ năm 1945 đến nay đã có biết bao nhiêu người bị thủ tiêu theo lối đó.

Ðã có bao nhiêu người vì Hồ Chí Minh mà chết?
Khi gặp những người Việt ở Ðông Âu và Nga, nhiều người từng sống trong chế độ cộng sản ở miền Bắc Việt Nam từ những năm kháng chiến chống Pháp cho tới ngày nay, người ta thường đặt câu hỏi đó. Không kể bà Nông Thị Xuân đã sinh con với Hồ Chí Minh rồi bị thủ tiêu, và em gái bà Xuân, thì con số trực tiếp hoặc gián tiếp chết vì Hồ Chí Minh lên đến nhiều triệu. Nhưng việc giết người thường không do bàn tay của ông Hồ dính vào, ông gây những tội ác nặng gấp ngàn lần tội sát nhân. Cho nên người ta cũng thi đố nhau: “Trong số những tội ác của Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam, tội nào nặng nhất?”

Nhiều người cho việc ông Hồ theo chủ nghĩa cộng sản là tội nặng nhất. Tất cả tai họa trùm lên nước Việt Nam suốt từ năm 1945 đến giờ đều chỉ vì có người đem chủ nghĩa cộng sản theo lối Stalin về áp dụng ở nước ta. Thực ra thì trong thập niên 1920-30, rất nhiều nhà cách mạng Việt Nam đã bị chủ nghĩa cộng sản quyến rũ; trong số đó có nhiều người rất đáng kính trọng, từ Nguyễn Thế Truyền đến Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm. Ông Truyền là người đã tổ chức cho nhiều thanh niên Việt Nam từ Pháp đi Nga, sau ông về nước và từ bỏ chủ nghĩa cộng sản. Các ông Thâu và Hùm sau lãnh đạo nhóm Cộng Sản Ðệ Tứ ở Sài Gon. Họ đều là những nhà ái quốc nhiệt thành và hy sinh cả cuộc đời cho lý tưởng. Việc tin theo chủ nghĩa Marx-Lenin không nhất thiết gây nên tội ác nếu người ta giữ được lòng nhân. Vì vậy, nhiều người cho rằng, tội nặng nhất của Hồ Chí Minh không phải việc theo chủ nghĩa cộng sản mà là việc xin làm đồ đệ của Stalin, hoàn toàn tuân lệnh Cộng Sản Ðệ Tam.

Tội ác này rành rành, không cách nào bào chữa được. Vì trong những năm Hồ ở Nga, đầu thập niên 1920 và lần sau trong thập niên 1930, ông ta chắc chắn đã chứng kiến những thủ đoạn tàn ác của Chúa Ðỏ Stalin đối với những đối thủ chính trị của ông ta. Những đồng chí của Lenin như Rykov, Bukharin, Kamenev và Zinoview bị Stalin bắt bớ, hành hạ và đưa ra tòa rồi thủ tiêu cả mạng sống lẫn sự nghiệp chính trị của họ; tất cả Bộ Chính Trị thời Lenin đều lần lượt bị Stalin giết để ông ta nắm lấy độc quyền. Hồ Chí Minh chắc chắn phải chứng kiến những cảnh này, thời gian đó những người cộng sản đối lập với Stalin đã hô hoán cho cả thế giới biết. Nhưng Hồ đã chọn con đường theo Stalin và học tập những thủ đoạn của ông này, sau đem về áp dụng ở Việt Nam. Chính vì Hồ Chí Minh đóng vai một gián điệp trung thành của Stalin và Ðệ Tam Quốc Tế trong hơn 20 năm, cho nên đến năm 1945 chính phủ Mỹ không thể nào tin ông ta là người muốn giao hảo với một nước tư bản như nước Mỹ, dù ông ta đã xin nhiều lần.

Việc áp đặt chủ nghĩa cộng sản Xít-ta-lin-nít trên vận mạng dân tộc Việt Nam là một tội ác. Những người đã sống ở miền Bắc đã chứng kiến các thảm họa do chính sách tập thể hóa, đánh tư sản, đấu tố giết người do Hồ Chí Minh chủ trương. Nhưng nhiều người cả hai miền Nam-Bắc coi tội đó cũng còn nhẹ hơn tội gây ra cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn từ năm 1959 đến 1975, mà Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm. Những nước bị chia đôi trên thế giới cho hai khối tư bản và cộng sản, chỉ có Bắc Hàn là gây chiến, nhưng cuộc chiến đó ngắn ngủi. Trung Cộng cũng không dại dột tấn công Ðài Loan, dù Tưởng Giới Thạch lúc nào cũng hăm dọa “Quang phục lục địa!” Ðông và Tây Ðức sống bên nhau cho đến ngày chế độ cộng sản sụp đổ thì thống nhất. Hồ Chí Minh đã đẩy hàng triệu thanh niên vào một cuộc chiến tàn khốc chỉ vì tham vọng cộng sản hóa toàn thể dân tộc Việt và toàn thế giới, theo đúng những chỉ thị của Ðệ Tam Quốc Tế khi ông Hồ rời Nga về Trung Quốc cuối năm 1924. Nước Việt Nam đã thống nhất, nhưng thống nhất trong một chế độ vô học, bất lực, tàn nhẫn, khiến cuộc sống người dân cả hai miền Nam-Bắc thê thảm hơn, có lúc nạn đói đã giết hàng ngàn nông dân.

Làm chết hàng triệu thanh niên vì một chủ nghĩa sai lầm, vì áp dụng một chế độ tàn ác, ngu dốt, và tham nhũng tràn ngập, đúng là một tội ác lớn. Nhưng nhiều người Việt ở trong nước bây giờ còn thấy một tội ác khác của ông Hồ, một tội lớn hơn nữa. Ðó là tội hủy hoại cả nền đạo lý của dân tộc. Bao nhiêu điều nhân nghĩa tổ tiên truyền lại đã bị xóa bỏ, thay thế tất cả các giá trị bằng một lòng trung thành với đảng, tức là trung thành mù quáng trước mệnh lệnh của bọn lãnh đạo đảng. Bọn này sống giả dối, chuyên dùng thủ đoạn gian dối, độc ác, gieo những hạt giống xấu cho cả xã hội. Ðó là di sản kinh hoàng nhất mà Hồ Chí Minh đã để lại trên đất nước ta. Chiến tranh chấm dứt, cảnh chết chóc có thể quên đi sau mười năm. Kinh tế suy sụp có thể phục hồi dần dần sau khi chịu thay đổi cho người dân sinh hoạt tự do hơn. Nhưng một nền đạo lý bị tàn phá thì phải vài thế hệ mới tái lập được. Ðó là tội ác lớn nhất của Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam.

Sở dĩ bữa nay đem kể chuyện những cuộc bàn luận về Hồ Chí Minh trong mục này, cũng vì vừa có một tờ báo ở khu Tiểu Sài Gòn đăng một bài trong đó tác giả ca ngợi Hồ Chí Minh một cách lố bịch mà người có trí khôn bình thường không thể nào viết được. Một người ký tên là Hà Văn Thủy viết “Bài học khó quên” trên tuần báo Việt Weekly đã viết một câu như sau: “...người Việt được sự dẫn dắt của Hồ Chí Minh, một danh nhân văn hóa thế giới, một thánh nhân mang tầm vóc Ðế Nghiêu, Ðế Thuấn!”

Ðế Nghiêu, Ðế Thuấn là những nhân vật tưởng tượng trong huyền sử Trung Hoa. Ðem ví ông Hồ với hai nhân vật tưởng tượng đó, rõ ràng là chỉ có mục đích lừa bịp bằng huyền thoại hóa, thần thánh hóa. Những bạn trẻ mà tôi gặp ở Ðông Âu cũng nhiều người nói thẳng rằng, nếu nước Việt Nam mà không có ông Hồ Chí Minh “dẫn dắt” thì đâu đến nỗi bị cộng sản cai trị để rơi vào tình trạng nghèo đói bậc nhất trên thế giới trong mấy chục năm trước đây! Rồi bây giờ quay ngược đầu chạy theo tư bản nhưng vẫn cố bám lấy độc quyền, để nước ta đứng hạng chót trong số các nước Á Ðông - trừ Bắc Hàn!

Rõ ràng là tác giả Hà Văn Thủy chỉ viết một lời tán tụng như trên theo công thức, chỉ thị hoặc theo đơn đặt hàng. Vì sau khi ca tụng Hồ Chí Minh như vậy, ông ta lại viết những câu hoàn toàn trái ngược!

Trong một đoạn sau đó vài trăm chữ, Hà Văn Thủy muốn tỏ ra mình có tinh thần khách quan, đã viết, “Từng kinh qua thảm họa cải cách ruộng đất ở miền Bắc (do “thánh nhân” Hồ Chí Minh chủ trương) nên tôi tán thành cuộc cải cách điền địa ở miền Nam (dưới thời Tổng thống Ngô Ðình Diệm)... Nông dân miền Nam đạt mức sống trung nông, là điều mà nông dân miền Bắc nằm mơ không thấy! Và quả là tôi thèm muốn tự do báo chí, ngôn luận, lập hội cùng những tự do khác mà thành thị miền Nam được hưởng!” Vậy những công trạng của ông thánh nhân, Ðế Nghiêu, Ðế Thuấn đó chỉ là dùng một đảng độc tài cướp đoạt những quyền tự do căn bản của người dân hay sao?

Và di sản của cái ông Ðế Nghiêu, Ðế Thuấn là gì? Ông Hà Văn Thủy nói ông ta hiểu tâm trạng của sử gia Keith Talor khi ông này viết rằng, đất nước Việt Nam đang “phải chịu đựng một cơ cấu cai trị chuyên chế, thối nát và (phải chịu cảnh) nghèo nàn.” Rồi ông Thủy thú nhận ngay rằng, “Ðúng là tình hình Việt Nam đang như thế.”

Biết nó như thế, tại sao không biết hỏi thêm rằng, ai đã dựng lên cái đảng Cộng Sản Việt Nam để họ đưa đất nước đến tình trạng chuyên chế, thối nát và nghèo nàn như vậy? Còn ai vào đó nữa nếu không là Hồ Chí Minh? Ðế Nghiêu, Ðế Thuấn có mang tội như vậy hay không?

Xưng tụng Hồ Chí Minh một cách giả tạo, theo chỉ thị hoặc theo đơn đặt hàng, thì dễ lâm vào cảnh bất nhất, tự mình mâu thuẫn với mình. Nhưng ca ngợi Hồ Chí Minh bằng những lời giả dối đó, ở giữa một môi trường xã hội toàn những người đã từng là nạn nhân của chế độ cộng sản, bao nhiêu người đã liều chết vượt biển để thoát nạn cộng sản, họ chỉ thấy Hồ Chí Minh là quỷ ác hiện hình, thì đó là một hành động xúc phạm vô ý thức và vô liêm sỉ. Chính vì những người bán rẻ lương tâm vẫn còn ca tụng Hồ Chí Minh như thế mà trong mục này chúng ta phải tiếp tục vạch rõ những tội ác của Hồ Chí Minh, dù trong lòng không còn nuôi chút oán thù nào với một người đã qua đời gần 40 năm để cho xác chết còn bị đám đàn em lợi dụng cho đến bây giờ. Bao giờ bọn cường hào tham nhũng bất lương ngưng khai thác cái xác chết của ông Hồ, chắc lúc đó linh hồn ông ta mới được yên ổn.

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=61248&z=7

Viết về chủ tịch Hồ Chí Minh - PN DNH

Viết về chủ tịch Hồ Chí Minh

Phương Nam – Australia


“Bao nhiêu sao sáng bấy nhiêu anh hùng vì dân, mà bác Hồ ngôi sao sáng vô ngần, cuộc đời của bác chói ngời gương người cộng sản, quyết làm theo lời bác dạy khuyên. Quê hương yêu dấu Bắc - Nam chung một dòng máu, đoàn kết bên nhau đàn cháu ngoan của bác Hồ,..., nguyện xứng cháu của bác Hồ Chí Minh...”.

Có thể nói rằng ở Việt Nam không ai lại không biết đến CT HỒ Chí Minh. Các thế hệ thanh, thiếu niên, nhi đồng lại càng được giáo dục kỹ lưỡng về ông. Những bài hát như trên là xuất hiện ở mọi lúc mọi nơi, dù ông mất đã hơn 30 năm nay. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong sách giáo khoa các cấp cũng luôn nói tới ông từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ. Tất cả đều nhằm mục đích làm cho mọi người hiểu rằng: không bao giờ được quên công lao to lớn của ông đối với dân tộc và kêu gọi tất cả hãy "Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại."

Tài Liệu Giáo Dục Công Dân lớp 7, Nhà Xuất Bản Giáo Dục năm 1997, trang 53 có một bài đọc thêm nhan đề: Tinh Hoa Của Dân Tộc Việt Nam Góp Phần Vào Tinh Hoa Thế Giới, nội dung khẳng định một sự kiện là: Vào năm 1990, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Hồ Chủ Tịch, Tổ Chức Giáo Dục, Khoa Học Và Văn Hóa của Liên Hiệp Quốc, tức UNESCO (United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization), đã ra một nghị quyết công nhận ông là danh nhân văn hóa thế giới. Trong đó có đoạn:

“ ... Chủ tịch Hồ Chí Minh là một hiện tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng cho nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ.”

(trích nghị quyết UNESCO, sách đã dẫn.)

Trong bài Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Danh Nhân Văn Hóa Của Nhân Loại, bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Dy Niên, nguyên chủ tịch ủy ban UNESCO Việt Nam , viết vào tháng 5 năm 2000 vừa qua cũng tiếp tục khẳng định như vậy. ( Xem: Danh Nhân Văn Hóa - Nguyễn Dy Niên).

Dù có ý đọc kỹ nhưng tôi không thấy cả hai bài viết trên ghi cụ thể đấy là nghị quyết số mấy? Ký ngày nào và ai đã ký nó? Như thông thường đối với việc trích dẫn một nghị quyết quan trọng như thế. Tuy nhiên ở nước ngoài, vì có điều kiện được tiếp cận với những nguồn tài liệu khác thì tôi lại thấy những bài viết quả quyết rằng: không hề có một nghị quyết nào như vậy cả. Ðiều đó có nghĩa là CT Hồ Chí Minh chưa bao giờ được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới, mà ông mới chỉ có tên trong danh sách được đề cử, rồi dừng lại ở đó thôi.

Nhận thấy đây là một vấn đề lớn cần làm rõ, vì dù ai có chấp nhận hay không thì trong thực tế ông cũng đã là nhân vật lịch sử của Việt Nam trong thế kỷ thứ 20 vừa qua. Còn cái lịch sử ấy đã và sẽ tiếp tục diễn ra như thế nào? Tốt hay xấu? v.v… thì đó không phải là mục đích chính mà tôi muốn đề cập đến trong bài viết này.

Ngoài ra còn là vấn đề bức xúc hơn, nó liên quan đến sự nghiệp trồng người của dân tộc: những học sinh lớp 7 kia rồi sẽ lớn lên, và với thời đại bùng nổ thông tin như ngày nay thì việc các em được tiếp cận với những nguồn tài liệu khác là rất dễ dàng. Khi ấy liệu các em còn biết tin vào đâu? Nguồn nào đúng, còn nguồn nào sai? Nếu chúng tự phát hiện ra sự thật lại ngược hẳn với những gì đã được dạy dỗ từ nhỏ đến lớn thì sao? Từ đó rất có thể chúng sẽ oán trách các thế hệ cha anh đã lừa dối chúng, rồi cứ theo cái vết mòn ấy, biết đâu chúng lại đi lừa dối tiếp những thế hệ sau thì hậu quả sẽ tai hại biết nhường nào? Cả một dân tộc cứ đi lừa dối lẫn nhau mãi như vậy thì dân tộc ấy sẽ đi về đâu? v.v…

Chính vì những lý do trên mà ở phần dưới đây, tôi xin được nêu ra một số câu hỏi liên quan đến thân thế và sự nghiệp của CT Hồ Chí Minh mà đến nay vẫn chưa được làm rõ. Tôi rất mong các nhà nghiên cứu ở cả trong và ngoài nước, vốn quan tâm đến lịch sử Việt Nam hiện đại, nhất là đến thế hệ trẻ Việt Nam tương lai hãy giải đáp giúp. Tôi nghĩ rằng đây không chỉ đơn thuần là mối quan tâm của riêng tôi - một độc giả, mà còn là của hàng chục triệu phụ huynh học sinh đang có con cháu mình đi học ở Việt Nam . Những câu hỏi của tôi là:

1- Có phải trước khi xuống tầu buôn Pháp làm phụ bếp vào ngày 5 tháng 6 năm 1911 thì chàng trai 21 tuổi Nguyễn Tất Thành, với tên mới là Văn Ba đã có sẵn ý định ra đi tìm đường cứu nước hay chưa? Nếu anh Ba đã có sẵn mục đích rõ ràng như sau này anh kể lại:

“ …Tôi muốn được đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta...”thì thật đáng quý biết bao. Tuy nhiên nó lại mâu thuẫn với một sự kiện sau do những tài liệu ở nước ngoài viết rằng:

Ngày 15.9.1911, khi vừa đặt chân đến cảng Mác-Xây (Marseille) - Pháp, tức là chỉ hơn 3 tháng sau khi rời bến Nhà Rồng - Sài Gòn thì anh Thành đã vội viết đơn xin được vào học nội trú Trường Thuộc Ðịa (Ecole Coloniale). Nhưng đã bị nhà trường từ chối với lý do:

Ðơn không được xét vì anh là đối tượng di chuyển tự túc đến Pháp chứ không phải được tuyển chọn từ xứ Ðông Dương sang, theo như quyết định ban hành ngày 30.4.1910 của Bộ Thuộc Ðịa Pháp.

(lá đơn này do ông Nguyễn Thế Anh sưu tầm được trong văn khố Pháp ngày 2.2.1983, có sao chụp lại cẩn thận. Cũng cần lưu ý rằng: theo những tài liệu trong nước thì Trường Thuộc Ðịa là nơi chuyên đào tạo những tên Việt gian phản động, tay sai của thực dân Pháp lúc bấy giờ.)

Giả sử câu chuyện trên là có thật thì sẽ có thêm một câu hỏi hệ quả là: Nếu năm 1911 Trường Thuộc Ðịa chọn anh Thành, thì 9 năm sau anh có còn chọn con đường của Lênin cho cách mạng Việt Nam nữa hay thôi?

(theo suy luận chủ quan của tôi thì có lẽ là anh Thành sẽ … thôi!).

2- Phải chăng lý do chính rời nước ra đi của anh Thành là bởi trước đó một năm, trong gia đình anh có một biến động lớn đã diễn ra? Ðó là:

Năm 1910, cha anh là ông Nguyễn Sinh Huy, tức cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (1863 - 1929), tri huyện Bình Khê - Bình Ðịnh, trong một cơn say rượu đã sai người đánh chết anh nông dân tên là Tạ Ðức Quang bằng roi và gậy. Sở mật thám Pháp sau khi điều tra xong đã kết ông vào tội ngộ sát khi đang say rượu. Hội Ðồng Nhiếp Chánh tại Huế sau đó đã ra quyết định kỷ luật ông: hạ bốn bậc trong ngạch quan lại thời bấy giờ, bị triệu hồi về Huế, rồi cuối cùng là bị sa thải luôn. (bà Thanh con gái ông cũng kể : ông là người nghiện rượu nặng, hồi nhỏ bà vẫn thường bị bố đánh rất đau bằng roi, có khi còn quẳng cả roi đi để đánh bằng tay.).

Một số tài liệu lịch sử trong nước thì viết rằng:

"Cụ Sắc nhà nghèo, ham học, thông minh, thi đậu phó bảng, “bị ép” ra làm quan. Có lần cụ nói: " Quan trường là chốn nô lệ trong những người nô lệ, lại càng nô lệ hơn.". Cụ thường làm những việc trái ý bọn quan lại, nên bị cách chức."

Như vậy là giữa hai nguồn tài liệu đã có những điểm mâu thuẫn lớn cần làm rõ, nhất là lý do ra khỏi chốn quan trường của ông: phải chăng ông ra khỏi đấy vì như ông nói là không muốn bị "nô lệ hơn" trong số những người nô lệ? Hay là bởi rượu đã đưa ông ra? Và vì bị ra khỏi chốn ấy nên ông lại càng uống nó nhiều hơn?

Cũng qua những sách báo ở trong nước kể lại thì: khi từ chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội sau chiến thắng Ðiện Biên Phủ (tháng 10.1954), ông đi thăm rất nhiều vùng quê trên miền Bắc, đi ra nước ngoài, v.v…

Nhưng riêng quê ông thì mãi tới tháng 6.1957, tức là gần 3 năm sau ông mới về thăm lần đầu. Có cái gì đó không ổn trong tinh thần vì nước quên… quê của ông không? Hay ông ngại nhân dân, cán bộ và chiến sỹ biết được tấn bi kịch trên của gia đình mình?

3- Ai là người đã viết cuốn Những Mẩu Chuyện Về Ðời Hoạt Ðộng Của Hồ Chủ Tịch vào mùa xuân năm 1948? Cuốn sách ghi tác giả tên là Trần Dân Tiên. Năm 1985, giáo sư Hà Minh Ðức đã xuất bản cuốn Những Tác Phẩm Văn Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, trong đó có đoạn:

“ ... Ðáp lại tình cảm mong muốn của đồng bào và bạn bè trên thế giới. Hồ Chủ Tịch với bút danh Trần Dân Tiên đã viết tác phẩm Những Mẩu Chuyện Về Ðời Hoạt Ðộng Của Hồ Chủ Tịch,...”. (Hà Minh Ðức, sách đã dẫn, Tr 132, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1985).

Như vậy có nghĩa là tác giả Trần Dân Tiên và Hồ Chủ Tịch thực ra chỉ là một người. Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn, người biết rất rõ ông từ những năm 1930s, khi cả hai cùng học tập và làm việc ở Liên Xô đã viết lời tựa cho cuốn sách cũng đã khẳng định như vậy. Tôi tin là hai giáo sư ấy viết đúng, vì 2 lẽ: thứ nhất, đó là việc rất quan trọng mà nếu nói sai thì chính hai giáo sư có thể sẽ bị mang họa, chắc chắn là hai ông đã cân nhắc rất kỹ trước đó. Thứ hai, cứ theo tư duy lôgic mà suy luận: nếu ông Trần Dân Tiên và cụ Hồ là hai người thì nay ông Trần Dân Tiên kia đâu? Còn sống hay đã chết? Nếu sống thì bao nhiêu tuổi rồi? Vợ, con ra sao? Nếu chết thì chết vào năm nào? Hiện chôn ở đâu? v.v…

Còn một khi lại chỉ là một người thì xét theo khía cạnh nào cũng đều không ổn. Chúng ta hãy nghe một vài đoạn Chủ Tịch Hồ Chí Minh viết về … Hồ Chủ Tịch như sau :

“ ... Bác Hồ của chúng ta vô cùng khiêm tốn; Bác không muốn kể cho ai nghe về hoạt động của mình; rồi Bác Hồ được nhân dân ta coi là cha già của dân tộc; Bác còn vĩ đại hơn Lê Lợi, Trần Hưng Ðạo vì đã đưa dân tộc ta vào kỷ nguyên xã hội chủ nghĩa.”!và:

“ ... Một người như Hồ Chủ Tịch của chúng ta với đức tinh khiêm tốn nhường ấy và đang lúc bề bộn biết bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể cho tôi nghe bình sinh của Người được?...”!

(Trần Dân Tiên, sách đã dẫn). Cũng cần lưu ý rằng vào năm 1948 thì vị "cha già của dân tộc" ấy mới có 58 tuổi! (1890 – 1948).

Trong thực tế nhân loại cũng đã có những người dùng quyền lực hay tiền bạc để bắt người khác ca ngợi mình. Nhưng nếu Hồ Chủ Tịch lại tự mình đứng ra "dầy công vun đắp" nên điều đó thì quả là chuyện xưa nay hiếm! Tôi cũng không rõ là những người đang cố gắng "giữ gìn và bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh" có coi đây như là một trong những “yếu tố cấu thành” nên tư tưởng của ông hay không? Và giả sử ở dưới cõi âm kia, nếu ông gặp các vị cách mạng đàn anh khác như Lê Nin, Stalin, Mao Trạch Ðông, v.v… thì không nói. Nhưng nếu rủI thay, ông lại gặp các cụ Trần Hưng Ðạo, Lê Lợi thì biết "ăn, nói" thế nào cho phải với những vị anh hùng chân chính của dân tộc ấy đây?

Một điều nữa đáng lo ngại hơn: trong cuốn Dàn Bài Tập Làm Văn lớp 7,

(NXB Giáo Dục 1997, Tr 39). Tức là đã 12 năm, sau khi tác phẩm của giáo sư Hà Minh Ðức nói trên được xuất bản, thì các tác giả biên soạn cuốn sách giáo khoa kia vẫn tiếp tục mập mờ mà không chịu viết thẳng ra đấy là hai hay chỉ có một người. Nếu cứ cung cấp thông tin và bắt các thầy cô giáo dạy học sinh theo kiểu này, thì đến ngay như người lớn cũng còn bị nhiễu loạn chứ nói gì đến trẻ con?

Hồi đất nước còn chiến tranh, tôi đã được một sỹ quan QÐND Việt Nam cho xem cuốn nhật ký của anh, trong đó có đoạn:

“ Hà Nội ngày 2 tháng 9 năm 1969.

Hôm nay Ðài Tiếng Nói Việt Nam báo tin Bác Hồ bị bệnh nặng. Bác ơi! Chúng cháu hiểu là chúng cháu thật có lỗi với Bác, vì đất nước đến lúc này vẫn còn bị nỗi đau chia cắt. Ðơn vị của chúng cháu đã được vinh dự nhận lệnh vào miền Nam chiến đấu, chỉ vài hôm nữa thôi là lên đường. Cháu xin hứa với Bác rằng: dù phải trải qua gian khổ, hy sinh đến đâu thì chúng cháu cũng quyết tâm hoàn thành mọi nhiệm vụ mà đảng và quân đội giao phó; góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ Quốc, để sớm được đón Bác vào thăm đồng chí, đồng bào trong ấy. ”

Cũng cùng một tinh thần đó, từ miền Nam , nhà thơ Lê Anh Xuân viết ra:

Gửi miền Bắc lòng miền Nam chung thủy

Ðang xông lên chống Mỹ tuyến đầu.

Nghĩa là tất cả đều hướng lên Ba Ðình tràn đầy một niềm tin trong sáng, một niềm kính trọng vô biên. Bởi vì ở nơi ấy "có Trung Ương Ðảng, có bác Hồ" luôn chỉ lối dẫn đường cho cách mạng Việt Nam tiến lên.

Theo tôi, nếu trong một cuộc chiến tranh, giả sử tất cả những yếu tố khác đều ngang nhau, thì bên nào có thêm yếu tố tin tưởng và kính yêu lãnh tụ như trên là sẽ rất có lợi thế để giành chiến thắng. Thế nhưng, nếu vì muốn trở thành một “ngôi sao sáng vô ngần”, mà chính vị lãnh tụ lại cho ra đời một sản phẩm kiểu như Những Mẩu Chuyện Về Ðời Hoạt Ðộng Của Hồ Chủ Tịch thì lại là điều không thể chấp nhận được. Bởi vì đó thực chất là quan điểm đạt mục đích bằng mọi cách, kể cả những cách rất thiếu tử tế: chủ động đi hủy hoại những giá trị văn hóa của nhân loại nói chung và dân tộc nói riêng, mà hậu quả để lại sẽ rất nặng nề cho hậu thế. Bằng cách đó ở một giai đoạn nhất định, có thể ông cũng tự đưa được uy tín của mình lên vị trí rất cao trong lòng một bộ phận dân tộc. Xong nếu xét về lâu về dài, khi phần lớn đã nhận ra sự thật thì hình ảnh:

"… Trùng trùng đoàn quân tiến bước theo con đường của Bác, nở ngàn hoa chiến công ta dâng lên Người,..." sẽ trở nên trớ trêu, phũ phàng và thật đáng xấu hổ với bạn bè thế giới.

Tôi cũng được biết một câu chuyện sau: gia đình ấy có 2 anh em, người anh đi bộ đội, còn người em gái ở lại nhà và lấy chồng. Năm 1954 khi người anh từ chiến khu trở về thì em gái mình đã cùng chồng di cư vào Nam . Sau gần 30 năm xa cách, hai anh em mới được gặp lại nhau, khi người em ra Bắc bốc mộ cho chồng - ông bị chết trong thời gian học tập cải tạo ở ngoài ấy. Cô em nói trong nước mắt giận hờn:

“ Tại anh và những người cộng sản như anh nên bây giờ em gái anh khổ, các cháu của anh phải mồ côi cha.”.

Xúc động không kém, người anh nói:

“ Thôi em ạ, đằng nào thì mọi việc cũng đã lỡ rồi. Em cứ nghĩ như thế này: nếu một người em không hề tin yêu, kính trọng mà làm em đau khổ thì đấy chỉ là một nỗi khổ đau. Nhưng nếu đấy lại là người em hằng kính trọng, tin yêu bao năm trời, kể cả sẵn sàng đem cuộc đời của mình ra để hy sinh, cống hiến mà nay em lại phát hiện ra rằng thực chất sự tin yêu, kính trọng ấy của mình lại bắt nguồn từ sự giả dối của người kia, thì lúc ấy nỗi đau khổ trong em sẽ phải nhân lên gấp 5, gấp 10. Ðấy chính là tâm trạng của anh lúc này, em ạ.”.

Trên đất nước Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua đã có bao nhiêu gia đình phải lâm vào hoàn cảnh tương tự như vậy?

4- Một vài điểm khác cần xác minh:

Trong số những người Việt Nam hoạt động ở Paris vào những năm 1910s -1920s là chỉ có duy nhất 1 ông Nguyễn Ái Quốc hay là có đến 5 ông Nguyễn Ái Quốc? Vai trò của chàng trai Nguyễn Ái Quốc - Nguyễn Tất Thành trong các hoạt động như: thành lập Hội Người Việt Nam Yêu Nước, soạn thảo Bản Yêu Sách 8 Ðiểm Gửi Hội Nghị Véc - Xây năm 1919, ra báo Người Cùng Khổ năm 1922, viết Bản Án Chế Ðộ Thực Dân Pháp năm 1925, v.v…là tới đâu? Liệu có đúng như các phương tiện thông tin đại chúng trong nước hoặc chính CT Hồ Chí Minh đã kể lại hay không? Bởi vì nếu theo các tài liệu “ngoài luồng” thì :

a) Hội Người Việt Nam Yêu Nước đã được thành lập tại Pháp từ năm 1914, mà tiền thân của nó là Hội Ðồng Bào Thân Ái còn có trước đó nữa. Ðấy là do công lao của những ông Nguyễn Ái Quốc khác, chứ anh Thành lúc ấy lại không có mặt ở Pháp mà là đang mưu sinh ở Anh.

(anh Thành ở Anh từ cuối năm 1913 đến 1917. Cuối năm 1917 mới rời Anh để sang Pháp, và ở đấy đến năm 1923 thì sang Liên Xô.).

b) Bản Yêu Sách 8 Ðiểm gửi hội nghị Véc-Xây là có rất nhiều điểm trùng với những bản yêu sách đã có trước đó của cụ Phan Chu Trinh (1872-1926) gửi khâm sứ Trung kỳ, gửi toàn quyền Ðông Dương và gửi chính phủ Pháp. Như vậy có phải như CT Hồ Chí Minh đã kể:

“ ... Ý kiến đưa yêu cầu do ông Nguyễn đề ra, nhưng lại do luật sư Phan Văn Trường viết, vì lúc bấy giờ ông Nguyễn chưa viết được tiếng Pháp…”. (Trần Dân Tiên, sách đã dẫn).

Hay những ý kiến ấy phải là của cụ Phan Chu Trinh mới đúng? Vì cụ Phan đã có mặt và hoạt động ở Paris liên tục trước đó, cụ cũng là sáng lập viên của Hội Ðồng Bào Thân Ái. (cụ Phan thi đậu phó bảng năm 1901, cùng khóa với cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh anh Thành.)

c) Báo Người Cùng Khổ (Le Paria) là do những “ông Tây” (người Pháp) lập ra, chứ đâu phải của một “ông ta” nào như sự xác nhận sau:

“ ... Ban biên tập báo Người Cùng Khổ do Nguyễn Ái Quốc làm chủ nhiệm, kiêm chủ bút, giao cho Nguyễn Thế Truyền là một Việt kiều được anh Nguyễn giới thiệu vào Hội Hiệp Thuộc.”

(Trần Dân Tiên, sách đã dẫn).

Bây giờ giả sử đúng là có 1 ông Nguyễn Ái Quốc làm chủ nhiệm, kiêm chủ bút tờ báo kia đi, nhưng chính xác là ông Nguyễn Ái Quốc nào? Vì ở Paris lúc ấy có tới 5 ông Nguyễn Ái Quốc, còn gọi là nhóm Ngũ Long gồm các ông: Phan Chu Trinh, sang Pháp năm 1911/phó bảng. Phan Văn Trường/1908/luật sư. Nguyễn Thế Truyền/1910/cử nhân. Nguyễn An Ninh/1917/năm thứ 2 trường luật. Nguyễn Tất Thành/1917/tiểu học, và ai ở trong nhóm viết bài cũng ký tên là Nguyễn Ái Quốc.

Hơn nữa, chúng ta cũng cần tìm hiểu thêm cả việc ai đã giới thiệu ai? Vì anh Thành mới chân ướt chân ráo đến Pháp thì nào đã quen biết ai mà giới thiệu cho ông Nguyễn Thế Truyền vào Hội Hiệp Thuộc?

(ông Truyền sang Pháp từ năm 1910, có 2 bằng cử nhân văn chương và cử nhân hóa học, có vợ người Pháp.)

d) Cũng theo Những Mẩu Chuyện Về Ðời Hoạt Ðộng Của Hồ Chủ Tịch thì : “...Ông Nguyễn chỉ viết một quyển sách duy nhất là quyển Bản Án Chế Ðộ Thực Dân Pháp.”. Thế nhưng với điều kiện thông tin lúc đó thì theo tôi chính quyển này mới là quyển ông ít có cơ hội tham gia nhất. Bởi vì cả tài liệu trong và ngoài nước đều xác nhận rằng: cuốn sách được xuất bản lần đầu tại Pháp vào năm 1925, nhưng lúc ấy thì ông Nguyễn không có mặt ở Pháp mà đang hoạt động ở Trung Quốc! (ông ở Trung Quốc từ tháng 11.1924. Tháng 5.1927 mới rời khỏi đấy để sang lại Liên Xô).

Hơn nữa, cứ giả sử các tài liệu đều viết sai về năm xuất bản cuốn sách trên thì chúng ta cũng cần lưu ý là: chính anh Thành cũng đã phải công nhận rằng anh là người có bút lực yếu ở trong nhóm, nếu như không muốn nói là yếu nhất. Vì anh Thành chỉ mới tốt nghiệp trường tiểu học Pháp - Việt Ðông Ba, Huế niên khoá 1906-1907. Tháng 9.1907 anh vào học trường Quốc Học Huế, nhưng chưa đầy 1 năm sau, tháng 5.1908 thì đã bị đuổi khỏi đấy rồi. Tức là tấm bằng Thành Chung đối với anh cũng vẫn còn rất xa vời.

(xem http://www.cpv.org.vn/hochiminh/tieusu/thoinienthieu/index.htm ).

Nói tóm lại, những điểm còn chưa rõ ràng trong thân thế và sự nghiệp của CT Hồ Chí Minh là còn rất nhiều. Một lần nữa tôi rất mong các nhà nghiên cứu, các sử gia ở cả trong và ngoài nước hãy vì tính trung thực, khách quan của lịch sử và nhất là vì thế hệ trẻ Việt Nam tương lai, hãy xác minh cho được chúng càng sớm càng tốt. Viết về CT Hồ Chí Minh, lại lật ngược những vấn đề khá phức tạp và tế nhị lên như thế này, tôi hiểu rằng sẽ làm cho nhiều người vốn tôn kính ông đau lòng. Nhưng theo tôi, thà làm như vậy một lần cho rõ còn hơn là cứ dễ dãi với nhau để rồi tự làm khổ nhau và làm khổ mãi con cháu chúng ta sau này.

5- Một ý kiến đề nghị:
Như ở đầu bài đã nêu, từ 11 năm qua đã có rất nhiều bài viết với hai xu hướng ngược nhau: thứ nhất, khẳng định rằng CT Hồ Chí Minh đã được UNESCO chính thức công nhận là danh nhân văn hóa thế giới. Thứ hai là phủ nhận nó. Nay tôi xin có một ý kiến đề nghị: dù ai thuộc xu hướng nào cũng được, nhưng nếu đã có tấm lòng quan tâm, mong rằng hãy cùng nỗ lực giải quyết dứt điểm vấn đề này. Ðối tượng tiếp cận chính là UNESCO, đây là vị trọng tài khách quan, vô tư và hữu hiệu hơn cả. Sẽ có hai khả năng xảy ra:

a) Nếu CT Hồ Chí Minh đã thực sự được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới thì những cơ quan nào đã đưa tin sai lạc trước đó cần ra một bản tin đính chính lại. Ðó cũng là hành động thể hiện sự tôn trọng các độc giả, thính giả của mình.

b) Nếu UNESCO chưa hề có một quyết định như giả thiết nêu trên, thì cá nhân hay tổ chức nào có điều kiện tiếp cận được với tổ chức ấy, cần làm sao có được một văn bản phủ nhận chính thức của họ. Dù chỉ là vài dòng thôi, nhưng nó sẽ có tác dụng thuyết phục rất lớn.

Ðây cũng là trách nhiệm của mỗi người nhằm giúp UNESCO. Nó cũng là quyền lợi của UNESCO cần phải tự bảo vệ mình, khi có ai hoặc quốc gia nào lợi dụng uy tín của họ để làm những việc khuất tất. Tôi cũng rất mong rằng nếu trường hợp là b) thì những nhà biên soạn sách giáo khoa ở Việt Nam cần rà soát lại toàn bộ những điểm liên quan và điều chỉnh lại chúng cho đúng sự thật.

6- Một ý kiến ủng hộ:
Trong bức thư ngỏ viết vào tháng 5.2001 vừa qua của 2 tác giả Trần Khuê và Nguyễn Thị Thanh Xuân, gửi tân tổng bí thư ÐCS Việt Nam Nông Ðức Mạnh có một ý kiến đề nghị là: hãy hỏa táng thi hài của Hồ Chủ Tịch. Bức thư giải thích rằng: những người lãnh đạo đảng và nhà nước vào thời điểm CT Hồ Chí Minh qua đời đã vi phạm ý nguyện ghi trong di chúc của người quá cố. Trong đó ông đã viết:

"… Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là hỏa táng. Tôi mong rằng cách hỏa táng sau này sẽ được phổ biến, và như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng. Khi ta có nhiều điện thì điện táng càng tốt hơn.".).

Và nay thì những người lãnh đạo mới của ÐCS VN cần phải sửa lại sai lầm ấy. Nếu cần thì tổ chức một cuộc Trưng Cầu Dân Ý về vấn đề này. (xem: http://www.thongluan.org/VN2/viet_frame.htm , 4.6.2001 ).

Hai tác giả cũng phân tích thêm rằng: hình thức ướp xác, tức chôn nổi là hoàn toàn không phù hợp với phong tục tập quán của người Việt Nam, vốn quen với hai hình thức phổ biến là địa táng hoặc hỏa táng. Rồi cảnh báo là nếu không nghiêm chỉnh tuân theo di chúc của người đã khuất, thì gia đình, dòng họ và đất nước luôn bị “sái”, không ngóc đầu lên được. Ngoài ra còn là chuyện lãng phí tiền bạc: để duy trì hệ thống lăng CT Hồ Chí Minh thì hàng năm phải tốn kém 100 tỷ đồng VN. Dù đấy là tiền thuế đóng góp của nhân dân hôm nay hay là đi vay mượn của nước ngoài, thì sau này con cháu chúng ta cũng phải nai lưng ra trả nợ.

Tôi hoàn toàn ủng hộ ý kiến trên và tin rằng nguyện vọng của đa số nhân dân Việt Nam hôm nay cũng là như vậy. Chúng ta chỉ cần thử làm một bài toán nhỏ:

Ðể xoá đói giảm nghèo cho một hộ gia đình nông dân, theo 2 tác giả là cần 5 triệu đồng VN tiền vốn. Giả thiết mỗi hộ có 4 người, như vậy tổng chi phí cho công trình ấy trong suốt 26 năm qua là 2600 tỷ đồng VN (không tính chi phí xây lăng) là một số tiền rất lớn, đủ để giúp hơn 2 triệu người Việt Nam thoát khỏi cảnh đói nghèo. Còn nếu mỗi hộ cần 10 triệu đồng tiền vốn thì cũng giúp được cho hơn 1 triệu người. Nhưng cái chính của vấn đề là sự lãng phí kia rất vô lý, không đáng có.

Ngoài ra tôi cũng xin được bổ xung 1 ý kiến nữa, hy vọng rằng nó sẽ góp thêm cơ sở để dân tộc cùng dứt khoát hơn với đề nghị trên của 2 tác giả. Ý kiến của tôi liên quan đến khía cạnh kiến trúc của lăng:

Kể từ khi lăng được khánh thành nhân dịp quốc khánh mùng 2.9.1975 đến nay, thì từ những người dân bình thường tới các kiến trúc sư, nhà xây dựng, v.v. từ Bắc chí Nam mà tôi có dịp được tiếp xúc, phần lớn đều cho rằng: công trình này không có những đường nét của kiến trúc hiện đại, cũng lại rất nghèo tính dân tộc. Tức là nếu xét thêm về khía cạnh kiến trúc thì cũng không có giá trị gì đáng kể để mà phải tiếc nuối nữa. Có lẽ vì chạnh lòng với công trình quốc gia khá nặng nề và đơn điệu này, ai đó đã sửa lại lời những câu đầu của bài hát Viếng Lăng Bác (nhạc: Hoàng Hiệp, thơ: Viễn Phương), mà thành: “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác, con thấy lăng Ông đẹp hơn lăng Bác, trăm phần trăm,…”(!)

(lăng Ông: lăng ông Lê Văn Duyệt - một võ tướng đầu triều Nguyễn, lập tại khu Bà Chiểu - Sài Gòn; trăm phần trăm = 100%.).

7- Những lời thay cho kết luận:
Trong diễn văn đáp từ của nguyên tổng bí thư ÐCS Việt Nam Lê Khả Phiêu đọc tại Hà Nội ngày 18.11.2000 vừa qua, nhân dịp tổng thống Mỹ lúc ấy là Bill Clinton sang thăm Việt Nam có đoạn: “...Ðiều chắc chắn là trong thế kỷ 21, khoa học công nghệ sẽ phát triển như vũ bão. Nhưng lại có một nghịch lý là hố ngăn cách giữa nước giầu và nước nghèo lại ngày càng lớn. Ngày nay, tổng số tài sản của hơn 300 tỷ phú trên thế giới bằng thu nhập của hơn 2 tỷ người ở các nước nghèo.”.

Ðúng! Ðấy là thực tế, và người đọc hiểu ngay rằng ý ông muốn nhấn mạnh đến sự bất công của một thế giới ngày càng bị phân hóa giầu - nghèo hôm nay. Nhưng còn một thực tế nữa là: liệu những người lãnh đạo trong ÐCS Việt Nam trước và sau ông có dám làm triệt để việc kê khai danh sách của 300 người giầu nhất ở Việt Nam hôm nay hay không? Họ là những ai? Có bao nhiêu tiền? Ðể ở những đâu? Bằng cách nào họ đã làm giầu được nhanh như vậy? Tổng số tiền mà họ đã tích lũy được là bằng thu nhập của bao nhiêu triệu người nghèo ở Việt Nam ? v.v…

Một cuộc Trưng Cầu Dân Ý như 2 tác giả Trần Khuê và Nguyễn Thị Thanh Xuân đề nghị, nếu nó được tiến hành sẽ là cuộc tổng diễn tập cho một bước dân chủ cao hơn. Ðó là: dân tộc Việt Nam phải được quyền tự mình lựa chọn giữa thể chế chính trị dân chủ đa nguyên, đa đảng và pháp trị của thời đại mới, hay là cứ phải tiếp tục duy trì mãi thể chế nhất nguyên, đơn đảng của “thời đại Hồ Chí Minh” đầy đau thương hôm qua, lắm bất công hôm nay và vô vàn những rủi ro, bất trắc vào ngày mai.

Tôi nghĩ rằng nếu toàn thể dân tộc ta ở cả trong và ngoài nước, một khi đã nhận thức lại được đúng những vấn đề của quá khứ và hiện tại thì sẽ vượt qua được những khoảng cách biệt còn lại. Ðể trong tương lai có thể đoàn kết thành một khối thống nhất tạo ra được một sức mạnh tổng hợp, nhằm đấu tranh có hiệu quả hơn với các thế lực bảo thủ hiện nắm thực quyền trong ÐCS Việt Nam .

Trong thực tế có những người giận ngày “quốc hận” 30 tháng 4, giận mùa xuân năm 1975, rồi giận lây sang cả mùa thu năm 1945 với cuộc Cách Mạng Tháng 8 lịch sử, vì cho rằng đây là chiến công riêng do CT HỒ Chí Minh và ÐCS Ðông Dương lúc đó lãnh đạo. Theo tôi đây là điều chứa đựng nhiều sai lầm, bởi vì thành công của cuộc CMT8 là chiến công chung của mọi người Việt Nam , trong đó có cả vai trò của các đảng phái khác. Tất cả lúc ấy đều đã sẵn sàng gác bỏ mọi quyền lợi riêng, để cùng đồng lòng đứng lên giành lại nền độc lập tự do cho Tổ Quốc.

Nó cũng là kết quả được hun đúc bởi truyền thống dựng nước và giữ nước từ ngàn đời xưa, từ lịch sử gần 100 năm kháng Pháp của ông cha ta, và mọi người Việt Nam đều có quyền tự hào chính đáng về nó. Với một nước Việt Nam mới, chắc chắn trang sử hào hùng ấy của dân tộc ta cũng sẽ được các sử gia viết lại cho khách quan và chính xác hơn. Một ngày hội lớn về dân chủ của non sông nhất định sẽ được mở ra trong một tương lai gần. Khi mà khối đoàn kết toàn dân gồm 80 triệu người, với hơn 76 triệu đồng bào ta ở trong nước và 3 triệu đồng bào ta ở nước ngoài đã được xác lập vững chắc. Ðó là niềm tin mãnh liệt của tôi.

Tháng 7 năm 2001

Phương Nam - ĐN Hải
Hiện đang sống tại Saigon VN

http://www.vietnamhumanrights.net/Viet/documents/PN/PN_HCM.htm

---
- TỔ CHỨC UNESCO KHÔNG VINH DANH HỒ CHÍ MINH

Phong thủy lăng Hồ Chí Minh

Phong thủy lăng Hồ Chí Minh
Thiên Ðức


Hồ Chí Minh là một nhân vật chính trị với nhiều khen chê tùy theo điểm đứng của mỗi người, lịch sử sẽ có sự phán xét công bằng. Theo truyền thống văn hóa Việt Nam , một người đã mất nên được yên nghỉ, bởi lý do:

- Tôn trọng đời tư cá nhân của người chết.

- Chết là hết rồi, mọi sự đều là vô thường, nên được hỉ xả, cảm thông và tha thứ.

- Các nhà phong thủy, với lương tâm và đạo đức nghề nghiệp lại càng không nên phổ biến những thông tin mồ mả của người chết một cách công khai.


Thế nhưng đối với ông Hồ Chí Minh là một ngoại lệ, bởi vì thân xác của ông Hồ đã được đảng cọng sản việt nam (csvn) lợi dụng như là một thần tượng, làm một bình phong để bảo tồn chế độ hiện nay, gây nhiều tác hại cho đất nước kể từ năm 1975. Vì thế bài viết phong thủy lăng Hồ Chí Minh được phổ biến đến bạn đọc như một lời cảnh báo, một lời kêu gọi thiết tha điều chỉnh sai lầm để cho dân tộc Việt Nam được khởi sắc hơn trong tương lai vậy.


Ông Hồ trước khi chết để lại di chúc với mong muốn được hỏa thiêu. Ðảng cọng sản là người kế thừa nếu trung thành với ông Hồ thực thi ước vọng đó có lẽ dân tộc Việt Nam khác đi nhiều. Và nếu đảng cs muốn suy tôn, muốn xây lăng đắp mộ cho ông Hồ ở một nghĩa trang hay một rừng núi nào đó thì cũng không ai có ý kiến gì. Ðàng này đảng cs đã xây lăng Hồ Chí Minh giữa quảng trường Ba Ðình, là trung tâm của thủ đô Hà Nội cũng là trái tim Việt Nam, thì chí ít lăng mộ này có nhiều phần ảnh hưởng đến dân tộc Việt Nam nhất là về mặt phong thủy không những trong hiện tại mà còn di hại đến nhiều đời con cháu sau này.


Theo nguyên tắc căn bản để nghiên cứu mồ mả về mặt phong thủy cần chú ý đến 3 điểm:

- Vị trị an táng: Là thế đất, theo từ chuyên môn gọi là huyệt hay mạch đất, tùy theo giá trị của mỗi huyệt để có tên gọi như long huyệt, hổ huyệt, huyệt phát văn, hay phát vỏ. Và huyệt chỉ có giá trị đối với hình thức địa táng, tức là người chết được chôn ngay chính trong lòng huyệt đó.

- Hợp nguyên lý âm dương: Dựa trên căn bản này khoa phong thủy phân định ra hai loại “Âm trạch, dương trạch”, Âm trạch phải thuần âm, áp dụng cho người chết, mộ huyệt phải là nơi yên tịnh, nếu có biến cố như nước, chấn động cơ giới, rễ cây ăn luồng trong mộ huyệt, phá hỏng sự yên tĩnh (thuần âm) vốn có của nó, sẽ bị phá cách. Trái lại dương trạch dùng cho người sống thì phải thuần dương, tức là căn nhà ở phải luôn luôn có sinh khí luân lưu và hoạt động. Trường hợp căn nhà có cây cối án ngữ sinh khí đi vào nhà, người trong căn nhà đó làm ăn lụn bại hay sức khỏe yếu kém. Thế nhưng sinh khí đi vào nhà quá mạnh thoát ra khỏi căn nhà bằng mọi hướng kéo theo luồng sinh khí tồn đọng trong căn nhà cũng không tốt đó là trường hợp những căn nhà ở ngã ba đường đông xe cộ lưu thông, thường gây sự khó khăn cuộc sống cho những người ờ trong căn nhà đó. Vì thế những nơi này chỉ thích hợp cho những cơ sở thương mại rất cần sinh khí lưu thông mạnh, công việc kinh thương mới phát đạt.

- Hướng huyệt, thường căn cứ vào tuổi của người chết để chọn lựa. Sự chọn hướng này không có tính cách tuyệt đối vì còn tùy thuộc mối quan hệ nhân thân của người chết đối với những khu mộ tập thể cùng nằm về một hướng. Việc xem hướng chỉ có thể áp dụng đối với những ngôi mộ biệt lập, mà thôi.


Áp dụng những điều cơ bản trên vào trường hợp lăng Hồ Chí Minh cho thấy kết quả như sau:

1)- Vị trí lăng: Lăng được xây dựng trên nền cũ của tòa lễ đài giữa quảng trường Ba Ðình, Lăng gồm 3 lớp với chiều cao 21,6 mét. Lăng được xây theo nguyên bản của lăng Lenin. Mặt tiền hướng về phía đông, phía sau đè bẹp một di tích lịch sử văn hóa quốc gia. Ðó là chùa một cột, chiều cao từ mặt đất sàn cho đến đỉnh mái là 2, 20 mét, chỉ bằng 1/10 chiều cao của lăng.

Khu vực lăng đã hình thành trung tâm chính trị Ba Ðình bao gồm khu tứ giác phố Hùng Vương, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Diệu và Ðiện Biên Phủ cũng là nơi tập trung các cơ quan đầu não của đảng cs và nhà nước như : văn phòng trung ương đảng, hội trường Ba Ðình (sẽ xây dựng quốc hội mới trong tương lai), phủ chủ tịch, phủ thủ tướng, bộ ngoại giao, bộ quốc phòng, bộ kế hoạch đầu tư, bộ nông nghiệp và phát triển...

Nhìn một cách tổng thể hơn, đây cũng là nơi giao thoa của tất cả tuyến đường đi đến khắp mọi miền đất nước như:- QL.1A đi Ninh Bình, Miền trung. - QL.5 đi Hải Phòng. - QL. 1 A đi Lạng Sơn. - QL.3 đi Hồ Ba Bể, Thái Nguyên, Cao Bằng . - QL.2 đi đền Hùng, Lào Cai. - QL.32 đi . - Láng Hòa Lạc đi Sơn Tây. - QL.6 đi Hòa Bình. Sơn La, Lai Châu. - QL.21B đi chùa Hương.

Do vậy, khu vực lăng hay trung tâm chính trị Ba Ðình nếu được xây dựng thành một quần thể kiến trúc văn hóa, kinh tế để tiếp nhận sinh khí của mọi miền đất nước đổ vào chắc chắn rằng đất nước sẽ phát triển nhanh chóng. Ðàng này đảng cs đã duy ý chí xây dựng một nhà mồ to lớn trấn áp tất cả các kiến trúc trong khu vực. Và mọi sinh lực của đất nước đã đi vào huyệt mộ.


Ðường nào cũng đi vào tử huyệt
nguồn: nxb bản đồ

Nếu châu Âu văn minh phát triển, một thời từng tự hào với câu ngạn ngữ ; “Mọi con đường đều dẫn tới La Mã”, thì tại Việt Nam có thể nói không ngoa rằng : “ Mọi con đường đất nước Việt nam đều dẫn đến tử huyệt” Về mặt phong thủy chắc chắn đó là một điều không tốt. Và thực tế đã chứng minh trong mười năm đầu của hòa bình tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên Xã Hội chủ nghĩa theo con đường của Hồ Chí Minh đất nước đã đi vào bế tắc cùng cực.


Một điểm cần chú ý về mặt phong thủy tất cả các cơ quan công quyền, đầu não của nhà nước nằm chung trong khu vực đều bị ô nhiễm mùi tử khí thì lấy đâu ra sự sáng suốt tìm sinh lộ để phát triển đi lên.


2)- Nguyên lý âm dương:

Trước khi đi vào vấn đề này cũng nên tìm hiểu ông Hồ đã được an táng theo hình thức nào? Hiện nay trên thế giới có nhiều hình thức an táng khác nhau như là:

- Ðịa táng: chôn vào lòng đất.

- Thủy táng chôn trong nước.

- Không táng hay huyền táng : thân xác đặt trên mặt đất hay treo lơ lửng trên vách núi.

- Hỏa táng : thiêu đốt tử thi.

- Ðiểu táng là để xác chết lộ thiên cho chim ăn.

Ở Việt Nam chỉ có hai hình thức an táng thông dụng là địa táng và hỏa táng. Dựa trên thực tế, có thể trả lời là ông Hồ Chí Minh được an táng theo hình thức không táng, tức là để trên mặt đất. Thế nhưng theo nhu cầu trưng bày cho khách du lịch chiêm ngưỡng xác ướp. Hòm kính của ông Hồ phải di dời từ phòng ướp xác đặc biệt ra phòng triển lãm công cộng một số giờ nhất định. Ngoài theo hằng năm xác ướp phải đem qua Liên Xô trong khoảng tháng 10 - 11 để ngâm hóa chất, tẩy rửa, bảo trì theo định kỳ. Với sự kiện này ông Hồ không nằm yên một chỗ mà luôn luôn di chuyển theo nhu cầu.

Như vậy có thể kết luận rằng: Ông Hồ được án táng theo hình thức cơ động táng, nghĩa là luôn luôn di chuyển. Ðây là hình thức an táng đi ngược hoàn toàn nguyên lý âm dương như đã trình bày trên là âm trạch phải thuần âm.

Âm trạch của Hồ Chí Minh đã phá cách, đảo lộn bởi ba yếu tố: - sự chuyển động của người tham quan. - Bản thân ông Hồ thường xuyên phải di chuyển. ố Lăng mộ nằm ngay điểm giao tiếp của những dòng chảy sinh khí như đã trình bày trên.

Nhân gian có câu : “ Mồ yên mã đẹp” con cháu làm ăn phát triển, trong khi đó lăng ông Hồ Chí Minh luôn luôn bị động mồ động mả là điều tối kỵ trong khoa phong thủy. Ðưa đến hậu quả tuyệt đường tương lai cho những thế hệ thừa kế của đảng csvn.


3)- Ông Hồ Chí Minh an táng theo hướng nào?

Theo nguyên tắc thông thường hướng huyệt mộ (lăng) cũng chính là hướng của người chết được an táng. Ðối với trường hợp ông Hồ lại hoàn toàn khác. Hướng lăng là hướng đông, thế nhưng thân xác ông Hồ thường di chuyển theo nhu cầu bảo quản xác ướp cho nên có thể nói là ông Hồ không nằm theo một hướng nhất định nào cả. Phải chăng điều này đúng với con người Hồ đến nay không ai biết đích xác ông sinh năm nào để có thể từ đó định hướng nằm cho ông được ổn định.


Ngoài những sai lầm trên đây đảng csvn còn vấp phải nhiều sai lầm khác trong việc sử dụng xác thân Hồ như sau:

a)- Chia phần âm khí

Ðảng cs có một tập tục bất thành văn là trước khi làm một quyết định quan trọng như là nghị quyết, chính sách nhà nước, hay các cuộc lễ lớn, tất cả các đại biểu tham dự đều có tiêu chuẩn vào viếng lăng Hồ Chí Minh, nhằm tỏ lòng tôn kính, nhờ có Bác mà ta có địa vị ngày hôm nay. Về mặt phong thủy đó là nghĩa cử chia phần âm khí của người đã chết.

Ðây là một tập tục sai lầm nghiệm trọng về mặt phong thủy. Vì đã giẫm bước trở lại bài học lịch sử mà vua Tự Ðức đã phạm phải. Thật vậy lúc còn sinh tiền, vua tự Ðức đã cho xây lăng mộ của mình, trong thời gian thi công đã có biết bao xương máu của người lính và dân lành hy sinh vì thế mới có câu “Vạn niên là Vạn niên nào, thành xây xương lính hào đào máu dân”. Sau khi xây xong nhà vua đã đem cung tần mỹ nữ cùng các quan lại triều thần vào đây làm việc và hưởng lạc, từ đó cả triều đình nhuộm đầy âm khí, đưa đến hậu quả đất nước loạn ly và nhà Nguyễn suy vong.

Ðối chiếu lại thực tế, sau khi lăng Hồ Chí Minh mở cửa và tập tục chia phần âm khí được áp dụng một cách nghiêm túc trong khoảng thời gian từ 1975 - 1985 đất nước cũng đã từng điêu đứng suy tàn.

b)- Trấn áp linh thần chùa một cột:

Chùa một cột xây dựng từ năm 1049, xuất phát từ giấc mộng của vua Lý Thái Tông thấy Phật Bà Quan Âm ngồi giữa tòa sen. Chùa có hình dáng một hoa sen với tượng Phật Bà Quan Âm thờ trong đó. Chùa còn có tên là Diên Hựu ( có ý nghĩa là kéo dài cõi phúc). Chùa có giá trị lịch sử. Trải qua bao thăng trầm chiến tranh ngôi chùa và tượng Phật Bà vẫn tồn tại với thời gian. Chùa một cột có thời đã trở thành biểu tượng chung cho Hà Nội, miền Bắc. Sau 1975 lăng ông Hồ Chí Minh đã được xây dựng và lấn chiếm một phần đất đai của chùa, với kiến trúc đồ sộ lấn áp đè bẹp hoàn toàn kiến trúc của chùa một cột. Ðây là một điều không tốt đẹp về mặt phong thủy. Kiến trúc ngoại lai của ngôi mộ với cô hồn chưa siêu thoát lại trùm lên đầu một ngôi chùa cổ linh thiêng lịch sử thờ Phật Bà Quan Âm là cả một sự đảo lộn về văn hóa, tâm linh và phong thủy.

Ðể đi vào kết luận chúng ta cũng nên có sự so sánh với lăng Lenin như sau:

Lăng Lenin xây dựng từ năm 1924, ướp xác có sự đồng thuận của thân nhân, “S.Delizda, từng là thư ký riêng nhiều năm của Krupskaia (phu nhân Lênin) đã viết trong hồi ký của mình: “Khi được thông báo Lăng Lênin chuẩn bị mở cửa để các tầng lớp nhân dân lao động vào viếng Người, thì Krupskaia đã tới Lăng lần đầu tiên. Ðó là ngày 26/5/1924. Cùng đi vơi Krupskaia còn có D.Vullyanrov, một người bà con của Lênin. Sau khi thăm phòng đặc biệt dùng để bảo quản thi hài Lênin, Krupskaia đã gặp gỡ và cám ơn các chuyên gia, đặc biệt là hai giáo sư Sibarski và Valuabov đã không quản ngại khó khăn và nguy hiểm trong công việc bảo quản thi hài. Sau lần đó thì mỗi năm Krupskaia đều tới Lăng khoảng một hai lần. Lần cuối cùng Krupskaia thăm Lăng là vào năm 1939, và sau đó chỉ mấy tháng thì Knupskaia cũng vĩnh viễn ra đi”.

http://www.vnmedia.vn/print.asp?newsid=48186

Xác ướp hàng sáu tháng phải ngâm tẩm, bảo trì, cùng áp dụng tập tục chia phần âm khí.

Riêng lăng Hồ chí minh ngoài những vi phạm cùng đặc điểm với lăng Lenin, còn chịu thêm ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố phong thủy khác như:

- Xác chết được lưu giữ lại trái di chúc, nên linh hồn người chết không thể siêu thoát. Vì thế mặc dù xác ướp được đặt trong hòm kính vô sinh với kỹ thuật tối tân của các nhà bác học Liên Xô (đã từng có kinh nghiệm qua xác ướp Lenin), thế mà cũng không tránh được chiếc hòm kính bị xì, tai rụng, mũi bị thúi và khuôn mặt bị biến dạng.

http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=3353&mode=&order=0&thold=0

Do vậy, lăng này phải đóng cửa một thời gian dài để cho chuyên gia Liên Xô đại tu trở lại vào cuối thập niên 70s.

- Ông Hồ Chí Minh đã gây nên bao tội lỗi, hận thù dân tộc trên toàn cõi Việt Nam, cho nên phải chịu sự nguyền rủa thậm tệ khó mà mồ yên mã đẹp lâu dài để lại cho kẽ kế thừa.

- Ông Hồ Chí Minh trước khi chết mong muốn đi gặp cụ Mac, cụ Lenin chứ không mong đi thăm ông bà tổ tiên. Ông mong ước các đảng cọng sản anh em đoàn kết vô sản. Ông Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời chính trị chưa bao giờ khoan hồng, đặc xá cho ai cả, và cũng chưa từng nói câu từ bi hỉ xả, cõi lòng luôn luôn nung nấu ý chí hận thù giai cấp. Thế mà giờ đây đảng ép buộc ông Hồ Chí Minh phải cúi đầu vô chùa ăn chay niệm kinh phật cùng chư tăng là một điều hoàn toàn nghịch lý, một hình thức cưỡng ép hay tra tấn linh hồn người chết.

Thuật phong thủy mồ mả chỉ có thể ảnh hưởng đến thế hệ kế thừa của người chết chứ hiếm khi ảnh hường đến thế hệ cùng thời. Lăng Lenin bị động mồ mả nên đảng cọng sản Liên xô chỉ có thể kế thừa được 2 thế hệ sau thế hệ cách mạng 1917 (tính từ 1924 đến 1986) đất nước Liên Xô là một siêu cường thế giới, mà phải tự tiêu vong do yếu tố phạm phong thủy nội tại của mình.

Ðối với lăng Hồ Chí Minh bị động mồ động mả chẳng những do yếu tố nội tại, bị tác động của yếu tố ngoại lại (sự nguyền rủa do hận thù dân tộc), lại còn chịu sự quậy phá của chính cô hồn chết vì bị làm trái di chúc và cưỡng nhốt vào chùa trái với ý chí ông Hồ. Do đó tốc độ tàn phá sẽ nhanh chóng hơn.

Do vậy có thể kết luận chắc chắn một điều mà không võ đoán là thời gian thừa kế của đảng csvn sẽ ngắn hơn sự tồn tại của đảng cs Liên xô là 62 năm tính từ lúc xây lăng Lenin. Nói một cách cụ thể hơn, đảng csvn sẽ không tồn tại qua hết thế hệ thứ nhất thừa kế di sản của ông Hồ Chí Minh (tính từ năm 1975). Câu hỏi đặt ra là có thể nào cứu vãn được không?

Câu trả lời chính xác nên dành cho đảng cọng sản vậy.

http://anhduong.net/binhluan/Jun07/PhongThuyLangHoCM.htm

Hai Bức Chân Dung Hồ Chí Minh Thường Được Giới Thiệu Tới Ngày Nay

VIET BAO Số: 4039 Ra Ngày: 24/4/2006

Hai Bức Chân Dung Hồ Chí Minh Thường Được Giới Thiệu Tới Ngày Nay

Minh Võ

Lời tác giả: Nhận định về nhân vật lịch sử Hồ Chí Minh từ trước tới nay rất đa dạng, trái ngược nhau, từ cực tả sang cực hữu. Có người tôn thờ ông ngang hàng với ĐứcTrần Hưng Đạo, có người lập bàn thờ tôn là Bồ Tát. Có người (gần đây thôi) lập hẳn một ngôi chùa ở Bình Dương rồi đặt tượng ông trước bàn thờ Phật. Nhưng cũng có người gọi ông là tên phản quốc số một của thời đại, là tên ma đầu, là con yêu râu xanh, là quỷ, quỷ vương.

Trong cuốn Hồ Chí Minh nhận định tổng hợp, phần ghi chú trước khi vào sách, chúng tôi có chọn hai bức chân dung tương đối ôn hòa, trung dung, nhưng rất khác nhau để xin bạn đọc phán đóan rồi tự xét xem mình chọn bức nào, coi như gần với thực tế nhất. Riêng người viết cũng xin đưa ra nhận định của riêng mình trong chương sách thứ 51 gửi kèm theo đây, để Đàn Chim Việt tùy nghi phổ biến, nếu tiện. xin cám ơn.

Minh Võ 21-04-06.

– Bức chân dung thứ nhất:

Sinh ngày 19-5-1890, tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung sau đổi là Nguyễn Tất Thành, tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình bần nho có thành tích chống Pháp. Từ tuổi thơ ấu đã được hun đúc, rèn luyện để trở thành nhà ái quốc.

15 tuổi đã có ý thức chính trị siêu phàm, phê bình các bậc tiền bối cách mạng lừng danh là những người đi lạc đường sẽ không thể cứu nước được.

Do đó, 21 tuổi quyết chí lên tầu làm phụ bếp rời quê hương để ra đi tìm đường cứu nước.

Mang tên Nguyễn Ái Quốc để tập họp các người yêu nước ở nước ngoài tranh đấu đòi tự do dân chủ độc lập cho tổ quốc.

Gia nhập đảng Xã Hội Pháp để học hỏi và tìm phương tiện đấu tranh cho mục đích trên.

Ra khỏi đảng Xã Hội, sáng lập đảng CS Pháp cùng với những đảng viên Xã Hội bỏ phiếu cho QT3.

Sang Liên Xô gặp gỡ các nhà lãnh đạo QT3, học hỏi, thảo luận, nghiên cứu thêm để tìm đường cứu nước.

Từ Liên Xô sang Trung Quốc, bán báo để kiếm sống và hoạt động cách mạng cứu nước. Từ đó vào làm thông dịch viên cho Borodin. Tập họp giới trẻ VN ở Hoa Nam lập nên Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội.

Được QT3 cử đứng ra sắp xếp thống nhất 3 đảng CS ở Đông Dương thành một đảng duy nhất.

Lập mặt trận Việt Minh để đoàn kết mọi lực lượng yêu nước giải phóng đất nước.

Lãnh đạo cách mạng tháng 8 thành công.

Lập nên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Ký kết hiệp định sơ bộ 6-3-1946 với Pháp để tranh thủ một nền tự trị trong Liên Hiệp Pháp. Pháp muốn tái lập nền đô hộ ở Đông Dương vi phạm hiệp định này khiến Hồ Chí Minh phải lãnh đạo toàn dân kháng chiến chống Pháp để duy trì nền độc lập.

Hồ Chí Minh luôn luôn chủ trương đường lối ôn hòa không muốn có chiến tranh, nhưng do Pháp ngoan cố nên phải quyết chiến. Việc xâm nhập, đánh chiếm miền Nam là do đàn em chủ trương. Hồ Chí Minh bị “thiểu số” nên bất đắc dĩ phải theo.

Những thảm trạng tàn sát người vô tội trong Cải Cách Ruộng Đất, Tết Mậu Thân, Xô Viết Nghệ Tĩnh vv... đều do đám thủ hạ ở dưới gây ra chứ Hồ Chí Minh không chủ trương như vậy.

– Bức chân dung thứ 2:

Sinh ra trong một gia đình nhà Nho. Ngày, tháng, năm sinh đều không rõ vì có nhiều niên hiệu khác nhau. Tên khai sinh là Nguyễn Tất Thành. Thân phụ là phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, đang làm quan cho chính phủ Nam triều bị cách chức vì say rượu đánh chết người. Thiếu phương tiện sinh sống, Nguyễn Tất Thành xuống tầu Latouche - Tréville làm phụ bếp kiếm kế sinh nhai, nhờ đó được chu du thế giới. Đến Marseilles, anh Thành nộp đơn xin vào trường Thuộc Địa của Pháp nhưng bị từ chối. Anh tiếp tục làm bồi tàu, thuỷ thủ để kiếm sống do đó từng qua cả Mỹ lẫn Anh. Thời gian ở Anh không được rõ anh ở đâu làm gì. Năm 1917, Thành trở lại Pháp, tiếp xúc với những nhà ái quốc tên tuổi như Nguyễn Thế Truyền, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, nhất là nhà cách mạng Phan Chu Trinh, bạn học cũ của thân phụ anh và được mang tên chung Nguyễn Ái Quốc cùng với các nhân vật này để hoạt động tuyên truyền vận động cho phong trào yêu nước tại Pháp.

Năm 1919 Thành gia nhập đảng xã hội Pháp là một đảng Mác-xít có đường lối đấu tranh tương đối ôn hòa. Anh say mê nghiên cứu học thuyết Marx. Đại tác phẩm Tư Bản Luận là sách gối đầu giường của anh (Sainteny).

Anh cũng theo dõi các biến chuyển trong phong trào Mácxít và tìm đến Lênin vì ông này đã lãnh đạo thành công cách mạng tháng mười.

Cuối năm 1920 dự hội Tours của đảng xã hội, trong đó đảng chia làm hai và anh theo phe ủng hộ QT3 của Lênin tham gia thành lập đảng CS Pháp.

Lúc ấy Manuilski, đồ đệ của Lênin từng lưu vong ở Pháp từ 1905, đang có ảnh hưởng lớn trong đảng CS Pháp, tiếp xúc với Thành mà ông ta chỉ biết dưới tên chung Nguyễn Ái Quốc. Manuilski lợi dụng Quốc để quảng bá chủ trương sách lược mới của Lênin: khai thác lòng yêu nước của nhân dân các nước bị trị để đánh đổ các đế quốc thực dân, làm suy yếu chế độ Tư Bản. Thành cũng lợi dụng Manuilski để có dịp gặp Lênin và các cán bộ cao cấp QTCS. Với sự thông minh và tài ngoại giao anh đã toại nguyện. Anh được được đi dự các hội nghị lớn của QT3, được cử vào ủy ban trung ương QT Nông Dân. Rồi vào trung ương Ủy Ban Tuyên Truyền Quốc Tế.

Cuối năm 1924, Manuilski cử Quốc sang Trung Hoa làm phụ tá và thông dịch viên cho Mikael Borodin, trưởng đoàn cố vấn Liên Xô cạnh chính phủ Quốc Dân Đảng Tôn Dật Tiên. Thực ra, đó chỉ là bình phong, vì Quốc được QT3 trao nhiệm vụ Tuyên Truyền chủ nghĩa CS và lập các chi bộ CS tại Đông Nam Á. Quốc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nên được cử đại diện cho QT3 lo hợp nhất 3 đảng CS ở Đông Dương ngày 3-2-1930.

Bị nhà cầm quyền Anh bắt ở Hương Cảng vì tình nghi hoạt động Cộng Sản, bị giam rồi được thả (nhờ QT3 can thiệp cử luật sư người Anh có khuynh hướng thiên tả bào chữa), sau đó bị gọi về Mạc Tư Khoa tái huấn luyện và học 3 năm tại trường cao cấp Lênin.

Trong đại hội VII (1935), theo tình hình Liên Xô muốn đấu dịu với các nước Tư bản Tây Phương, Đảng CS Đông Dương được lệnh Mac Tư Khoa đổi hướng đấu tranh đòi tự do dân chủ theo chân đảng Cộng Sản Pháp với Mặt Trận Bình Dân.

Năm 1938, Quốc được phái trở lại Trung Quốc chuẩn bị cho cuộc hợp tác Quốc - Cộng của nước này vào năm sau, khi thế chiến II bùng nổ.

Được trang bị đầy đủ về lý thuyết, chiến lược sách lược đấu tranh của Lênin, nhất là được rèn luyện kỹ hơn về tình báo gián điệp và tuyên truyền, Quốc trở lại hoạt động ở Hoa Nam. Ông đã thành công trong việc xâm nhập, thao túng và chiếm danh của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, lũng đoạn chính phủ lâm thời của Trương Bội Công, thao túng Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội của Nguyễn Hải Thần. Hai tổ chức này đều đã tiếp nhận Quốc và bị ông phản, vì mục đích của ông là gia nhập để “biến chúng thành tổ chức của mình” thể hiện đúng kỹ thuật đấu tranh theo sách lược liên minh giai đoạn của Lênin.

Năm 1942 Nguyễn Ái Quốc đổi tên là Hồ Chí Minh, nhận sự giúp đỡ của tướng Trương Phát Khuê của THDQ và những người Mỹ trong tổ chức OSS, tiền thân của CIA. Để đổi lại, ông hứa cung cấp những tin tức về hoạt động của quân Nhật tại Việt Nam.

Với uy tín hội Việt Minh của Hồ Học Lãm và tài tổ chức của một cán bộ QTCS lão luyện, Hồ Chí Minh nhân danh hội này, lập nên Mặt Trận Việt Minh ngày 19-5-1941 tại hang Pác Bó tỉnh Cao Bằng, quy tụ đồng bào trong nước tiến hành cuộc Cách Mạng Tháng Tám thành công, lập nên chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Dần dần các cá nhân đoàn thể yêu nước từng ủng hộ ông nhưng không tán thành đường lối CS đều bị ông loại khỏi Việt Minh. Từ đó Việt Minh coi như đồng nghĩa với CS nên ông lập ra mặt trận Liên Việt để quy tụ những nguời không tán thành đường lối của Việt Minh. Với mặt trận này, Hồ Chí Minh tiến hành chiến tranh chống Pháp.

Nhưng lúc ấy có nhiều dấu hiệu cho thấy dân chúng đã nhận ra tính chất CS của Hồ Chí Minh và các nước Đồng Minh cũng không còn ủng hộ. Tình thế càng nguy ngập hơn do những tổn thất nặng về quân sự sau những trận đánh lớn ở vùng Việt Bắc trong năm 1947.

Ông bèn ngồi viết kiệt tác tuyên truyền dưới bút hiệu Trần Dân Tiên, tự mô tả mình như một nhà ái quốc chân chính được nhân dân gọi là “Cha Già Dân Tộc” với những đức tính dễ thương, lòng nhân ái vô hạn. Ông cho dịch gấp ra tiếng Pháp, gửi sang Ngưỡng Quang, Miến Điện để dịch ra tiếng Anh và nhiều thứ tiếng khác. Cán bộ Cộng Sản khắp nơi dựa theo đó tô vẽ, tạo ra các huyền thoại biến ông thành vị thần bí ẩn và một số nhà báo, học giả ngoại quốc cũng theo đó ca tụng ông là “Cha già dân tộc”, là nhà ái quốc. Nhân danh “cha già dân tộc”, Hồ Chí Minh lôi cuốn, xô đẩy nhân dân vào vòng lửa đạn để nắm vững quyền lực và gây thanh thế.

Áp dụng chiến thuật Mao Trạch Đông và tự đặt dưới sự chỉ đạo của các tướng Trung Cộng Trần Canh, Vi Quốc Thanh, ông đánh thắng Pháp tại Điện Biên Phủ, chiếm được nửa nước, từ vĩ tuyến 17 trở ra.

Lập tức, ông cho tiến hành Cải Cách Ruộng Đất và Hợp Tác Hóa nông, công, thương nghiệp theo mô hình các nước cộng sản đàn anh. Trong CCRĐ nửa triệu dân đã bị hành quyết vì “tội sở hữu một số tư điền”, và bị những tòa án nhân dân do ông chỉ thị cho dựng lên kết án họ là địa chủ, cường hào ác bá. CCRĐ coi như thất bại, ông cử đàn em thân tín là Võ Nguyên Giáp xin lỗi nhân dân, mở ra chiến dịch “sửa sai” để làm cái bẫy bắt gọn những ai ra mặt phê bình “Bác” và đảng.

Kế hoạch kinh tế chỉ huy thất bại khiến kinh tế miền Bắc suy sụp. Năm 1959, ông đưa cán binh xâm nhập miền Nam, mở con đường mòn xuyên lãnh thổ Ai Lao mang tên HCM chuyển quân và vũ khí vào Nam, thi hành chính sách “chiếu cố miền Nam”. Cán bộ “nằm vùng” được lệnh ám sát, bắc cóc, thủ tiêu các viên chức chính quyền Miền Nam tại các thôn xã.

Quốc hội miền Nam đối phó bằng cách ban hành luật 10/59 đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật. Trong khi miền Nam dùng luật pháp để tự vệ, thì ông Hồ và đảng cộng sản khủng bố phá hoại miền Nam bằng mọi cách phi pháp. Cuối năm 1960 ông cho lập “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam” do các cán bộ cộng sản nằm vùng đứng sau điều động đẩy mạnh hơn nữa các hành động phá hoại khủng bố.

Sau khi tổng thống Ngô Đình Diệm tại miền Nam bị giết, Hồ Chí Minh theo lệnh Trung Cộng tiến hành một kế hoạch đại quy mô tiến chiếm miền Nam trong lúc hỗn loạn. Nhưng Mỹ đã can thiệp để cố giữ miền Nam thêm 10 năm nữa. Đầu năm 1968, mặc dầu đã gần 80 và đang dưỡng bệnh tại Trung Quốc, ông Hồ vẫn tích cực chỉ đạo và thường xuyên theo dõi cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân là trận đánh quyết liệt đẩy gần năm chục ngàn cán binh cộng sản vào chỗ chết.

Hơn năm sau ông cũng chết vào ngày 2-9-1969, nhằm đúng ngày “quốc khánh” của ông.

Minh Võ

Trích Hồ Chí Minh nhận định tổng hợp, phần chú thích trước khi vào sách, trang 27- 32.

Hồ Chí Minh Và Vị Đại Anh Hùng Ai Quốc (phần 1)

Minh Võ

Không một ai thắc mắc khi nghe nhắc Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung… là những đại anh hùng cứu quốc hoặc Trần Bình Trọng, Lê Lai hay Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học… là những anh hùng dân tộc và Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… là những nhà cách mạng yêu nước.

Cũng không một ai thắc mắc khi các danh xưng trên không được dành cho nhiều nhân vật lịch sử lừng danh như Trần Thủ Độ, Hồ Quý Ly, Mạc Đăng Dung, Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Ánh …

Vấn đề không phản ảnh thái độ gán ghép chủ quan mà thể hiện sự đáp ứng trọn vẹn các tiêu chuẩn trong hàm nghĩa của ngôn từ. Hành vi và quyền lực của Trần Thủ Độ chưa dễ có người sánh nổi hoặc vượt qua, nhưng Trần Thủ Độ vẫn mãi mãi chỉ là Trần Thủ Độ. Trần Thủ Độ là nhân vật trung tâm gây dựng một triều đại lẫy lừng nhưng lịch sử đã ghi nhận xu hướng mưu đồ cho một dòng họ và thủ đoạn tranh đoạt quyền hành bá đạo. Trần Thủ Độ đã thành công, đã chứng tỏ tầm vóc phi thường nhưng không phải anh hùng, cũng không phải người yêu nước.

Lịch sử không nghiệt ngã, thiên kiến nhưng công bằng.

Bởi danh hiệu anh hùng, yêu nước luôn bác bỏ việc đặt quyền lợi cá nhân hoặc phe phái cao hơn cuộc sống toàn dân và bác bỏ mọi hành vi đi ngược nhân tính. Ở các trường hợp trên, mọi tiêu chuẩn trong hàm nghĩa của ngôn từ đều được thực tế đáp ứng nên danh chính khiến ngôn thuận, và vì thế, không còn thắc mắc.

Trong trường hợp Hồ Chí Minh, việc phù hợp với danh hiệu nào không đơn giản. Tuy đều dựa vào nền tảng thực tế, mọi danh hiệu luôn có vẻ thiếu chính danh và tiếp tục khơi gợi những thắc mắc.

Người xưng tụng Hồ Chí Minh là anh hùng, yêu nước cũng như người kết tội Hồ Chí Minh là phản dân, hại nước đều có thể nêu chứng cớ và đều gặp chống đối.

Người xưng tụng dựa trước hết vào mục tiêu đoàn kết dân tộc chống xâm lăng, giải phóng đất nước của các tổ chức đấu tranh mà Hồ Chí Minh tham dự qua nhiều thời kỳ.

Kế tiếp, là lòng yêu nước và bản tính nhân hậu bẩm sinh được tô bồi từ thuở thơ ấu bởi cả hoàn cảnh gia đình lẫn xã hội đã sớm đặt Hồ Chí Minh vào sự chọn lựa ý hướng tự nguyện hy sinh, sống trọn đời gian khổ vì dân, vì nước.

Cuối cùng là thái độ sùng kính mà toàn dân dành cho Hồ Chí Minh thể hiện qua sự triệt để hưởng ứng mọi hành động của Hồ Chí Minh, qua danh hiệu Cha già dân tộc và qua tiếng gọi Bác thân thiết…

Những người khác phủ nhận mọi viện dẫn trên cho rằng tất cả chỉ là trò trình diễn lường gạt nhắm lôi cuốn quần chúng để khai thác cho tham vọng cá nhân và mục tiêu truyền bá ảnh hưởng Liên Xô tại vùng Đông Á là nhiệm vụ mà Hồ Chí Minh được Đệ Tam Quốc Tế giao phó.

Bởi, từ thập niên 1920, Hồ Chí Minh đã thực sự trở thành tín đồ Cộng Sản, (1) đã dứt khoát chọn con đường cách mạng vô sản thế giới và chưa bao giờ tỏ một dấu hiệu nào cho thấy chỉ dựa vào Liên Xô như một phương tiện khai thác cho cuộc đấu tranh giải phóng đất nước.

Cho nên, Hồ Chí Minh từng bị dân chúng gọi là Cáo Hồ, là Quỷ Vương, Mặt Trận Việt Minh từng bị coi là tiêu biểu của dối trá qua tiếng Vẹm (2) phổ biến từ 1945…

Sự khác biệt như ngày với đêm, như nước với lửa bắt nguồn từ thực tế phức tạp của một giai đoạn lịch sử mà mỗi sự việc, mỗi biến cố, mỗi hành vi của các nhân vật đều có thể hiểu theo nhiều cách, tùy thế đứng, tùy trình độ và tùy cả cảm quan cá nhân. Nói một cách khác, thực tế đã trải nhiều uốn nắn cho phù hợp với những phát biểu mang nặng tính chủ quan thay vì được giới thiệu chính xác để tự phát biểu.

Sau ngót 7 năm xuôi ngược mưu sinh, cuối năm 1917, Hồ Chí Minh định cư tại Pháp và bắt đầu tham gia đấu tranh qua tổ chức Những Người Việt Nam Yêu Nước của Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường. Nhưng toàn bộ hoạt động của Hồ Chí Minh cho tới cuối năm 1920 hoàn toàn không đáng kể, ngoại trừ sự gia nhập Đảng Xã Hội Pháp theo thúc đẩy của Phan Văn Trường là người lúc đó có nhiều tương quan với tổ chức này.

Cuối tháng 12-1920, Hồ Chí Minh ngả theo nhóm đảng viên Xã Hội ly khai để một năm sau, cuối tháng 12-1921, có mặt trong số những người thành lập Đảng Cộng Sản Pháp rồi được cử sang Nga vào năm 1923.

Từ đây, Hồ Chí Minh mới thực sự bước vào đấu tranh với một quá trình hoạt động có thể phân thành 3 thời kỳ chủ yếu:

- Thời kỳ hoạt động giải phóng dân tộc 1924-1945.

- Thời kỳ cầm đầu lực lượng kháng chiến 1945-1954.

- Thời kỳ “chiếu cố miền Nam” từ 1954 tới cuối đời.

– Thời kỳ hoạt động giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh khởi sự cuối năm 1924 tại Hoa Nam là vùng đất quy tụ người Việt Nam lưu vong đấu tranh chống thực dân Pháp.

Từ đầu thập niên 1920, diễn biến chính trị tại Á Đông không thể rũ bỏ ảnh hưởng của cuộc chính biến tháng 11-1917 tại Nga. Trong khung cảnh này, việc Lenin và đảng Cộng Sản Nga đoạt được quyền lãnh đạo đất nước có tác động hết sức lớn đối với hết thẩy người Việt Nam đang đấu tranh giành lại chủ quyền độc lập.

Câu hỏi đến với mọi người lúc đó không phải chủ nghĩa Cộng Sản ra sao mà chỉ đơn giản là người Nga có bí quyết gì để lật đổ nổi chế độ Nga hoàng?

Nguyện vọng đánh đuổi thực dân Pháp thúc đẩy tâm trạng nôn nóng muốn nắm ngay bí quyết này. Cho nên, năm 1920, Phan Bội Châu đã tìm gặp các viên chức Nga tại Bắc Kinh ngỏ ý nhờ giúp đỡ huấn luyện về kỹ thuật đấu tranh.

Phan Bội Châu không đạt ý muốn vì bị đặt trước đòi hỏi phải chấp nhận sự ràng buộc của Liên Xô.

Ảnh hưởng chính biến tại Nga cũng gây chấn động với giới lãnh đạo cuộc Cách Mạng Tân Hợi 1911 của Trung Hoa khiến lãnh tụ Tôn Dật Tiên đã chấp nhận dung nạp Cộng Sản Trung Quốc để liên kết với Nga qua việc ban bố chính sách Liên Nga Dung Cộng. Việc liên kết Liên Xô – Trung Hoa Dân Quốc dẫn tới sự xuất hiện phái bộ cố vấn Borodin tại Quảng Châu là lý do Hồ Chí Minh có mặt tại đây từ cuối tháng 11-1924 với cái tên Lý Thụy (3).

Sự có mặt của Hồ Chí Minh khiến Hoa Nam không còn là địa bàn hoạt động riêng của những người Việt Nam đấu tranh thuần túy cho mục tiêu giải phóng dân tộc mà bắt đầu có sự chen chân của Cộng Sản Quốc Tế với mục tiêu vận động giai cấp đấu tranh tiến tới chuyên chính vô sản thế giới.

Vì tuy là người Việt Nam, Hồ Chí Minh đã có mặt với tư cách một cán bộ Đệ Tam Quốc Tế để thực hiện các nhiệm vụ ghi rõ trong quyết định ngày 25-9-1924 dưới sự chỉ huy trực tiếp của các cán bộ thuộc Bộ Phương Đông Đệ Tam Quốc Tế như Hilaire Noulens, Serge Lefrank… và theo lời lẽ của Hồ Chí Minh qua bản báo cáo ngày 18-12-1924 khi bắt đầu có mặt tại đây: “Trong lúc này, tôi là một người Trung Quốc chứ không phải là một người Việt Nam và tên tôi là Lý Thụy chứ không phải là Nguyễn Ái Quốc”.

Công việc trước mắt của Hồ Chí Minh cũng được ghi rõ trong một văn thư của Quốc Tế Nông Hội thuộc Đệ Tam Quốc Tế: “Theo nghị quyết của đoàn chủ tịch ngày 31-7 (1925), đồng chí được phân công phụ trách không những phong trào của nông dân Trung Quốc mà còn của tất cả các thuộc địa mà đồng chí có thể liên hệ được từ Quảng Châu, nghĩa là của Đông Dương, Miến Điện, Xiêm, Đài Loan và Nam Dương. Đồng chí đặt ngay liên lạc với những thuộc địa trên và tiến tới lập những nông hội ở đấy”.

Thời gian này, Hồ Chí Minh thường xuyên báo cáo công tác của mình và nguyên văn một đoạn báo cáo gửi về Mạc Tư Khoa mùa hè 1926 như sau:

“ Từ khi tới đây tôi đã làm những việc sau đây cho Đông Dương:

1. Lập một tổ chức bí mật.

2. Lập một hội nông dân (của những Việt Kiều sống ở Xiêm).

3. Lập một nhóm thiếu niên tiền phong Đông Dương, con cái công nông. Các cháu đang ở Quảng Châu do chúng tôi nuôi dậy.

4. Tổ chức một nhóm phụ nữ cách mạng (bắt đầu từ tháng tư, có khoảng 12 thành viên)

5. Lập một trường tuyên truyền...”

Bản báo cáo còn đề cập tới vấn đề tài chánh cung cấp bởi Đệ Tam Quốc Tế:

“Các chuyến đi dài ngày (khoảng 2 tuần) nguy hiểm và tốn kém nhiều mà phương tiện của chúng tôi lại ít ỏi (với tiền lương của tôi cộng với tiền lương của một trong số các đồng chí Liên Xô, công việc vẫn chưa chạy nhanh như mong muốn)... (4)

Không thể xóa bỏ nguồn cỗi Việt Nam, nhưng Hồ Chí Minh không còn coi mình là người Việt Nam như lời tự xác nhận vì đã chọn ý hướng phục vụ Đệ Tam Quốc Tế, được tổ chức này nuôi dưỡng và chỉ thị trong từng bước hành động.

Tuy nhiên để đạt hiệu quả trong thực tế, Hồ Chí Minh không thể công khai hóa tư cách Cộng Sản mà cần có bộ áo quốc gia che kín thân hình màu đỏ xẫm của mình tức không thể tách rời khỏi hàng ngũ người Việt Nam yêu nước.

Theo đúng chiến lược Lenin “đường tới Paris phải qua Bắc Kinh”, Liên Xô đặc biệt chú trọng việc bành trướng ảnh hưởng về phương Đông mà hầu hết các quốc gia đều mất quyền tự chủ nên đang sôi sục nguyện vọng giải phóng dân tộc.

Lenin đã đề ra sách lược liên minh qua chính sách mặt trận dân tộc với lời nhắc nhở: “Thắng lợi của cách mạng thế giới sẽ không thể có, nếu không có liên minh cách mạng giữa vô sản tại các nước tiên tiến với các dân tộc bị áp bức tại các thuộc địa bị nô dịch.”

Liên minh để tăng sức mạnh cho giai cấp vô sản đồng thời phân rẽ kẻ thù tư sản thành từng cụm nhỏ cô lập.

Tại phương Đông, cụm kẻ thù đầu tiên là các chính quyền thực dân và liên minh là đoàn kết với các thành phần chống đối thực dân. Nhưng nghĩa chữ đoàn kết theo Cộng Sản đã được Bùi Tín nêu rõ như sau: “Với những người lãnh đạo Cộng Sản, chữ đoàn kết có ý nghĩa khác với ý nghĩa thông thường...

Đoàn kết luôn có nghĩa và chỉ có một ý nghĩa là: Theo tôi! Đoàn kết trong Mặt Trận Việt Minh, trong Mặt Trận Liên Việt hay trong Mặt Trận Tổ Quốc có nghĩa là theo sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, chịu mọi sự áp đặt của Đảng Cộng Sản. Nói khác với Đảng, cãi lại Đảng là vi phạm tinh thần đoàn kết, là phá vỡ khối đoàn kết, là có tội…

Ngay ở trong Đảng, vấn đề giữ đoàn kết của Đảng như con ngươi của mắt mình, có nghĩa là luôn phải tuân theo ý kiến của lãnh đạo, không được có ý kiến khác, nếu có ý kiến khác thì liền bị kết tội bè phái, chia rẽ, phá vỡ sự đoàn kết, thậm chí là phản bội, phản động…

Trong phe xã hội chủ nghĩa, đoàn kết với Liên Xô luôn bao hàm ý tuân theo sự lãnh đạo và chỉ huy của Liên Xô, những ý kiến của Liên Xô phải coi là chỉ thị để chấp hành nghiêm chỉnh.

Trong mối quan hệ trên bán đảo Đông Dương, giữa ba nước Việt Miên Lào cũng vậy, đoàn kết bao gồm ý phải công nhận sự lãnh đạo của Việt Nam, phải coi ông Hồ Chí Minh là người lãnh đạo của cả ba đảng…

Đoàn kết trở thành sợi dây vô hình trói buộc mọi cá nhân với Đảng, mọi tổ chức với Đảng Cộng Sản, thủ tiêu các quyền dân chủ, thủ tiêu sự bình đẳng, làm cơ sở cho mọi sự chuyên quyền và độc đoán tệ hại. Đây cũng là một kiểu cách lạt mềm buộc chặt của ông Hồ Chí Minh” (5)

Hồ Chí Minh đã được huấn luyện tại Mạc Tư Khoa về sách lược liên minh và ý nghĩa đoàn kết đó trước khi nhận nhiệm vụ tại Bộ Phương Đông của Đệ Tam Quốc Tế.

Cuối năm 1924, Hồ Chí Minh có mặt bên cạnh các phần tử dân tộc đấu tranh tại Hoa Nam trong tinh thần liên minh và đoàn kết theo đúng hướng đã học tập.

Để thuận tình hợp cảnh, Hồ Chí Minh bắt buộc phải xuất hiện như một người yêu nước nhiệt thành với nguyện vọng tranh thủ độc lập và chủ nghĩa Cộng Sản chỉ được trình bày như phương tiện hữu hiệu duy nhất để đạt nguyện vọng này.

Đây không phải thủ đoạn cá nhân mà chính là nguyên tắc đấu tranh đã trở thành kinh điển. Không chỉ Hồ Chí Minh trình diễn bộ mặt yêu nước mà hết thẩy những người khác sau khi trở thành đảng viên Cộng Sản cũng phải trình diễn tương tự.

Cũng không riêng các cá nhân mà mọi tổ chức Cộng Sản đều phải thực hiện cùng một cung cách, dù hết thẩy đảng viên Cộng Sản các cấp đều thuộc lòng điều tâm niệm "dân tộc chỉ là màu sắc chứ không phải bản chất và chủ nghĩa ái quốc là một điều nguy hiểm” như khẳng định của Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội trên báo Thanh Niên, cơ quan ngôn luận của Hội số ra ngày 20-12-1926.

Trước đó, tháng 6-1924, nghị quyết đại hội V của Đệ Tam Quốc Tế về sự hợp tác với các phần tử dân tộc tại Phương Đông cũng ghi rõ: "Điều mà chúng ta bắt buộc các đảng Cộng Sản phải làm là tìm cách xử dụng các phần tử dân tộc chống lại giai cấp tư sản. Các đảng Cộng Sản phải thúc đẩy các phần tử bất mãn chống lại chế độ…Dĩ nhiên chúng ta không bao giờ chấp nhận các phần tử dân tộc…Chúng ta chỉ lợi dụng sự bất mãn của họ để phục vụ cuộc cách mạng vô sản.” (6)

Hồ Chí Minh có mặt tại đại hội này và từng phát biểu: “Hiện nay nọc độc và sức sống của bọn rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa hơn là ở chính quốc” (7)

Lời phát biểu không chỉ bày tỏ sự tán trợ sách lược vận dụng hình thức mặt trận dân tộc đoàn kết, lợi dụng các phần tử yêu nước mà còn xác nhận thế đứng dứt khoát trong trận tuyến đấu tranh giai cấp tiêu diệt kẻ thù tư bản.

Mục tiêu theo đuổi của Hồ Chí Minh không còn là nền độc lập dân tộc nữa mà là sự thành công của cách mạng vô sản và kẻ thù không chỉ là các guồng máy thực dân thống trị mà là toàn thể bọn rắn độc tư bản chủ nghĩa.

Dân tộc Việt Nam trước mắt Hồ Chí Minh không còn là một tập thể đồng bào cùng chung huyết mạch mà là một tập thể đầy rẫy bọn rắn độc tư bản chủ nghĩa, kẻ thù không đội trời chung của giai cấp vô sản là giai cấp tiền phong trong cuộc đấu tranh cách mạng đem lại hạnh phúc cho con người và cũng là giai cấp được Hồ Chí Minh chọn lựa phụng sự.

Trong tầm nhìn mới của Hồ Chí Minh so với ba năm trước, đấu tranh giải phóng dân tộc chỉ còn là đoạn đường đoạt thủ quyền lực, cụ thể là đoạt thủ chính quyền cho giai cấp vô sản.

Do các phần tử đấu tranh giải phóng dân tộc đều nhắm mục tiêu lật đổ guồng máy thực dân thống trị để giành độc lập nên tạm thời được coi như đối tượng liên minh cần thiết để tăng triển sức mạnh đối đầu với kẻ thù tư bản trong đó các phần tử thực dân là đối tượng cần tiêu diệt trước hết.

Liên minh chỉ là giai đoạn và ngay trong liên minh vẫn phải nắm quyền chủ động để bảo đảm chính quyền thuộc về giai cấp vô sản khi thực dân bị xô đổ, bởi như Engels đã định nghĩa, chính quyền chỉ là bộ máy mà một giai cấp dùng để hủy diệt giai cấp kia nên không thể để rơi vào tay các giai cấp khác, dù là giai cấp đang được liên minh.

Suốt thời gian hoạt động tại Hoa Nam, Thái Lan và cho tới cuối đời, trong mọi cuộc liên minh, Hồ Chí Minh đã tuân thủ triệt để ý nghĩa đoàn kết mà Bùi Tín diễn tả chính bởi mục tiêu này.

Liên minh để tăng triển lực lượng đấu tranh với điều kiện bảo đảm vị thế độc tôn của giai cấp vô sản nên đoàn kết trở thành tiêu diệt mọi dị kiến.

Trước hết là biến đổi các đối tượng đã tuân phục thành tín đồ tận tụy và kế tiếp là thanh lọc bằng mọi cách các đối tượng không chịu tuân phục. Cho nên khi Phùng Thế Tài bài bác việc gia nhập hàng ngũ các tổ chức đấu tranh giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã giảng giải: “Không vào là sai rồi. Tại sao không vào? Chúng mở cửa cho ta vào nắm quần chúng, sao ta lại quay đi? Chúng mở được hội, thì chúng có khả năng triệu tập quần chúng. Ta phải lợi dụng khả năng ấy. Phải vào mà biến tổ chức địch thành tổ chức ta.”

Tới Quảng Châu tháng 11-1924, chỉ vài tuần lễ sau, Hồ Chí Minh đã tiếp cận tổ chức Tâm Tâm Xã và tháng 6-1925 biến tổ chức này thành Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội với cái nhân được gọi là nhóm bí mật Cộng Sản Đoàn.

Nhóm bí mật gồm Hồ Chí Minh và 8 thành viên Tâm Tâm Xã tuân phục Hồ Chí Minh đã điều khiển tổ chức gồm rất đông hội viên đang có mặt tại Hoa Nam, Thái Lan, Việt Nam vận dụng chiêu bài giải phóng dân tộc, ngấm ngầm truyền bá tư tưởng Cộng Sản.

Với danh nghĩa Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội và chiêu bài tranh thủ độc lập, kể từ 1925, Hồ Chí Minh thu hút nhiều phần tử dân tộc đấu tranh ở trong nước tham gia Cộng Sản như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Đặng Xuân Khu, Tôn Quang Phiệt, Đào Duy Anh…cùng nhiều phần tử chống Pháp khác đang hoạt động tại Thái Lan, Hoa Nam…

Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội nêu mục đích “hy sinh tính mệnh, quyền lợi, tư tưởng để làm cuộc cách mạng dân tộc, đập tan bọn Pháp, giành lại độc lập cho xứ sở, rồi sau làm cách mạng thế giới, lật đổ chủ nghĩa đế quốc”, nhưng trong công tác tuyên truyền vận động quần chúng, phần được nhấn mạnh chỉ là làm cách mạng dân tộc.

Đầu năm 1930, khi Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội bị xóa tên để trở thành Đảng Cộng Sản Đông Dương thì đảng viên Cộng Sản tiếp tục xâm nhập các tổ chức yêu nước khác như Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội của Hồ Học Lãm, Việt Nam Cách Mạng Đồng Chí Hội của Trương Bội Công, Nguyễn Hải Thần… đồng thời nêu chiêu bài dân tộc đấu tranh chống Thực Dân Đế Quốc qua một loạt tổ chức, trước hết là Hội Phản Đế Đồng Minh xuất hiện tháng 11-1930, rồi Mặt Trận Phản Đế Đông Dương tháng 4-1931, Đông Dương Phản Đế Liên Minh tháng 3-1935, Mặt Trận Dân Chúng Thống Nhất Phản Đế tháng 6-1936, Mặt Trận Nhân Dân Đông Dương tháng 10-1936, Mặt Trận Dân Chủ Đông Dương tháng 3-1939, Mặt Trận Dân Tộc Thống Nhất Phản Đế Đông Dương tháng 11-1939 và Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh tức Mặt Trận Việt Minh tháng 5-1941 với lời tuyên truyền Việt Minh không phải là đảng cộng sản, chỉ là một mặt trận gồm tất cả các đảng phái lấy lại độc lập cho nước nhà – theo ghi nhận của Trần Trọng Kim.

Suốt 20 năm từ 1925 đến 1945, Hồ Chí Minh không ngừng thúc đẩy đồng chí tuyên truyền cho mục tiêu đấu tranh của Cộng Sản là đập tan chế độ thực dân Pháp để thu hồi độc lập dân tộc và không ngừng hô hào đoàn kết dân tộc, thống nhất lực lượng đấu tranh để sớm đi tới thành công. Nhưng trong hành động thực tiễn, Hồ Chí Minh và các đồng chí không rời xa ý hướng gây dựng và phát triển sự tồn tại duy nhất của đảng Cộng Sản.

Cho nên Douglas Pike mô tả về hoạt động của Hồ Chí Minh trong giai đoạn này như sau: “Hầu hết những thắng lợi chính trị của Hồ trong thời kỳ tiền Việt Minh là kết quả của tài tổ chức: tạo dựng, xử dụng và đưa ra ánh sáng một cách thuận lợi một chuỗi những tổ chức mặt trận thống nhất, cái sau bao giờ cũng cao hơn cái trước, mỗi cái đều tăng cường quyền lực của đảng, mở rộng thêm sự ủng hộ của cơ sở quần chúng và loại trừ đối lập (rivals). Kỹ thuật (loại trừ) này gồm có việc bao lấy tổ chức đối lập đưa nó vào trong một cộng đồng xã hội rộng lớn hơn như một phương cách làm lu mờ căn cước riêng của nó và như một màn mở đầu để chặt mất đầu, không còn lãnh tụ nên phải tan rã…”

Thực chất sách lược liên minh hay đoàn kết dân tộc dành cho tất cả các tổ chức chấp thuận liên hiệp cùng Cộng Sản dưới một hình thức nào đó với mục đích tăng cường lực lượng chống thực dân chỉ là lôi cuốn, khai thác, lũng đoạn để cuối cùng chiếm đoạt hoặc tiêu diệt theo cách Hồ Chí Minh từng giải thích với Phùng Thế Tài là biến tổ chức địch thành tổ chức ta.

Để giữ vững thành quả, sách lược này còn bao gồm một loạt hành động nối tiếp nhắm loại trừ trở ngại và những mầm mống đe dọa được định danh là kẻ địch.

Quan niệm không có chân lý thứ hai ngoài chân lý Cộng Sản đã biến mọi tổ chức hay phần tử không tuân phục Cộng Sản đều trở thành kẻ địch. Tất nhiên, trong loại trừ kẻ địch thì mọi phương tiện đều tốt, bất kể kẻ địch là ai, ở đâu.

Bernard Fall ghi lại cách đối phó của Hồ Chí Minh với những người từng tham gia các lớp huấn luyện do Hồ Chí Minh hướng dẫn tại Quảng Châu nhưng không chịu từ bỏ tinh thần dân tộc: "Đối với những kẻ chứng tỏ không đáng tin cậy, hoặc sau khi tốt nghiệp trường Hoàng Phố mà từ chối không theo cộng sản, Hồ dùng một liều thuốc rất công hiệu: sai đảng viên cộng sản tiết lộ danh tánh họ cho tình báo Pháp. Sở an ninh trong nước sẽ tóm cổ họ ngay khi về tới.”

Cộng tác với mật thám Pháp chỉ là một trong nhiều phương cách thanh trừng trở ngại. Hai phương cách khác đã trở thành hoạt động đấu tranh của Cộng Sản là vu cáo, bôi nhọ hết thẩy các tổ chức, phần tử dân tộc có uy tín trong quần chúng hoặc thủ tiêu, ám sát.

Sẽ hoàn toàn vô nghĩa nếu nhìn phương cách hành động của Hồ Chí Minh qua sự biểu hiện một tài năng đấu tranh siêu việt theo kiểu nhìn của Halberstam, Douglas Pike, Buttinger … hoặc như chứng cớ cho một bản tính hiểm độc tàn ác theo kiểu nhìn của nhiều người khác.

Đó là những kiểu nhìn chỉ nhắm dẫn đến những lời khen hay tiếng chê về một con người biệt lập chứ không đóng góp tích cực cho nhu cầu xác định các biến cố đã xẩy ra trong thực tế với tính cách lịch sử.

Tiếng nói quan trọng cất lên từ phương cách hành động của Hồ Chí Minh đối với những người nặng tinh thần dân tộc, không chấp nhận chủ nghĩa Cộng Sản là tiếng nói xác định ý hướng phụng sự của Hồ Chí Minh.

Ít nhất kể từ 1918, Hồ Chí Minh đã tham gia hoạt động trong nhóm Phan Chu Trinh do thúc đẩy của lòng yêu nước.

Nhưng từ 1923, khi trở thành cán bộ Đệ Tam Quốc Tế, Hồ Chí Minh tin tưởng tuyệt đối rằng “chủ nghĩa Mác-Lenin là ánh sáng chân lý, là mặt trời đưa lại nguồn vui” (8)

Ánh sáng của vừng mặt trời này cho thấy ngoại trừ giai cấp vô sản và những người tin theo Cộng Sản, mọi giai cấp hoặc phần tử khác đều thuộc hàng ngũ kẻ thù tức bọn rắn độc tư bản chủ nghĩa – theo ngôn ngữ của Hồ Chí Minh.

Vì thế, lòng yêu nước theo cái nghĩa thông thường đã được chính Hồ Chí Minh chỉ cho các đồng chí trong Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội hiểu là nguy hiểm bởi vừa khuôn hạn giữa các biên giới quốc gia nhỏ hẹp vừa đồng nghĩa với sự yêu thương bọn rắn độc tư bản.

Lòng yêu nước, nếu không được hiểu như một vỏ ngoài theo sách lược, sẽ phải hàm chứa ý nghĩa mới là mở rộng theo tầm soi rọi của ánh sáng chân lý Mác – Lenin tức bao quát hết thẩy giai cấp vô sản cùng những người tin theo Cộng Sản trên thế giới. Đất nước của Hồ Chí Minh không còn mang tên Việt Nam mà đã đổi thành quê hương của giai cấp vô sản.

Cho nên mới có lời nhắc nhở của Hồ Chí Minh về tính chất cuộc cách mạng tại Việt Nam như Trần Văn Giàu đã lập lại: “Chúng ta làm cách mạng đánh đế quốc thực dân tức là đánh tư bản chủ nghĩa. Cuộc cách mạng đó có qui mô thế giới mà cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam là một bộ phận”.

Tính giai cấp đã hoàn toàn thay thế mọi thứ tình nhân loại, tình đồng bào… thậm chí cả tình gia đình ruột thịt.

Bởi tất cả những thứ tình này đều đe dọa gây trở ngại cho hoạt động đấu tranh cách mạng vô sản trong trường hợp thiếu nền tảng giai cấp tính.

Sách lược đấu tranh đòi hỏi Hồ Chí Minh phải vận dụng lòng yêu nước theo cái nghĩa thông thường, nhưng ý hướng đấu tranh và mục tiêu phụng sự của Hồ Chí Minh đã đặt trọn vào giai cấp vô sản. Phương cách hành động của Hồ Chí Minh từ 1924 tới 1945 là tiếng nói dứt khoát khẳng định thực tế này và phương châm hành động của Cộng Sản là cứu cánh biện minh cho phương tiện.

Từ đây tiếng nói quan trọng thứ hai đã cất lên là tiếng nói xác định những tổn hại mà lực lượng dân tộc yêu nước phải gánh chịu do phương cách hành động của Hồ Chí Minh.

Sau 20 năm hoạt động, Hồ Chí Minh đã có trong tay Đảng Cộng Sản Đông Dương đủ sức đoạt chính quyền vào Tháng Tám 1945. Sự lớn mạnh của Đảng này tất nhiên do tinh thần tích cực của các đảng viên nhưng không thể phủ nhận xương máu của nhiều nạn nhân là những người Việt Nam yêu nước kể từ tháng 6-1925. Những nạn nhân này đã đóng góp mạng sống vào sự phát triển của Đảng Cộng Sản bằng cách tự nguyện hy sinh cho chiêu bài yêu nước mà Hồ Chí Minh và các đồng chí luôn giương cao hoặc bằng cách bị đẩy vào ngục tù thực dân hay bị âm thầm hạ sát bởi những người Cộng Sản.

Song song với sự lớn mạnh của Đảng Cộng Sản, lực lượng dân tộc yêu nước đã liên tục bị triệt hạ, bị tiêu hao không vì mục tiêu phụng sự dân tộc hằng mong mỏi. Duncanson tỏ ra không xa thực tế khi cho rằng dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, Đảng Cộng Sản Đông Dương đã trở thành lực lượng chống lại những người-yêu-nước-chống-thực-dân.

Bởi khó thể nói khác rằng sức mạnh của Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Đông Dương đã được nuôi dưỡng bằng xác chết của không biết bao nhiêu tổ chức dân tộc đấu tranh và những người Việt Nam yêu nước.

Douglas Pike biện giải rằng dù thực tế diễn ra như thế nhưng có thể ông Hồ không muốn thế và Larteguy coi đây là cái giá phải trả cho một cuộc cách mạng – “Để giữ nguyên sự thán phục dành cho cuộc cách mạng, tốt nhất là không nên nhắc đến các nạn nhân của nó”.

Douglas Pike, Larteguy là những người ngoài cuộc có thể phát biểu theo bất kể cách suy nghĩ đảo điên nào, nhưng tiếng nói cất lên từ thực tế Việt Nam vẫn khẳng định Hồ Chí Minh đã tranh thủ vị thế lãnh đạo bằng cái giá gây tổn hại đau đớn nặng nề cho dân tộc và hàng ngũ những người yêu nước đấu tranh.

Hồ Chí Minh đã nhân danh lòng yêu nước, nhân danh mục tiêu tranh thủ độc lập để tiến hành thủ đoạn tiêu diệt các lực lượng yêu nước hầu đi tới việc độc chiếm quyền hành vào Tháng Tám 1945.

Thời kỳ được gọi là đấu tranh giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh đã diễn ra theo chiều hướng này với những nỗ lực nhắm chủ yếu gây sức mạnh và giành quyền lực cho đảng Cộng Sản Đông Dương.

Hồ Chí Minh đã hoàn thành nhiệm vụ do Đệ Tam Quốc Tế giao phó là mở một đầu cầu bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản tại vùng Đông Nam Á bằng cách vận dụng hữu hiệu các nguyên tắc chiến lược sách lược Lenin-được-Staline-hóa để tiêu diệt hầu hết trở ngại là các tổ chức dân tộc yêu nước Việt Nam.

Điểm chính trong chiến lược sách lược này là phải kết hợp mọi tầng lớp nhân dân trong nước bị trị dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, hay dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản do Hồ Chí Minh, đại diện Đệ Tam Quốc Tế sáng lập và lãnh đạo. Mục tiêu tối hậu của mọi hoạt động là nắm chính quyền tại Đông Dương để tiến tới Cộng Sản hóa vùng Đông Nam Á.

Hồ Chí Minh đã thành công nhưng hàng loạt bàn tay khối óc cần thiết cho công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước Việt Nam đã bị hãm hại, thủ tiêu đồng thời đẩy tập thể dân tộc vào cảnh ngộ phân ly thù hận không thể hàn gắn tới ngày nay.

Bởi vì cuối cùng những người yêu nước đã thấy không còn chọn lựa nào ngoài sự cúi đầu cho Cộng Sản sai phái hay trở thành nạn nhân bị thanh toán. Tất nhiên, khi không chịu trở thành công cụ và muốn tránh số phận nạn nhân thì hành vi đối đầu tự vệ là hành vi bắt buộc phải làm và do đó không thể tránh tình trạng phân ly thù hận.

– Thời kỳ thứ hai là thời kỳ Hồ Chí Minh cầm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp từ 1945 tới 1954.

Biến cố mở đầu được gọi là Cách Mạng Tháng Tám hoặc cuộc Tổng Khởi Nghĩa Cướp Chính Quyền Về Cho Nhân Dân xẩy ra ngày 19-8-1945 là cuộc biểu tình tổ chức tại Công Trường Nhà Hát Lớn Hà Nội, sau đó biến thành tuần hành tới một số cơ quan để đại diện Việt Minh tiếp thu chính quyền theo thỏa thuận đã dàn xếp.

Mấy ngày sau, 27-8-1945, Hồ Chí Minh ra tuyên cáo về việc Ủy Ban Dân Tộc Giải Phóng thuộc Mặt Trận Việt Minh “tự cải tổ thành Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, mời thêm một số nhân sĩ tham gia để cùng nhau gánh vác nhiệm vụ nặng nề mà quốc dân giao phó… Chính Phủ lâm thời không phải là chính phủ riêng của Mặt Trận Việt Minh… Nó thật là một chính phủ thống nhất quốc gia giữ trọng trách chỉ đạo cho toàn quốc, đợi ngày triệu tập được Quốc Hội để cử ra một Chính Phủ Dân Chủ Cộng Hòa chính thức…”.

Trước đó, ngày 25-8-1945 tại Huế, Bảo Đại chính thức tuyên bố thoái vị, trao ấn kiếm cho đại diện Việt Minh đồng thời tại Sài Gòn, Khâm Sai Nguyễn Văn Sâm cũng bàn giao chính quyền cho Lâm Ủy Hành Chánh do Trần Văn Giàu làm Chủ Tịch.

Các phe phái không Cộng Sản trên khắp nước đã bày tỏ cụ thể tinh thần liên hiệp đoàn kết. Hồ Chí Minh đã tuyên cáo chính phủ không phải của riêng Mặt Trận Việt Minh mà là chính phủ thống nhất quốc gia.

Khó khăn trước mắt là hậu quả nạn đói và trận lụt vừa xảy ra bắt đầu từ ngày 18-8-1945 tại nhiều tỉnh miền Bắc cùng với thái độ của nhiều phần tử thực dân trong chính giới Pháp không muốn từ bỏ chủ quyền tại Đông Dương.

Tuy nhiên, công việc đầu tiên của chính phủ do Hồ Chí Minh lãnh đạo lại xoay theo hướng khác.

Chỉ mấy ngày sau khi chính phủ chính thức ra mắt, ngày 1-9-1945, lực lượng võ trang Việt Minh mở cuộc tấn công tiêu diệt căn cứ Nga My, Ninh Bình của Đảng Đại Việt Duy Dân.

Trong 10 ngày đầu tháng 9-1945, Võ Nguyên Giáp nhân danh Bộ Trưởng Nội Vụ ký một loạt sắc lệnh giải tán các đảng Đại Việt Quốc Gia Xã Hội, Đại Việt Quốc Dân Đảng… vì âm mưu với ngoại quốc đe dọa nền Độc Lập của Việt Nam và bắt giữ nhóm lãnh đạo Thanh Niên Ái Quốc Hội với tội danh Việt gian.

Tại miền Nam, các nhân vật giáo phái và nhóm Cộng Sản Đệ Tứ Quốc Tế bị lùng bắt với tội danh âm mưu đảo chính. Hành động này khiến bùng nổ cuộc biểu tình phản đối của tín đồ Hòa Hảo tại Cần Thơ ngày 8-9-1945 và trở thành một vụ thảm sát khi Việt Minh đưa lực lượng võ trang tới trấn áp.

Trả lời dư luận thắc mắc, ngày 10-9-1945, Trần Huy Liệu họp báo tại Hà Nội thanh minh chính phủ không hề khủng bố hay bắt bớ tràn lan “mà chỉ bắt những kẻ đã được nhận thấy là có phương hại tới chính quyền của nhân dân”.

Ngày 11-9-1945, báo Cứu Quốc của Việt Minh loan tin bắt giữ một số Việt gian xâm nhập từ các tỉnh Cao Bằng, Lào Kay mà thực tế chỉ là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, Việt Nam Thanh Niên Ái Quốc Hội…

Trong cùng ngày, Võ Nguyên Giáp ký sắc lệnh giải tán Việt Nam Hưng Quốc Thanh Niên Hội, Việt Nam Thanh Niên Ái Quốc Hội.

Hai ngày sau, 13-9-1945, báo Cứu Quốc loan tin bắt giữ hai lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng từng là đồng chí của Nguyễn Thái Học là Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Thế Nghiệp với tội danh phản quốc. Hai người này đều bị giết sau đó. Tờ báo đăng một bài dài mạ lỵ nhóm lãnh đạo Việt Nam Quốc Dân Đảng đồng thời, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 31 buộc mọi công dân “phải khai báo ý định biểu tình, hội họp cho chính quyền trước 24 giờ” và ngày 15-9-1945, Hồ Chí Minh ký thêm sắc lệnh “đưa đi an trí tất cả những phần tử nguy hiểm cho cách mạng”…

Bộ máy chính quyền đã được vận dụng tối đa và tức khắc vào việc trấn áp các phần tử được nhận thấy có phương hại tới chính quyền của nhân dân như cách nói của Trần Huy Liệu.

Chỉ có một thay đổi nhỏ so với thời kỳ trước là không cần sự tiếp tay của cơ quan mật thám Pháp vì lúc này Đảng Cộng Sản đã nắm quyền trong tay.

Bernard Fall nói về hoạt động của Hồ Chí Minh: “Ông ta quyết tâm làm cho cái Nhà Nước Việt Nam (Dân Chủ Cộng Hòa) sống sót bằng bất cứ giá nào…Khi Hồ thương thuyết với Pháp ở Fontainebleau thì đồng chí của ông là Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Giầu, Nguyễn Bình, Phạm Văn Bạch thanh toán "các kẻ nội thù của chế độ" gồm các nhà lãnh đạo các giáo phái, các quan lại (Ngô Đình Khôi), các nhà trí thức (như Phạm Qùynh), nhóm Trotskit, và các người yêu nước chống cộng” khiến dẫn đến cái hậu quả là " tại Nam Kỳ, cả hai phía, giáo phái và Việt Minh đã giải quyết thanh toán những phần tử cảm tình của đối phương như sau: Trói lại từng chùm rồi thả xuống sông Mê Kông cho chết trôi ra biển.”

Trong lúc tiến hành các thủ đoạn khủng bố tàn khốc đó, Hồ Chí Minh luôn tỏ ra sẵn sàng chấp nhận sự nhượng bộ tối đa trước đòi hỏi của các lực lượng dân tộc để chứng minh lòng yêu nước.

Ngày 11-11-1945, Hồ Chí Minh công bố nghị quyết tự động giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương với lời phát biểu muốn “hợp tác tinh thành với các đảng phái khác” trong tinh thần đoàn kết dân tộc và tiến tới thành lập chính phủ liên hiệp để cùng chung lo việc nước.

Các lực lượng Việt Cách, Việt Quốc từ Hoa Nam trở về đáp ứng lời kêu gọi đoàn kết qua bản thông cáo chung ký tên Hồ Chí Minh, Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh ngày 24-12-1945 với mục tiêu cụ thể:

– Độc lập trên hết, đoàn kết trên hết, tinh thành cùng nhau thảo luận để giải quyết hết thẩy những vấn đề khó khăn trước mắt.

– Ủng hộ một cách thiết thực cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc Hội.

– Đình chỉ mọi sự công kích nhau bằng ngôn luận và hành động.

Rồi chính phủ liên hiệp ra mắt, bầu cử Quốc Hội được tiến hành. Trên thực tế, cuộc liên hiệp chỉ giúp Hồ Chí Minh củng cố vai trò lãnh đạo trong hoạt động ngoại giao với Pháp, ngoài ra các biện pháp tấn công phe đối lập vẫn tiếp diễn.

Trong Một Cơn Gió Bụi, Trần Trọng Kim ghi lại diễn tiến liên hiệp thời điểm đó: “Việt Minh đem một số người ở ngoài đảng của họ vào trong chính phủ như Nguyễn Mạnh Hà, Nguyễn Văn Tố, Đào Trọng Kim vv... để tỏ ra là một chính phủ liên hiệp có cả các hạng người. Song những cơ quan trọng yếu như quốc phòng, nội vụ, tài chính, tuyên truyền đều ở tay những người chính thức Việt Minh, tức là cộng sản như Võ Nguyên Giáp, Trần Huy Liệu, Lê Văn Hiến, Phạm Văn Đồng vv...

Về phương diện quân sự thì quân của Việt Minh có Giải Phóng Quân là quân đã được huấn luyện chính trị cộng sản, Vệ Quốc Quân và Tự Vệ Quân tức là công dân do các ủy ban xã, phố cắt để canh gác và giữ trật tự.

Quân của Quốc Dân Đảng thì có từng khu riêng. Tuy bề ngoài nói các quân đội thuộc về bộ quốc phòng, nhưng thực ra bộ ấy không có quyền hành gì cả. Việc gì cũng quyết định ở quân sự ủy viên hội có Võ Nguyên Giáp, Cộng Sản, làm chủ tịch … Lúc ấy khẩu hiệu của chính phủ là "thống nhất quân đội" mà ba tháng sau khi chính phủ liên hiệp thành lập, quân đội vẫn không thống nhất được… Quân Việt Minh chỉ rình có cơ hội là đánh quân Quốc Dân Đảng, hay bao vây để tiêu diệt lực lượng đối phương, thành ra hai bên cứ kình địch nhau mãi… Sở công an Việt Minh bắt những người Việt Nam Quốc Dân Đảng hay những người bị tình nghi vào tra tấn cực hình, có khi dùng những cách tàn nhẫn ghê gớm hơn thời Pháp và Nhật cai trị. Người một nước với nhau mà đối xử vô nhân đạo như thế, thật là thê thảm.”

Về tình hình chung, Trần Trọng Kim nhận định: “Cộng sản đảng, theo cách tổ chức và hành động, là một tôn giáo mới… Ai không tin theo và phản đối những người đứng đầu đảng tức những bậc giáo chủ, là người phản đạo, phải trừng trị rất nghiêm... Cho nên cha con, anh em, bè bạn không có tình nghĩa gì cả, chỉ biết tôn trọng chủ nghĩa cộng sản và phục tòng người cầm quyền của đảng, ngoại giả, giết hại lẫn nhau, lừa đảo nhau: hễ ai làm những việc lợi cho đảng là người giỏi, người tốt… để thành lập xã hội mới. Xã hội mới ấy không tranh đấu cho quốc gia hay dân tộc. Dù có nói tranh đấu cho quốc gia hay dân tộc, cũng chỉ là phương pháp dùng tạm thời cho được việc mà thôi, chứ mục đích cốt yếu là tranh đấu cho giai cấp vô sản… để thực hiện một thế giới đại đồng, đặt dưới quyền chỉ huy của giáo chủ cộng sản ở bên Nga... Phương thuật của đảng cộng sản bên Nga nói là bài trừ đế quốc chủ nghĩa và tiêu diệt những chế độ độc tài áp chế nhưng lại áp dụng chế độ độc tài áp chế hà khốc và tàn ác hơn… Người cộng sản hay dùng chữ giải phóng…Có phải trước kia có cái cũi giam người, bây giờ đem cái cũi kiểu mới đến bên cạnh rồi bảo người ta chạy sang cái cũi mới ấy là giải phóng không? Nếu cái nghĩa giải phóng là thế, thì cũi cũ hay cũi mới cũng vẫn là cái cũi, chứ hơn gì?… Người nào công kích người cầm quyền của đảng là phải tội bị đày, bị giết. Ai không sốt sắng theo mình thì bị tình nghi, phải chịu mọi phiền khổ. Nhân dân vẫn bị đàn áp lầm than…Như thế thì giải phóng ở đâu?…Lúc đầu Việt Minh tuyên truyền rầm rĩ: "Nước Việt Nam đã được Đồng Minh cho hoàn toàn độc lập, dân được tha hết các thứ thuế"… Dân nghe nói thế chạy ùa ùa theo. Sau chẳng thấy độc lập đâu và dân lại phải đóng góp nặng hơn trước... Thủ đoạn của Việt Minh là dùng mọi cách bạo ngược, giả dối cho được việc trong một lúc. Như họ đối với Việt Nam Quốc Dân Đảng, nay nói đoàn kết, mai nói đoàn kết, nhưng vẫn đánh úp, vẫn bao vây cho tuyệt lương thực. Khi đánh được thì giết phá, đánh không được thì lại đoàn kết, rồi cách ngày lại đánh phá...”

Cho nên, giữa lúc hiện diện chính phủ liên hiệp, tháng 7-1946, Võ Nguyên Giáp đã chỉ huy công an tấn công các trụ sở Việt Nam Quốc Dân Đảng tại Hà Nội với lý do triệt hạ bọn cướp của giết người và cán bộ Cộng Sản dựng hình nộm khắp các cửa chợ, bến sông với tấm băng quàng trước ngực ghi tên Việt gian Nguyễn Hải Thần, Việt gian Vũ Hồng Khanh, Việt gian Nguyễn Tường Tam… là những người có mặt trong chính phủ liên hiệp nhưng không chấp nhận Cộng Sản…

Hồ Chí Minh đã tiếp nối hoạt động của thời kỳ trước với mức độ cao hơn.

Nhu cầu đoàn kết dân tộc khẩn thiết hơn bao giờ hết khi chiến tranh Việt - Pháp bùng nổ cuối tháng 12-1946, nhưng với Hồ Chí Minh, chiến tranh là cơ hội tốt để thanh toán các phần tử đối lập hầu củng cố đảng Cộng Sản được tuyên bố giải tán từ cuối năm 1945. Bernard Fall là người từng gặp gỡ và có nhiều thiện cảm với Hồ Chí Minh đã ghi lại: "Chiến tranh Đông Dương bùng nổ đã đơn giản hóa những khó khăn về chính trị của ông Hồ. Không cần phải đối xử với phe đối lập bằng bàn tay bọc nhung nữa: Cứ việc gọi họ một cách đơn giản là Việt gian.”

Tất nhiên không phải toàn thể quần chúng đều dễ dàng tin theo luận điệu chụp mũ vu cáo do Cộng Sản đưa ra.

Nếu có những người do lòng yêu nước thúc đẩy chỉ dồn trọn tâm lực vào việc chiến đấu chống Pháp không băn khoăn về mọi diễn tiến khác thì cũng có những người ưu tư về chủ trương của Hồ Chí Minh.

Những người sau này đã nhận thấy đối với Hồ Chí Minh, không phải thực dân Pháp mà chính những người yêu nước không chấp nhận Cộng Sản mới là kẻ thù số một. Cho nên thay vì tập trung sức mạnh toàn dân để ngăn chống Pháp, Hồ Chí Minh đã lợi dụng tình thế chiến tranh để tiêu diệt các phần tử đối lập bằng mọi thủ đoạn.

Mục tiêu phụng sự quốc gia dân tộc mà Hồ Chí Minh luôn tuyên bố đã hiện hình là chiêu bài che đậy cho mục tiêu giai cấp đấu tranh. Quốc gia dân tộc chỉ là phương tiện giúp Hồ Chí Minh và các đồng chí áp đặt một đường lối chính trị vào Việt Nam.

Ý thức này khiến mọi hy vọng cuối cùng về hòa hợp hòa giải dân tộc hết lý do tồn tại và không ít người đã dứt khoát từ bỏ hàng ngũ kháng chiến do Cộng Sản đang khai thác để mở ra cục diện tình hình mới là sự hình thành trận tuyến những người Việt Nam yêu nước chống Cộng Sản.

Trên thực tế, sự hiện diện của yếu tố Cộng Sản trong tình hình Việt Nam ngay từ 1945 đã trở thành vấn đề hết sức phức tạp đối với chính giới Pháp, Mỹ. Tư cách cán bộ Đệ Tam Quốc Tế của Hồ Chí Minh giúp thêm lý do cho các phần tử thực dân Pháp theo đuổi tham vọng tái lập chủ quyền tại Đông Dương, đồng thời trở thành chướng ngại cho chủ trương của Mỹ chống đối chế độ thực dân. Bốn tháng trước khi chính thức tuyên chiến với Đức, Tổng Thống Roosevelt đã thuyết phục Thủ Tướng Anh Churchill cùng ký tên trong bản Tuyên Cáo 14-8-1941 được gọi là Hiến Chương Đại Tây Dương cam kết tôn trọng quyền tự quyết của các quốc gia bị trị. Với chủ trương này, Mỹ không đồng ý cho quân Pháp giải giới Nhật tại Đông Dương và đặt lực lượng Đồng Minh tại Đông Nam Á dưới sự chỉ huy của Anh. Do đó, đơn vị đặc vụ Mỹ tại Hoa Nam đã hỗ trợ Việt Minh từ đầu năm 1945 và nhiều sĩ quan Mỹ tỏ ra có thiện cảm với Hồ Chí Minh. Trong ngày tuyên ngôn độc lập 2-9-1945 của Việt Nam, một số tướng tá Mỹ đã hiện diện trên khán đài ở Hà Nội, thậm chí tướng Gallagher còn lên đài phát thanh Hà Nội hát “quốc ca” đòi “phanh thây uống máu quân thù” đến nỗi sau đó bị khiển trách. Tuy nhiên, Mỹ lại nắm chắc tính lệ thuộc Liên Xô của Hồ Chí Minh và đang đối diện với mối lo về tình trạng Liên Xô mở rộng ảnh hưởng khắp Đông Âu sau sự sụp đổ của Đức. Một chính quyền Cộng Sản xuất hiện tại Việt Nam với tư cách đầu cầu cho Liên Xô tràn lấn khắp Đông Nam Á là điều ngoài ý muốn của Mỹ. Cũng ngoài ý muốn của Mỹ nếu Pháp tái lập chế độ bảo hộ tại đây.

Thực ra không phải chính quyền Paris lúc đó không chia xẻ mối ưu tư của Mỹ về hiểm hoạ Cộng Sản. Ngay trong thời gian tiến hành hội nghị Fontainebleau, thủ tướng Pháp George Bidault đã căn dặn trưởng đoàn Pháp Max André về thái độ thận trọng để không biến Hồ Chí Minh thành con cờ của Liên Xô như chính Võ Nguyên Giáp đã ghi lại trong tập hồi ký Những năm tháng không thể nào quên.

Lời căn dặn của Bidault có thể hiểu là lời nhắc nhở phái đoàn Pháp nên uyển chuyển, thậm chí sẵn sàng mềm dẻo tới mức tối đa để thu hút Hồ Chí Minh về phía Tây Phương. Nhưng thái độ của Hồ Chí Minh đã khiến mọi nỗ lực của Pháp không thể đưa tới kết quả mong muốn. Khởi từ sự việc này, có thể nói sự có mặt của Pháp tại Việt Nam đã mang ý nghĩa ngăn chống Cộng Sản ngay từ năm 1946, cụ thể là ngăn chống sự bành trướng ảnh hưởng của Liên Xô. Tuy nhiên, ý nghĩa này đã bị che khuất bởi các định kiến sẵn có từ lâu về vai trò thực dân của Pháp tại Đông Dương, nhất là khó tránh bị khai thác bởi một số người vẫn chưa thể chấm dứt giấc mơ tái lập chế độ thuộc địa.

Những yếu tố phụ thuộc này đã dễ dàng biến ý hướng ngăn chống Cộng Sản của người Pháp thành một chiêu bài che giấu ý đồ thực dân và vì thế đã đặt Pháp vào một trận tuyến không được dư luận quốc tế hỗ trợ.

Chính vì thế, trong bản thông báo ngày 16-12-1946 gửi các đại sứ Mỹ, Ngoại Trưởng James Byrnes tuy ghi nhận ảnh hưởng Pháp tại Việt Nam không chỉ là kháng tố với ảnh hưởng Liên Xô mà còn mang tính bảo vệ toàn vùng Đông Nam Á trước đà bành trướng của Cộng Sản, nhưng Mỹ vẫn giữ thái độ hết sức dè dặt. Do đó, nhiều viên chức ngoại giao Mỹ như Abbott, Landon, Reed, O’Sullivan đã tới Việt Nam với vai trò điều giải cố tìm một lối thoát cho tình thế khó khăn tại đây đã không vượt khỏi tình trạng thụ động chờ đợi.

Cuối cùng, tháng 12-1946, Abbott thú nhận đành bó tay, bởi thay vì nhắm tạo một liên bang kinh tế cần thiết cho cả hai bên thì Pháp cũng như Việt Minh đều nhìn theo hướng khác. Pháp không thể xác định nổi thế nào là quan điểm quốc gia tự do trong khối Liên Hiệp Pháp còn Việt Minh giữ thái độ như trẻ nít chỉ nêu đòi hỏi trong sự thiếu kém kiến thức cả về kinh tế lẫn vấn đề độc lập. Việt Minh không rời bỏ ý đồ độc bá trong khi Pháp không thể dễ dàng đặt các xứ Đông Dương vào vòng ảnh hưởng của Liên Xô. Nhưng lập trường ngăn chống Cộng Sản của Pháp luôn bị đồng hoá với mong muốn tái lập đặc quyền của Pháp, trong khi Việt Minh lại nắm được chiêu bài tranh thủ độc lập cho dân tộc. Trên thực tế, mong muốn tái lập đặc quyền của Pháp vẫn tồn tại với không ít nhân vật trong chính giới Pháp lúc đó và trở thành một xu hướng có ảnh hưởng đáng kể. Hai xu hướng này chỉ có một điểm gặp gỡ là cùng đối đầu với lực lượng yêu nước Việt Nam nên đã có lúc mặc nhiên hợp sức cố loại khỏi chính trường tiếng nói đại diện trung thực cho nhân dân Việt Nam, và chỉ ngừng tại đó. (9)

Thành ra Mỹ không có lý do can thiệp vào nội tình Đông Dương, cũng không thể nghiêng về phía Việt Minh hay về phía Pháp, và chiến tranh trở thành tất yếu. Đương nhiên, cả hai phía đều cố che giấu thực chất của mình. Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản đã có sẵn bộ áo dân tộc yêu nước để hô hào toàn dân hỗ trợ chống xâm lăng trong khi những phần tử chủ trương tái lập chế độ thuộc địa cũng khai thác danh nghĩa ngăn chống Cộng Sản của Pháp để thúc đẩy tình hình diễn biến theo những tính toán của mình. Thực tế phức tạp này đã đem lại thuận lợi nhiều hơn cho chiêu bài yêu nước của Hồ Chí Minh trong khi phủ mờ ý nghĩa ngăn chống Cộng Sản của Pháp vào thời gian bùng nổ cuộc chiến, nhất là khi Cộng Sản Quốc Tế mở rộng mặt trận tuyên truyền trên khắp thế giới.

Tháng 9-1947, tổ chức Đệ Tam Quốc Tế Komintern sống lại dưới cái tên Phòng Thông Tin Quốc Tế Cộng Sản Kominform đặt các quốc gia và tổ chức Cộng Sản khắp nơi vào cuộc đấu tranh cho cách mạng thế giới do Liên Xô lãnh đạo.

Do ảnh hưởng Liên Xô mở rộng sau chiến tranh, cuộc cách mạng thế giới không còn hạn chế trong phạm vi hưởng ứng của một số tổ chức mà có sự tiếp tay qui mô của nhiều quốc gia. Tình hình thế giới lập tức biến thành thế phân cực đối đầu giữa Liên Xô và các nước Tây Phương.

Do đặt dưới quyền chỉ đạo của Cộng Sản, cuộc kháng chiến tại Việt Nam đã gắn kết chặt chẽ với cuộc chiến ý thức hệ giữa hai khối Tự Do và Cộng Sản như Hồ Chí Minh tuyên bố: “Chúng ta làm cách mạng đánh đế quốc thực dân tức là đánh tư bản chủ nghĩa. Cuộc cách mạng đó có qui mô thế giới mà cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam là một bộ phận. Cách mạng Việt Nam được sự ủng hộ của cách mạng thế giới, và cách mạng Việt Nam góp phần vào cuộc cách mạng thế giới đó."

Lời tuyên bố của Hồ Chí Minh cho thấy rõ cuộc kháng chiến không hoàn toàn nhắm mục tiêu giải phóng dân tộc mà nhắm góp phần vào cuộc cách mạng thế giới đánh đổ tư bản chủ nghĩa. Nền độc lập của Việt Nam trở thành thứ yếu vì cuộc chiến mang tính cục bộ của cách mạng vô sản thế giới với mục tiêu bành trướng ảnh hưởng tại Đông Nam Á. Hồ Chí Minh và Cộng Sản Việt Nam được sự ủng hộ của cách mạng thế giới – như lời Hồ Chí Minh tuyên bố – để đẩy nhân dân Việt Nam vào một cuộc trường chinh mở rộng biên thùy cho thế giới Cộng Sản.

Vai trò chống Cộng Sản của Pháp tại Đông Nam Á trở thành sự thực, nhưng hình ảnh thực dân vốn có nơi Pháp không dễ xóa nhòa trong dư luận.

Dân chúng Việt Nam sau gần một thế kỷ bị Pháp đô hộ đã quen đồng hóa người Pháp vào các quan chức thuộc địa.

Với dư luận thế giới, sự xuất hiện những đoàn quân viễn chinh trên một đất nước xa lạ để chống người dân địa phương không dễ giải thích bằng việc bảo vệ bất kỳ thứ lý tưởng nào.

Hơn nữa, nhiều người còn ngờ vực về cuộc chiến tranh ý thức hệ, vì không nhìn thấy cuộc chiến đó ở đâu và ngờ vực luôn cả sự hiện diện của tình trạng chiến tranh lạnh.

Tâm trạng này xuất phát từ nhiều lý do, trong đó quan trọng hơn hết là sự không lưu tâm tới quan niệm đấu tranh giai cấp với chủ trương liên tục và trường kỳ chiến đấu khắp toàn cầu dưới mọi hình thức để xóa bỏ ý thức hệ Tư Bản. Từ quan niệm này, Cộng Sản đã phát động cuộc chiến mệnh danh chiến tranh ý thức hệ bất chấp thái độ của kẻ địch, kể cả trường hợp kẻ địch phủ nhận sự hiện diện của ý thức hệ Tư Bản – một cuộc chiến tất yếu theo quan niệm đấu tranh giai cấp và xảy ra dưới nhiều hình thức nhắm đánh đổ mọi kẻ địch được nêu rõ theo lập luận duy vật biện chứng, kể cả những kẻ không hề nghĩ tới Cộng Sản hay chống lại Cộng Sản. Cũng do đó đã xuất hiện danh từ “chiến tranh lạnh” để diễn tả tình trạng chiến tranh không có tiếng súng. Dưới sự lãnh đạo của Liên Xô, các quốc gia và tổ chức Cộng Sản khắp nơi kết thành một trận tuyến chống lại mọi xu hướng tư tưởng khác với tư tưởng Cộng Sản bao gồm Phong Kiến, Thực Dân, Tư Bản, Dân Tộc… kể cả các hệ phái Cộng Sản ngoài Đệ Tam Quốc Tế như Kausky, Trotski …

Hồ Chí Minh là cán bộ Đệ Tam Quốc Tế từ 1923, Đảng Cộng Sản Đông Dương là chi bộ trực thuộc Đệ Tam Quốc Tế từ 1931 nên cuộc chiến chống Pháp tại Việt Nam gắn chặt với trận tuyến này, tức không thể không mang tính cục bộ của cuộc chiến ý thức hệ thế giới đang diễn ra giữa hai phe Cộng Sản và Tư Bản.

Từ đây, không thể phủ nhận vai trò chống Cộng Sản của Pháp dù trong chính giới Pháp vẫn tồn tại những phần tử chưa muốn từ bỏ chính sách thực dân.

Theo đúng nguyên lý Lenin với sách lược mặt trận dân tộc, hết thẩy các quốc gia và đoàn thể chịu ảnh hưởng Liên Xô đã khai thác sự hiện diện của những phần tử thực dân để vùi dập, bôi nhọ vai trò chống Cộng Sản của Pháp đồng thời khai thác sự hiện diện của những người yêu nước trong hàng ngũ kháng chiến Việt Nam để tán dương chính nghĩa chống xâm lăng của Hồ Chí Minh. Để tăng hiệu quả cho lời tán dương này cũng xuất hiện những lập luận vu cáo, kết án mọi phần tử yêu nước từ bỏ hàng ngũ kháng chiến vì nhận rõ con đường đi ngược nguyện vọng dân tộc của Hồ Chí Minh.

Chính nghĩa và ngụy nghĩa trở thành xen lấn, đảo lộn trong tình thế thực giả, khó phân. Vai trò chống Cộng Sản của Pháp không thể hoàn toàn hiển thị vào lúc đầu nên bị bôi xóa dễ dàng và ảnh hưởng nặng nề tới trận tuyến của những người Việt Nam yêu nước khi từ bỏ hàng ngũ kháng chiến để liên kết với Pháp.

Cuộc liên kết giữa những người Việt Nam yêu nước với Pháp khởi từ cuối năm 1947 là một quá trình vận động hết sức gập ghềnh cho cả hai phía.

Để đại diện cho tiếng nói dân tộc, những người Việt Nam yêu nước phải đẩy Pháp về vị trí đồng minh thuần túy trong cuộc chiến ngăn chống Cộng Sản, trong khi Pháp một phần bị ràng buộc bởi thực tế chiến trường phần khác vẫn có những phần tử chưa thể từ bỏ ngay các đặc quyền. Tới cuối năm 1947, nhiều nhân vật chính trị Pháp vẫn nuôi ý đồ dùng các phần tử yêu nước Việt Nam như một chiêu bài trong chiêu bài chống Cộng Sản. Vì thế, không ít khó khăn đã kéo dài với việc chấp thuận các điều kiện liên kết do những người Việt Nam yêu nước đặt ra, trong số có 2 vấn đề:

– Pháp thừa nhận Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 3 miền Bắc, Trung, Nam có một chính phủ độc lập do người Việt Nam cử ra.

– Việt Nam sẽ có quân đội riêng do chính phủ Việt Nam độc lập nắm quyền điều động.

Đổi lại, Việt Nam chấp nhận gia nhập Liên Hiệp Pháp, sẵn sàng dành cho Pháp thay mặt về các vấn đề ngoại giao và quân đội Việt Nam sẽ tham gia bảo vệ khối Liên Hiệp Pháp.

Hồ Chí Minh Và Vị Đại Anh Hùng Ai Quốc (phần 2)

Những đòi hỏi này được Cao Ủy Pháp tại Đông Dương Bollaert thỏa thuận với Bảo Đại từ cuộc gặp gỡ tại Hạ Long đầu tháng 12-1947 nhưng mãi 6 tháng sau mới được ghi thành điều 1 trong bản tuyên cáo chung 3 điểm Bollaert – Bảo Đại ngày 5-6-1948 như sau: “Nước Pháp long trọng nhìn nhận sự độc lập của Việt Nam. Từ rày về sau, việc tự do thực hiện nền thống nhất quốc gia tùy nơi nước Việt nam. Về phần mình, nước Việt Nam tuyên bố chịu gia nhập vào Liên Hiệp Pháp với danh nghĩa một quốc gia đồng hội với nước Pháp”. (10) Bản tuyên cáo được gọi là Hiệp Ước Hạ Long không được Quốc Hội Pháp thông qua. Suốt thời gian này, Mỹ đã nhiều lần cảnh giác Pháp về việc có thể đẩy toàn bộ Đông Dương vào tay Liên Xô và ngày 9-7-1948 Tây Âu Sự Vụ của Bộ Ngoại Giao Mỹ đã đề nghị với ngoại trưởng Marshall chính thức nói rõ với chính phủ Pháp rằng Pháp đang đứng trước hai ngã đường: “Hoặc chấp nhận ngay nguyên tắc Việt Nam thống nhất gồm cả 3 miền Nam, Trung, Bắc và độc lập trong khối Liên Hiệp Pháp hoặc sẽ mất hết toàn cõi Đông Dương”.

Tuy vậy, vẫn phải chờ thêm 8 tháng nữa, hai bên mới tiến tới thỏa ước Élysée 8-3-1949 giữa Tổng Thống Pháp Vincent Auriol và Bảo Đại, chấp thuận các đòi hỏi mà những người yêu nước nêu ra.

Bản thỏa ước công nhận sự hình thành nước Việt Nam thống nhất độc lập với danh xưng Quốc Gia Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Quốc Trưởng Bảo Đại, nhưng trên thực tế việc xây dựng một chính quyền hoàn toàn độc lập cho Việt Nam vẫn chưa hết khó khăn trong đó có những khó khăn ngay từ phía Pháp.

Khó khăn lớn nhất là dư luận chống đối dấy lên từ chính nước Pháp bởi các tổ chức Cộng Sản và những phần tử chưa muốn từ bỏ chính sách thực dân. Cộng Sản Pháp trong thế liên kết với cuộc chiến ý thức hệ đã vận dụng tối đa các phương tiện truyền thông triệt hạ uy tín của những người Việt Nam yêu nước hầu ngăn chặn mối nguy cho phe Cộng Sản do sự xuất hiện lực lượng dân tộc yêu nước tại Việt Nam.

Trong khi đó, các phần tử chủ trương tái lập chế độ bảo hộ bắt đầu nhìn thấy viễn tượng tan vỡ các đặc quyền. Những bài báo tương tự bài của Simone Terry gọi Hồ Chí Minh là Bác Hồ – L’Oncle Ho – từng xuất hiện trên tờ L’Humanité lúc Hồ Chí Minh tới Paris tháng 6-1946 lại xuất hiện trên các báo Revue Socialiste, Franc-Tireur… ca ngợi “Chủ tịch Hồ Chí Minh đã qui tụ được những người quốc gia không đảng phái cũng như một số đông người Thiên Chúa Giáo yêu nước” hoặc “Việt Nam đứng sau lưng Hồ Chí Minh. Trước hết phải thương thuyết với Hồ Chí Minh – Le Vietnam est derrière Ho Chi Minh. Il faut traiter en premier lieu avec Ho Chi Minh”… Tại diễn đàn Quốc Hội Pháp, các dân biểu Cộng Sản và phe De Gaulle như Guillon, Marc Dupuy… vu cáo nhục mạ Cựu Hoàng Bảo Đại bằng đủ mọi lời lẽ như “Bảo Đại là tay sai của Nhật, đã giao Đông Dương cho Nhật, một ông vua mất chức được biết nhiều ở các sân Golf tại Cannes hay ở các hộp đêm…” và xuyên tạc những người Việt Nam yêu nước “chỉ là một nhóm cựu quan lại, cựu công chức, vài trưởng giả giàu có… chỉ nghĩ đến gia tăng quyền lợi bản thân trước khi nghĩ đến tổ quốc của họ…”

Những người này chống đối thỏa ước Élysée, cho rằng Pháp nhượng bộ quá nhiều so với các hiệp ước ký với Hồ Chí Minh năm 1946, vì Hồ Chí Minh đã đồng ý gác lại vấn đề Nam Kỳ, vẫn coi như lãnh thổ hải ngoại của Pháp…

Trận đánh không có tiếng súng này kìm chân Quốc Hội Pháp trì hoãn tới ngày 2-2-1950 (11) mới phê chuẩn bản thỏa ước. Lúc này, nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã thành lập và công nhận chính phủ Hồ Chí Minh ngày 18-1-1950. Ngày 1-2-1950, Liên Xô cũng công nhận chính phủ Hồ Chí Minh và yêu cầu cử đại sứ tới Mạc Tư Khoa. Hồ Chí Minh đã có một hậu phương khổng lồ ở sát sau lưng với sự yểm trợ về mọi mặt của toàn khối Cộng Sản trong khi trận tuyến những người Việt Nam yêu nước chưa ổn định xong về mặt tổ chức.

Dù sao Quốc Gia Việt Nam đã thành hình với chủ quyền độc lập, lãnh thổ thống nhất, được Mỹ chính thức thừa nhận ngày 4-2-1950 và Anh thừa nhận ngày 7-2-1950.

Sự kiện thực tế này gần như luôn bị gạt qua bởi những người cố tình diễn tả cuộc chiến Việt Nam là cuộc chiến giải phóng đất nước. Theo những người này, lý do bùng nổ cuộc chiến là hành vi xâm lược của Pháp được Mỹ yểm trợ và chính quyền Quốc Gia Việt Nam chỉ là bù nhìn do Pháp dựng lên – dập khuôn theo luận điệu tuyên truyền mà toàn thể khối Cộng Sản nỗ lực đưa vào dư luận thế giới.

Người ta không chỉ gạt bỏ cuộc vận động giành lại chủ quyền dân tộc của những người yêu nước, gạt bỏ chủ trương tiêu diệt phe đối lập của Hồ Chí Minh mà còn cố tình quên tình trạng bị ràng buộc với Đệ Tam Quốc Tế khiến Hồ Chí Minh không thể làm khác được những việc đã làm, trong đó có cả điều mà Vụ trưởng Đông Nam Á Sự Vụ của Mỹ George Moffat Abbott từng mô tả là “thái độ như trẻ nít chỉ nêu đòi hỏi trong sự thiếu kém kiến thức cả về kinh tế lẫn vấn đề độc lập”.

Hồ Chí Minh không bao giờ là trẻ nít mà tuân thủ đúng nguyên tắc đấu tranh, đẩy mọi sự việc theo hướng cần thiết. Từ tháng 9-1945, sau khi quân Pháp đổ bộ Sài Gòn cho tới cuối 1946, Hồ Chí Minh vẫn nhượng bộ, không bàn về vấn đề Nam Kỳ và ký kết cho quân Pháp vào miền Bắc với dụng ý mà các tác giả Lacouture, Sainteny… đã thấy và chính Võ Nguyên Giáp đã ghi lại là tạm hòa với Pháp để có đồng minh tiêu diệt kẻ thù số một vào lúc đó là các phần tử phản động tức những người yêu nước không chấp nhận cả Cộng Sản lẫn Thực Dân.

Khi trấn áp xong lực lượng này thì đồng minh tạm thời là Pháp trở thành kẻ địch. Bước đi được định sẵn của Cộng Sản là lợi dụng các phần tử dân tộc bất mãn với thực dân nên hành động chặt đứt mọi hy vọng thương lượng, đẩy Pháp vào thế phải gây chiến là nước cờ theo đúng lớp lang.

Toàn thể dân tộc không còn chọn lựa nào ngoài việc kháng chiến chống Pháp trong khi Hồ Chí Minh và những người Cộng Sản với vị thế độc tôn lãnh đạo sẽ biến cuộc chiến thành một bộ phận của cách mạng thế giới và được sự ủng hộ của cách mạng thế giới để góp phần vào cách mạng thế giới như Hồ Chí Minh tuyên bố.

Chuyến du hành qua Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa đầu năm 1950 của Hồ Chí Minh và sự tái xuất hiện Đảng Cộng Sản dưới danh xưng Đảng Lao Động Việt Nam cuối 1951 để mở đầu cho chiến dịch thanh lọc rộng rãi kéo dài từ 1953 tới 1956 trong khuôn khổ các chính sách rèn cán chỉnh quân, cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp… là tiếng nói khẳng định mục tiêu bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản.

Sự việc càng cụ thể hơn, khi Liên Xô thay đổi đường lối sau cái chết của Stalin và Trung Cộng cần có thời gian hồi phục sau cuộc đối đầu với Mỹ tại Triều Tiên thì Hồ Chí Minh sẵn sàng chấp nhận giải pháp chia đôi đất nước năm 1954, bất kể nguyện vọng dân tộc ra sao, bất kể đã có bao nhiêu con dân Việt Nam bỏ mình vì mục tiêu bảo vệ độc lập và thống nhất đất nước.

Trong thời kỳ cầm đầu cuộc kháng chiến 1945-1954, Hồ Chí Minh vẫn luôn đặt quyền lợi tối thượng của dân tộc dưới quyền lợi của Cộng Sản Quốc Tế. Lòng yêu nước theo ý nghĩa thông thường đã khô cạn hẳn trong tâm tư Hồ Chí Minh nên dù hàng ngũ kháng chiến có mặt nhiều người yêu nước và ngay cả một số đảng viên cộng sản cũng kháng chiến vì yêu nước hơn vì lý tưởng cộng sản thì cuộc kháng chiến vẫn không vì lý tưởng quốc gia. Bởi hàng ngũ kháng chiến được lãnh đạo bởi một tông đồ (apostle) của tôn giáo Cộng Sản – như Khrutshchev mô tả – và không lúc nào tách khỏi sự chỉ đạo của Đệ Tam Quốc Tế, cụ thể là Liên Xô, nên luôn hướng cuộc kháng chiến xoay theo đích nhắm của khối Cộng Sản.

Kết quả là bất chấp 9 năm hy sinh xương máu của con dân, đất nước bị chia đôi tại vĩ tuyến 17, sau khi đã giành được sự thống nhất Bắc-Trung-Nam với thỏa ước Élysée 1949 do nỗ lực của những người yêu nước.

Rõ ràng Hồ Chí Minh đặt nặng nhiệm vụ củng cố thế lực Cộng Sản hơn quyền lợi dân tộc nên dù luôn kêu gọi liên hiệp, hòa giải vẫn khăng khăng bảo vệ thế độc chiếm quyền hành, cắt đứt mọi điều kiện hình thành một khối dân tộc đoàn kết thực sự, kể cả bằng cái giá là chia đôi lãnh thổ.

Hiệp định Genève 1954 đã đem lại cho Hồ Chí Minh một nửa phần đất nước tựa lưng vào hậu phương Trung Cộng để chuẩn bị cho giai đoạn tiếp nối của cuộc chiến cục bộ tại Đông Nam Á trong cách mạng thế giới, đẩy Việt Nam vào cục diện tranh chấp mới trong cuộc chiến ý thức hệ giữa Cộng Sản và thế giới tự do. Đây cũng là thời kỳ tranh đấu thứ ba của Hồ Chí Minh.

– Thời kỳ thứ ba khởi từ 1954 với nhiệm vụ trước mắt là “chiếu cố miền Nam” theo nghị quyết của Đảng Cộng Sản. Trong thời kỳ này, bộ máy quyền lực tại miền Bắc dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh tiếp tục được vận dụng gần như không rời phương hướng cũ. Các chính sách rèn cán chỉnh quân, thanh lọc hàng ngũ, cải cách ruộng đất, cải tạo thương nghiệp… nhắm mục tiêu chủ yếu là củng cố tổ chức và quyền lực cho Cộng Sản đã làm tê liệt mọi sinh hoạt xã hội đồng thời gieo rắc thảm họa tang tóc khắp nơi.

Kết luận này không do gán ghép để chỉ trích Hồ Chí Minh mà được nói lên từ thực tế xã hội miền Bắc qua ghi nhận của chính các đảng viên Cộng Sản.

Theo Bùi Tín, thực tế đã dẫn đến những nỗi khổ ải của nhân dân, sự đổ vỡ của nền kinh tế, sự lạc hậu triền miên của xã hội, tình trạng nghèo đói và bất công của số đông là những thất bại nặng nề mà Hồ Chí Minh và ban lãnh đạo đảng Cộng Sản chịu hoàn toàn trách nhiệm dù cho ông có thiện chí, có mong muốn tốt đi nữa. (12)

Ngày 29-10-1956, trước công chúng tại sân vận động Hàng Đẫy Hà Nội, Võ Nguyên Giáp đã nói rõ hơn về nguyên nhân dẫn đến những thất bại đó: “Chúng ta đã giết quá nhiều người lương thiện ... chỗ nào cũng thấy địch và dùng tới khủng bố tràn lan ... Khi chỉnh đảng, chúng ta quá chú trọng tới giai cấp xã hội thay vì chỉ căn cứ vào khả năng chính trị mà thôi. Thay vì lấy giáo dục làm chính, ta chỉ dùng tới những biện pháp tổ chức như phạt kỷ luật, khai trừ, xử tử, giải tán tổ chức chi nhánh đảng hay những chi bộ đảng. Tệ hơn nữa, tra tấn được coi như việc bình thường trong thời gian chỉnh đốn tổ chức đảng.” (13)

Việc xây dựng miền Bắc theo hướng củng cố và bành trướng sức mạnh cho đảng Cộng Sản bằng mọi cách, kể cả chém giết, dẫn đến một xã hội “sống kín mít…giống như đứng dưới đáy giếng. Ăn, mặc, ở, quan hệ với nhau coi như ổn, không thành vấn đề. Mặc gần như đồng phục, ăn uống cũng gần giống nhau, theo mức của tem phiếu. Lấy vợ lấy chồng cũng giống nhau, được phép của đảng, của tổ chức, đám cưới đơn sơ giản dị… không cần có động cơ vun đắp lứa đôi… chẳng khác gì xưa bố mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Nay là tổ chức đặt đâu, đảng đặt đâu xin ngồi nguyên đấy cho yên phận…Thế là trong gần 30 năm, do điều kiện chiến tranh, do chính sách bế quan tỏa cảng, hàng chục triệu nhân dân Việt Nam bị tước quyền được là công dân thế giới …Lý lịch là bản mệnh cán bộ và công dân. Nhận xét của cơ quan tổ chức cán bộ và cơ quan công an là có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh chính trị mỗi người. Đối với công dân được nhận xét là trung thành với chế độ, thông suốt chính sách của đảng và nhà nước là điểm son. Đối với cán bộ thì lập trường chính trị vững vàng, thông suốt đường lối chính sách, tin tưởng ở đảng và nhà nước, không có gì vướng mắc… là điểm ưu. (14)

Kiểu mẫu xã hội đó chắc chắn không cần thiết và cũng không phù hợp với nguyện vọng sống bình thường của con người ở mọi nơi, nhưng cần thiết cho đảng Cộng Sản Việt Nam để đẩy mạnh đấu tranh giai cấp với mục tiêu trước mắt là “chiếu cố miền Nam”.

Biến xã hội miền Bắc thành trại lính là điều kiện bảo đảm cho sự tiến hành chính sách chiếu cố miền Nam bằng bạo lực. Đảng Cộng Sản đã trù liệu chiến tranh từ khi ký hiệp định Genève 1954 với kế hoạch chôn giấu vũ khí, cài đặt “cơ sở” tại miền Nam và chiến dịch dựng vợ gả chồng cho cán binh trước khi tập kết ra Bắc để tạo tương quan tình cảm…

Hơn ai hết, Hồ Chí Minh và các đồng chí đã nhìn thấy sự từ khước chủ nghĩa Cộng Sản của đa số dân chúng, nhất là của những phần tử dân tộc yêu nước đang nắm quyền ở miền Nam, sau quá nhiều kinh nghiệm đoàn kết bi thảm với Cộng Sản trước và sau 1945.

Cũng hơn ai hết, Hồ Chí Minh và các đồng chí tự hiểu họ đã chọn con đường chỉ có một hướng nhắm duy nhất là tiêu diệt mọi xu hướng dị biệt. Khi các chiêu bài liên hiệp, đoàn kết để hãm hại ngầm không còn điều kiện tiến hành thì giải pháp duy nhất là sử dụng binh lực.

Bởi vì đích nhắm cuối cùng của Hồ Chí Minh với tư cách đảng viên Cộng Sản là góp phần vào cách mạng thế giới để tạo dựng một thế giới đại đồng dưới nền chuyên chính vô sản. Trong khuôn khổ cách mạng đó, mọi người Cộng Sản đều có nhiệm vụ tham gia trận chiến liên tục trường kỳ cho tới khi đạt thắng lợi cuối cùng.

Cho nên, phát động chiến tranh để chiếu cố miền Nam trở thành tất yếu, ngoài trừ trường hợp không thể xẩy ra là Hồ Chí Minh từ bỏ khối Cộng Sản để đặt mục tiêu phụng sự dân tộc lên hàng đầu và chân thành đoàn kết cùng mọi phần tử yêu nước khác chính kiến.

Bùi Tín vẫn nghĩ Hồ Chí Minh là người yêu nước vẫn phải nhận định: “Trở nên cán bộ của Quốc Tế Cộng Sản Ba, ông bị ảnh hưởng lớn của Stalin và Mao Trạch Đông, đích của ông là giải phóng dân tộc, giành lại độc lập cho đất nước và đích cao hơn nữa là cách mạng vô sản ở Đông Dương, ở châu Á và toàn thế giới… Sùng bái “mặt trời phương Đông”, nể sợ “thiên triều” Bắc Kinh, ông Hồ đã truyền cho những người lãnh đạo khác ở quanh ông, cho cả đảng Cộng Sản một thái độ thụ động vô lý, mất hết khả năng phản kháng và tự vệ. Chính ông cũng bị cỗ xe Mác-Lenin và tư tưởng Mao Trạch Đông đè lên đầu trong khi cả Đảng Cộng Sản và xã hội bị cỗ xe ấy nghiền nát”. (15)

Tuy thế, Bùi Tín cho rằng “không phải bất cứ lúc nào Hồ Chí Minh cũng chỉ là tay sai ngoan ngoãn, trung thành và mù quáng của Đệ Tam Quốc Tế.” Chứng cớ được viện dẫn là Hồ Chí Minh đã giữ thái độ tự chủ trong lãnh đạo chiến tranh. Không nghe theo lời Mao và Lâm Bưu khuyên là ở miền Nam chỉ nên duy trì chiến tranh du kích, chỉ nên đánh ở cỡ đại đội … cũng không nghe theo lời Liên Xô khuyên là nên hạ súng tìm giải pháp hòa bình vì Việt Nam không thể chống nổi Mỹ về mặt quân sự. (16)

Trong tác phẩm của mình, Bùi Tín nhắc lại sự việc này nhiều lần, coi là ưu điểm của Hồ Chí Minh – “cùng với một số người lãnh đạo khác trong Đảng không mù quáng theo lời khuyên của Mao là chỉ nên tiến hành chiến tranh du kích ở miền Nam và cũng không theo sức ép của Liên Xô là phải ngừng chiến tranh để tìm một giải pháp thương lượng nhằm chung sống hòa bình bằng mọi giá”. (17)

Cứ cho rằng đây là ưu điểm của Hồ Chí Minh thì đã dẫn đến kết quả thực tế ra sao?

Trước hết, Hồ Chí Minh vẫn đặt Việt Nam vào cuộc chiến ý thức hệ với mục tiêu bành trướng ảnh hưởng Cộng Sản thay vì đặt quyền lợi dân tộc vào hướng nhắm cuối cùng để giải quyết mọi mâu thuẫn với các lực lượng đối lập.

Vì điều mà Bùi Tín kể như ưu điểm do sáng suốt, không mù quáng của Hồ Chí Minh chỉ là từ chối thương lượng và cương quyết mở lớn qui mô chiến tranh.

Hồ Chí Minh và các đồng chí đã đạt ý muốn là đánh bại các phe phái đối lập, giành trọn quyền lãnh đạo để thành lập nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Nhưng cái giá thực tế mà dân tộc Việt Nam phải trả từ 1954 tới 1975 khó thể diễn tả là gì ngoài thảm cảnh tương tàn bi đát kinh hoàng với tất cả mọi người dân trên khắp các miền đất nước.

Thời kỳ thứ ba trong cuộc đời tranh đấu của Hồ Chí Minh tại miền Bắc là các chính sách chỉnh đảng, chỉnh quân, cải cách ruộng đất, cải tạo thương nghiệp, ba khoan ba chống, ba đảm đang ba sẵn sàng… tới nay vẫn là ác mộng của nhiều người dân khi nhớ lại và còn lưu dấu trong tác phẩm của nhiều tác giả như Dương Thu Hương, Phùng Thế Lộc, Tạ Duy Anh, Bùi Ngọc Tấn… hay trong hồi ký của Nguyễn Minh Cần, Bùi Tín, Vũ Thư Hiên…

Với miền Nam là những ngày đêm khắc khoải âu lo trước tai họa pháo kích bất ngờ, trước nguy cơ khủng bố ám sát và cảnh sống hãi hùng dưới những trận mưa bom đạn luôn sẵn sàng ập tới…

Hậu quả thực tế của thời kỳ này do ưu điểm trong chỉ đạo chiến tranh của Hồ Chí Minh là mọi nỗ lực xây dựng đất nước trên cả hai miền Nam Bắc bị hạn chế tối đa, ruộng đồng trở thành chiến địa, nhà cửa bị tàn phá với hàng triệu người bị sát hại và hàng triệu người khác trở thành tàn phế, kéo lê cuộc sống vô dụng đau đớn…

Theo Bùi Tín, đây là tấn bi kịch của cả dân tộc bắt nguồn từ lòng tin tuyệt đối của Hồ Chí Minh đặt vào chủ nghĩa Cộng Sản: “Bi kịch của cả dân tộc cũng là của ông Hồ là chính ông đã đi đầu trong việc đưa chủ nghĩa Mác-Lênin, nhất là chủ nghĩa Stalin, chủ nghĩa Mao vào Việt Nam”. Bùi Tín nhắc lại ý kiến của Phan Chu Trinh về chọn lựa của Hồ Chí Minh ngay từ năm 1921 và viết: “Cụ Phan phê phán Nguyễn Ái Quốc về phương pháp cách mạng… một mực can ngăn Nguyễn Ái Quốc chớ chủ quan cho phương pháp của mình là đúng. Cụ còn phê phán Nguyễn là xưa nay, từ Âu sang Á, chưa ai làm cái việc như Nguyễn làm… Con đường cụ Phan chủ trương gần giống như con đường của các ông Gandhi và Nehru ở Ấn Độ. Đó là con đường bất bạo động, con đường nâng cao trình độ hiểu biết của nhân dân, mở mang học vấn, cổ động tinh thần đấu tranh, đồng thời tranh thủ các thế lực dân chủ và tiến bộ ở chính quốc…Nếu như hồi ấy, đường lối đấu tranh đại loại như của cụ Phan đề xướng được chấp nhận và thành hiện thực thì đất nước ta rất có thể đã khác hẳn hiện nay, vừa có độc lập thống nhất, có dân chủ và phát triển, có thể tránh được chiến tranh và tránh bị cỗ máy nghiền mà chủ nghĩa Stalin, chủ nghĩa Mao đã đưa đến thông qua đảng Cộng Sản với biết bao hậu quả nặng nề chưa biết đến bao giờ mới khắc phục được…” (18)

Mong mỏi của Bùi Tín không xa với mong mỏi của mọi người nhưng không trở thành hiện thực, vì Việt Nam đã được gắn vào cuộc chiến toàn cầu giữa khối Cộng Sản và thế giới tự do theo đường lối lãnh đạo của Hồ Chí Minh.

Từ giữa thập niên 20, Hồ Chí Minh đã tận lực đấu tranh đưa đất nước vào chiều hướng dẫn tới thực tế như được diễn tả. Thực tế này không thể là nền tảng vững chắc cho sự xưng tụng Hồ Chí Minh là nhà ái quốc hay đại anh hùng của dân tộc Việt Nam. Dù muốn dù không, sự nghiệp của Hồ Chí Minh đã gắn liền với những tàn phá khủng khiếp mà dân tộc phải gánh chịu.

Tuy nhiên, sẽ bất công nếu khẳng định Hồ Chí Minh chỉ là kẻ nuôi mưu đồ phản dân, hại nước. Trên thực tế Hồ Chí Minh đã bước vào đấu tranh do thúc đẩy của lòng yêu nước, góp mặt bên cạnh các lãnh tụ Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường.

Sự thay đổi sau đó không hẳn do Hồ Chí Minh muốn bán rẻ đất nước cho ngoại bang như nhiều người đã kết buộc mà chủ yếu do niềm tin mù quáng ở khám phá của mình để chọn lựa một lý tưởng bôi xóa dân tộc trong quan niệm phân chia giai cấp.

Hồ Chí Minh chắc chắn không muốn bán rẻ đất nước, nhưng đã biến giai cấp vô sản thành toàn thể dân tộc. Ngoài giai cấp vô sản, mọi thành phần giai cấp khác đều trở thành rắn độc trước mắt Hồ Chí Minh.

Quan niệm về đồng chí, đồng bào của Hồ Chí Minh đã đặt trên một nền tảng tư duy khác biệt hoàn toàn so với nền tảng tư duy thông thường. Khi triệt hạ những người yêu nước, Hồ Chí Minh có thể chỉ nghĩ đang thực hiện sứ mạng triệt hạ những con rắn độc để đem lại an toàn cho đời sống của con người đã được nêu rõ là chỉ gồm giai cấp vô sản.

Trong hoàn cảnh đó, không thể phủ nhận những ý định tốt – dù là mù quáng – để quả quyết Hồ Chí Minh chỉ có ý định phản dân hại nước. Nhưng, ý định tốt hay xấu không thể là nền tảng để đánh giá con người, nhất là những con người mà cuộc đời gắn liền vào lịch sử.

Trên thực tế, vẫn diễn ra không ít trường hợp “nền hỏa ngục lát bằng những ý định tốt” – L’enfer est pavé de bonnes intentions”.

Cho nên, tư tưởng gia Revel đã định nghĩa “Lịch sử không phải là kết quả do những ý định của người ta mà là kết quả do những hành động của họ”.

Những bạo chúa trong lịch sử nhân loại như Tần Thủy Hoàng, Néron hay những lãnh tụ khát máu như Hitler, Staline … vẫn có thể theo đuổi ý định tốt nào đó, nhưng ý định này không thể xóa nhòa kết quả hành động của họ là hàng triệu nạn nhân bị tàn sát và những tai họa kinh hoàng mà con người phải gánh chịu. Do đó, đánh giá về Hồ Chí Minh, Revel không nghĩ Hồ Chí Minh có ý định xấu khi chọn lựa lý tưởng Cộng Sản và tôn thờ Lenin như thầy, như cha...

Vào lúc chọn lựa, Hồ Chí Minh có thể đang nuôi nhiều ý định tốt nhưng kết quả hành động rõ ràng chỉ đưa lại những thảm họa cho dân tộc Việt Nam: “…Những kết quả còn đó: Nô lệ, xương máu, chết chóc và đói khát. Đã trưng dụng cuộc chiến đấu chống thực dân để đưa đến một tình trạng suy sụp như thế thì chẳng còn cách gì chống chế để chạy tội cả. Trái lại, đây là một trường hợp phạm tội gia trọng, một vụ đánh cắp, một vụ lừa bịp không hơn không kém.”

So với mọi cách đánh giá đã có, lối nhìn theo tiêu chuẩn thực tế của Revel là cách đánh giá trung thực và công bằng nhất, vì không mang nặng ảnh hưởng của những thiên kiến có tính gán ghép chủ quan.

Nhưng, khó thể gọi kẻ đã hành động lừa bịp, đã phạm tội gia trọng là anh hùng yêu nước, dù trong khi hành động vẫn có thể có ý định tốt là muốn phục vụ cho một mục tiêu lý tưởng nào đó. Vả lại, trong mỗi con người đều tiềm ẩn hai mặt tốt và xấu với những xu hướng khi nhịp nhàng ăn khớp với nhau, khi xung khắc loại trừ nhau.

Cá nhân Hồ Chí Minh dù là một chính trị gia, một lãnh tụ hẳn cũng có những xu hướng trái ngược, một bên là ông thánh, một bên là con quỷ, hay nói theo Pascal, một bên là thiên thần, một bên là con thú. Bi kịch là lòng ham muốn trở thành thiên thần quá mạnh lại dễ biến con người thành con thú.

Với cách đánh giá này, các cơ sở khác đã được nêu ra như lòng ái quốc bẩm sinh khiến Hồ Chí Minh sớm chọn ý hướng hy sinh, sống đời gian khổ vì dân, vì nước và được toàn dân sùng kính, triệt để tin theo không còn đáng kể nữa.

Dù vậy, vẫn có thể nhìn lại các luận cứ viện dẫn để nhận diện thêm về đối tượng.

Duiker là tác giả tiêu biểu cho những người đề cao Hồ Chí Minh dựa trên hai cơ sở này. Trong Ho Chi Minh, a life, Duiker dành nhiều trang tả thời thơ ấu của Hồ Chí Minh chìm ngập giữa tác động của lòng yêu nước và quả quyết Hồ Chí Minh đã sớm nhận ra sự lạc hướng trong đấu tranh của các bậc tiền bối.

Theo Duiker, từ thuở mới lọt lòng, Hồ Chí Minh đã được mẹ ru bằng ca dao và những vần thơ Kiều rồi được nghe bà kể chuyện về các bậc anh hùng, được cha là một nhân sĩ yêu nước chống Pháp nhắc về các nhân vật lịch sử, được một người thợ rèn hàng xóm nói về các cuộc khởi nghĩa chống xâm lăng...

Trong không khí un đúc này, Hồ Chí Minh sớm nẩy nở tinh thần cứu nước và sớm nhận ra các phong trào đấu tranh lúc đó của các lãnh tụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… đều sai hướng nên năm 1911 đã xuất ngoại tự tìm lấy con đường cứu nước để trở thành nhà ái quốc vĩ đại, trở thành vị anh hùng dân tộc của Việt Nam.

Duiker trưng dẫn nhiều nguồn tài liệu khi viết Ho Chi Minh, a life, nhưng những trang viết về đoạn đời này của Hồ Chí Minh chỉ phản ảnh trọn vẹn tài liệu của các sử gia Cộng Sản Việt Nam.

Bùi Tín tuy ngưỡng mộ Hồ Chí Minh đã phát biểu về khuôn mẫu này như sau: “Những người viết sử ở Hà Nội theo sự chỉ đạo của Đảng đã tô vẽ ông Nguyễn Sinh Sắc thành một nhân vật cách mạng kiên cường chống thực dân nên bị mất chức, là cố tình bịa đặt sai sự thật. Việc nêu lên chuyện anh Nguyễn Tất Thành vì thấy cách mạng bế tắc do chủ trương Đông Du và cải lương thất bại nên ra đi để tìm đường cứu nước là cố nói lấy được nhằm tô vẽ lãnh tụ đã giác ngộ cách mạng từ lúc còn rất trẻ cũng là việc sai sự thật lịch sử”.

Dựa theo các tài liệu xác tín (19) do sử gia Daniel Hemery sưu tập và nhiều nguồn tài liệu khác, Bùi Tín cho thấy cuộc đời thực của Hồ Chí Minh tương phản hoàn toàn với bức họa của William J. Duiker.

Trên thực tế, Nguyễn Sinh Sắc (cha của Hồ Chí Minh) chưa từng tham gia đấu tranh. Nguyễn Sinh Sắc sinh năm 1863, mồ côi cha mẹ năm 1868, được ông đồ Hoàng Xuân Đường đem về nuôi dạy. Năm 1881, Nguyễn Sinh Sắc thành con rể của Hoàng Xuân Đường, được cha mẹ vợ tặng cho một số vốn ra sống riêng, theo đuổi con đường cử nghiệp nhưng tiếp tục lận đận. Năm 1893, ông đồ Hoàng Xuân Đường qua đời nên Nguyễn Sinh Sắc cùng vợ con trở về sống chung với mẹ vợ.

Ngoài 30 tuổi, Nguyễn Sinh Sắc mới đậu cử nhân kỳ thi Hương 1894, nhưng năm 1895 thi trượt kỳ thi Hội.

Năm 1898, Nguyễn Sinh Sắc lại thi trượt nên đổi tên là Nguyễn Sinh Huy và đổi tên hai con trai từ Nguyễn Sinh Khiêm, Nguyễn Sinh Cung thành Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn Tất Thành.

Năm 1901, Nguyễn Sinh Huy thi Hội đậu Phó Bảng (20) và theo phép nước lúc đó, dân làng Kim Liên phải cất cho vị tân khoa một căn nhà lá 5 gian. Năm 1902, vợ Nguyễn Sinh Huy qua đời và năm 1904, Nguyễn Sinh Huy được bổ nhiệm làm một viên chức nhỏ trong bộ Lễ nên dẫn các con về Huế.

Tháng 5-1909, Nguyễn Sinh Huy được cử làm tri huyện Bình Khê, Bình Định, nhưng năm 1910 bị sa thải vì tội say rượu đánh đập đến chết một nông dân tên Tạ Đức Quang.

Sở Mật Thám mở cuộc điều tra xác định ngộ sát do Nguyễn Sinh Huy say rượu, nhưng Hội Đồng Nhiếp Chính ở Huế quyết định tước mọi chức quyền. Thế là gần 50 tuổi bị thu hồi ấn tín, sa thải khỏi quan ngạch, Nguyễn Sinh Huy vỡ mộng quan trường, lâm cảnh sinh kế cùng quẫn phải về Lộc Ninh làm giám thị cho một đồn điền cao su. Tại đây, Nguyễn Sinh Huy đã nhiều lần gửi đơn lên Khâm Sứ Trung Kỳ tả cảnh nghèo khó của mình để xin được giao cho một công việc nào đó. (21)

Bùi Tín viết về Hồ Chí Minh thuở đó đại để như sau: “Năm 1911, khi anh thanh niên Nguyễn Tất Thành xuống tàu xuất dương, anh chưa nghĩ đó là đi tìm đường cứu nước…Bằng cấp anh có trong tay chỉ là bằng Certificat (tiểu học)…Anh vào trường Dục Thanh, Phan Thiết làm trợ giáo là do sinh kế. Bi kịch gia đình đang tác động mạnh mẽ đến anh. Ông Nguyễn Sinh Huy vốn nghiện rượu rất nặng…Bà Thanh kể rằng hồi ấy cứ lên cơn thèm rượu và say rượu là bà bị ông bố đánh bằng tay và bằng roi rất tàn nhẫn… Cho nên khi xuống tàu xuất dương, anh thanh niên Nguyễn Tất Thành đang ở tâm trạng bế tắc, việc học dở dang, ông thân sinh bị “đứt gánh” đột nhiên trên con đường hoạn lộ. Anh ra đi để cứu mình trước hết, tìm việc tìm nghề và phần nào để giúp gia đình…

Cho nên ngay khi vừa đến Pháp, ngày 15-9-1911, anh đã nộp đơn xin vào trường Thuộc Địa. Anh bị từ chối vì không thuộc tầng lớp con cháu quan lại cao cấp bản xứ và không có học vấn khá. Từ đó, anh trở thành bồi tàu với mối lo lớn nhất là sự sống của gia đình và niềm mong ước là có lúc bản thân sẽ trở thành một maitre d’hotel…

Cuối năm 1912, khi tới New York, anh đã liên tiếp gửi 2 lá thư cho Khâm Sứ Trung Kỳ kèm theo số tiền 15 đồng bạc Đông Dương nhờ chuyển cho cha và “cầu mong Ngài Khâm Sứ vui lòng cho cha tôi được nhận một công việc như Thừa Biện ở các Bộ” (22)… Phải đến sau đệ nhất thế chiến 1914-1918, tư tưởng chính trị của Nguyễn Tất Thành mới thành hình rõ nét, sau khi tiếp xúc với Đảng Xã Hội, tiếp đó là Đảng Cộng Sản Pháp”.

Theo Bùi Tín, Đảng đã chỉ thị cho các sử gia dựng lên khuôn mẫu nhân vật Hồ Chí Minh thuộc một gia đình chí sĩ cách mạng, được un đúc lòng yêu nước từ tuổi ấu thơ, cha bị cách chức vì chống chính sách sưu cao thuế nặng đối với dân chúng nên sớm nuôi chí đấu tranh rời quê hương đi tìm phương cứu nước cứu dân…

Không thể ngờ vực việc Đảng ra chỉ thị nhưng không thể quên rằng khuôn mẫu trên không do Đảng hay các sử gia mà do chính Hồ Chí Minh đã dựng lên trong tác phẩm Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch được Hồ Chí Minh viết dưới bút hiệu ẩn danh Trần Dân Tiên. Con người yêu nước từ thuở sơ sinh và sáng suốt hơn bất kỳ người Việt Nam nào của thế kỷ 20 chỉ là con người trong tưởng tượng của Hồ Chí Minh, sau đó được các nỗ lực tuyên truyền Cộng Sản trên khắp thế giới tô vẽ lại và Duiker tin theo. Con người này rõ ràng khác rất xa với con người viết thư cho một quan chức thuộc địa cầu xin ân huệ với lời lẽ như “sự quan tâm cao quý của Ngài” và “xin Ngài nhận những lời chào kính cẩn của kẻ dân-con và kẻ tôi tớ chịu ơn Ngài”… Kẻ có lời lẽ đó không thể là khuôn mẫu anh hùng từ tuổi thiếu niên đã quyết bỏ trọn đời đấu tranh cứu dân cứu nước.

Duiker cùng các tác giả xưng tụng Hồ Chí Minh cũng nhắc rằng Hồ Chí Minh đã trải nhiều gian khổ, đã hy sinh mọi sinh thú cá nhân tận tụy đấu tranh để cuối cùng trở thành nhà ái quốc vĩ đại, là vị anh hùng dân tộc lớn nhất trong lịch sử Việt Nam …

Trên thực tế, trọn đời đấu tranh của Hồ Chí Minh chỉ là lãnh lương của Đệ Tam Quốc Tế, đi lại đó đây như một du khách từ Pháp, qua Nga, qua Đức, qua Trung Hoa, qua Đông Nam Á… với cả nửa tá người tình. Gian khổ cùng cực của Hồ Chí Minh chỉ là 18 tháng bị Trung Hoa Dân Quốc bắt giữ do nhập cảnh trái phép và 13 tháng nằm trong nhà giam Hương Cảng của người Anh vì là tay sai Nga bị nghi ngờ muốn phá hoại Hương Cảng.

Hồ Chí Minh bị bắt không do đấu tranh cho đất nước, chưa qua một ngày trong ngục tù thực dân, không chịu một ngọn đòn tra tấn nào, dù chỉ là một cái bạt tai.

Cảnh ở tù được chính Hồ Chí Minh kể lại là “mỗi tuần hai lần, chúng cho ông ăn thịt bò, cơm trắng... Mỗi ngày, chúng cho ông ra sân đi bách bộ mười lăm phút… Những buổi đi hỏi cung là những lúc nghỉ ngơi khoái nhất trong khi ở tù. Vì bọn mật thám thường mời ông hút thuốc lá Anh…” (23)

Cảnh tù đầy đó so với cảnh sống của người dân Việt Nam hiện nay vẫn là cảnh thần tiên nên khó thể trở thành mức hy sinh gian khổ đủ khiến toàn dân kính phục tri ân người phải trải qua để xưng tụng là Cha già dân tộc. Danh hiệu này cũng do Hồ Chí Minh tự gán qua cuốn sách viết về mình và được các họng loa tuyên truyền đổi thành lời xưng tụng của nhân dân.

Riêng người dân nghĩ về Hồ Chí Minh ra sao thì Vũ Thư Hiên từng có thời quấn quít bên Hồ Chí Minh, coi Hồ Chí Minh như người bác thực sự đã ghi lại lời của một bạn thân: “Chúng ta nhầm…Ông Hồ cũng là vua như các ông vua khác, lại không phải vua hiền. Ông ấy biến những con người lương thiện thành những con quỷ. Ông ấy là Quỷ Vương” (24)

Thái độ rõ rệt nhất đối với Hồ Chí Minh do thực tế nêu lên là hơn một triệu người dân miền Bắc ào ạt chạy vào Nam sau hiệp định Genève 1954 khi biết miền Bắc sẽ đặt dưới sự lãnh đạo của “vị Cha Già Dân Tộc” và chọn lựa tương tự của số đông gấp nhiều lần với những nguy hiểm lớn gấp nhiều lần sau tháng 4-1975 tạo thành những trang sử được Michel Tauriac diễn tả “đó là lịch sử của những người được gọi là boat people và còn được mệnh danh là những kẻ chết đắm của tự do. Lịch sử của một dân tộc đã bị tàn hại bởi thứ chính trị hận thù và phân rẽ của chủ nghĩa Cộng Sản” (25)

Diễn tả vắn gọn của Michel Tauriac có thể coi là bao quát hết diễn tiến thực tế lịch sử Việt Nam từ giữa thập niên 1920 về sau. Mức tàn phá của thứ chính trị hận thù và phân rẽ theo quan điểm Cộng Sản trước hết đã đánh phá hàng ngũ người Việt Nam yêu nước đang đấu tranh đòi độc lập, khi Hồ Chí Minh hoạt động bí mật. Sau đó, khi Hồ Chí Minh giành được chính quyền thì toàn thể dân tộc trở thành đội ngũ tiền phong xung trận trong cuộc chiến ý thức hệ giữa hai khối cực quyền trên thế giới.

Tính chất kháng chiến giành độc lập được gán cho giai đoạn 1945-1954 và kháng chiến chống xâm lăng được gán cho giai đoạn 1954-1975 không hề phản ảnh thực tế mà chỉ là kết quả của một trận chiến tuyên truyền với phạm vi bao trùm dư luận khắp thế giới.

Trong giai đoạn 1945-1954, sự hiện diện của quân đội Pháp bên cạnh hàng ngũ yêu nước và sự có mặt của những người yêu nước trong hàng ngũ kháng chiến khiến các luận điệu che giấu tính cục bộ của cuộc chiến ý thức hệ bằng chiêu bài giải phóng dân tộc dễ được chấp nhận.

Trong giai đoạn 1954-1975, sự có mặt của quân đội Mỹ bên cạnh quân đội miền Nam tiếp tục bị khai thác theo hướng cũ với chiêu bài chống ngoại xâm cũng dễ thu đạt hiệu quả do các nỗ lực tuyên truyền của Cộng Sản.

Có thể nói không sợ lầm lẫn rằng trong cuộc chiến ý thức hệ, Cộng Sản luôn nắm ưu thế tuyệt đối về tuyên truyền.

Lý do trước hết là thế giới tự do không đặt nặng việc tuyên truyền trong khi Cộng Sản coi tuyên truyền là mặt trận quan trọng có tầm mức quyết định lớn hơn các mặt trận sử dụng bom đạn.

Lý do kế tiếp là Cộng Sản đã có một quá trình kết khối với kỷ luật rõ ràng là tuân hành mọi chỉ thị từ Liên Xô khiến mọi hành vi đều phối hợp nhịp nhàng với qui mô phủ khắp thế giới nên một luận điệu tuyên truyền được đưa ra ở nơi này sẽ lập tức được lập lại ở nhiều nơi khác để tăng cường tối đa hiệu quả.

Lý do khác không kém quan trọng là kỷ luật thép trong chính sách cai trị tại các quốc gia Cộng Sản và không khí sinh hoạt dân chủ tại phía thế giới tự do. Mọi phương tiện truyền thông, thậm chí mọi lời nói của từng cá nhân tại các quốc gia Cộng Sản đều phải lập lại quan điểm của giới lãnh đạo trong khi người dân phía thế giới tự do có toàn quyền bày tỏ chính kiến theo bất kỳ quan điểm nào. Ưu điểm trong sinh hoạt dân chủ đã mở ra khoảng trống khổng lồ cho Cộng Sản tấn công tuyên truyền tại bất kỳ nơi nào, với bất kỳ thành phần quần chúng nào.

Cuối cùng, cuộc chiến Việt Nam với tính cục bộ trong cuộc chiến ý thức hệ đã thành cuộc chiến của mọi quốc gia Cộng Sản, mọi đảng Cộng Sản, mọi tổ chức Cộng Sản. Tất cả đều đứng trước đòi hỏi phải góp phần, vì là nhiệm vụ chung trên đường đấu tranh giai cấp để giành thắng lợi cuối cùng cho lý tưởng Cộng Sản, nên hợp quần chiến đấu trong mặt trận tuyên truyền bằng những luận điệu xuyên tạc thực tế, vu cáo bôi nhọ tạo một dư luận dẫn tới cô lập đối phương.

Trong diễn tiến tình hình, vũ khí chiến cụ do Liên Xô, Trung Cộng tiếp trợ gần như chỉ đủ giúp Cộng Sản Việt Nam mở các trận đánh duy trì tình trạng chiến tranh để toàn khối Cộng Sản khai thác vào mặt trận tuyên truyền với tầm mức quyết định kết quả cuộc chiến.

Trên mặt trận này, Hồ Chí Minh đã góp phần không nhỏ là dựng bản thân mình thành một người yêu nước, một anh hùng dân tộc để qua đó thu hút sự hỗ trợ của dư luận quốc tế tạo thành áp lực chính trị nặng nề cho đối phương. Khuôn mẫu nhân vật yêu nước Hồ Chí Minh do Hồ Chí Minh nêu lên đã được chép lại ở khắp nơi và chinh phục sự ngưỡng mộ của nhiều người.

Cuốn sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch ký tên tác giả Trần Dân Tiên chính là công binh xưởng số một, lò đúc võ khí vô tận không ngừng được tiếp tế tài nguyên dồi dào của bộ chỉ huy chiến tranh ý thức hệ toàn cầu ở Mạc Tư Khoa. (26)

Khuôn mẫu nhân vật yêu nước Hồ Chí Minh khiến nhiều người không nhìn ra một phần lý do khiến người Pháp, ngay từ 1945, không muốn trao trả độc lập hoàn toàn cho Việt Nam, là mối lo Liên Xô bành trướng qua Đông Nam Á, nên đã phủ nhận tính cục bộ trong chiến tranh ý thức hệ của cuộc chiến Đông Dương I.

Không riêng dư luận quốc tế mà nhiều người ở trong nước cũng bị chinh phục bởi khuôn mẫu này. Do đó, đã có những người yêu nước đứng trong hàng ngũ do Hồ Chí Minh lãnh đạo và không thiếu người xin gia nhập đảng Cộng Sản vì tin rằng Đảng đang chiến đấu giành độc lập cho đất nước. Gương hy sinh chiến đấu của những người này đã góp phần không nhỏ vào việc tạo sự nể phục cho dư luận đối với lập trường cứu nước của đảng Cộng Sản và Hồ Chí Minh.

Thực ra, Hồ Chí Minh không chỉ tạo ra khuôn mẫu yêu nước cho bản thân bằng cuốn sách ký tên Trần Dân Tiên mà bằng rất nhiều thủ đoạn khác.

Cuối năm 1945, Hồ Chí Minh từng ôm Nguyễn Hải Thần khóc nức nở với lời nói tha thiết: “Cả Nam Bộ lại lọt vào tay thực dân Pháp. Mong cụ và anh em Việt Nam Quốc Dân Đảng hãy vì Tổ Quốc Việt Nam gánh vác trách nhiệm chung với chúng tôi”. Tính chất của lời nói đã được chứng minh bằng hành vi thực tế đối với Nguyễn Hải Thần và Việt Nam Quốc Dân Đảng vào mấy tháng sau.

Trước đó, Hồ Chí Minh từng tuyên bố giải tán Đảng Cộng Sản để chứng tỏ một lòng vì dân tộc, trong khi trên thực tế đảng Cộng Sản vẫn tiếp tục hoạt động và năm 1951 đổi tên để tái xuất hiện công khai. Về sự việc này, Nguyễn Minh Cần đã ghi lại lời lẽ và cử chỉ của Hồ Chí Minh trong hội nghị quyết định đổi tên Đảng: “Ông giơ cao nắp hộp thuốc lá thơm Craven "A" của ông lên về phía có nhãn hiệu thuốc và nói: "Đây là Đảng Cộng sản", rồi ông quay phía trong nắp không có nhãn hiệu và nói: "Còn đây là đảng Lao Động". Ông lại lớn tiếng hỏi: "Thế thì các cô các chú có thấy khác gì nhau không?" Cả hội trường đồng thanh đáp vang: "Dạ không ạ." Ông nghiêm nghị nói: "Các cô các chú nên biết rằng việc đổi tên đảng ta, bác đã xin ý kiến các đồng chí Stalin và Mao Trạch Đông rồi (chúng tôi được biết hồi ấy ông vừa đi Moskva về), các đồng chí đã đồng ý. Các cô các chú nên biết rằng: Ai đó thì có thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Đông thì không thể nào sai được." Cả hội trường vỗ tay rầm rầm.” (27)

Cung cách và hành vi của Hồ Chí Minh nếu được những người như Douglas Pike, Robert Shaplen, Halberstam…coi là biểu hiện mức độ tài năng siêu việt thì bị nhiều người khác, thậm chí cả Honey, Sainteny… nhìn thành hiểm ác, xảo trá. Những hướng nhìn đó không đánh giá chính xác con người Hồ Chí Minh để giải đáp nghi vấn vẫn treo lơ lửng là nhà anh hùng cứu nước hay kẻ đại phản quốc.

Thay vì khen chê theo những tiêu chuẩn đạo đức hay khả năng cần đặt mọi cung cách, ngôn ngữ và hành vi đó thành nền tảng cho sự xác định con đường phục vụ và phương pháp đấu tranh của Hồ Chí Minh.

Bằng thực tế, Hồ Chí Minh cho thấy đã gắn bó với đức tin của một tín đồ vào tín ngưỡng Cộng Sản từ năm 1921. Sau sự chọn lựa này, Hồ Chí Minh đã tận tụy không ngừng trong việc thực hiện sứ mạng tông đồ nên ngay từ năm 1926, Hồ Chí Minh đã nhắc nhở các đồng chí rằng dân tộc chỉ là màu sắc và chủ nghĩa ái quốc là điều nguy hiểm.

Bởi vì, trong giáo điều của tín ngưỡng Cộng Sản không hề có quốc gia dân tộc mà chỉ có giai cấp và giai cấp duy nhất được quyền tồn tại là giai cấp vô sản theo đúng quy luật biện chứng lịch sử. Các giai cấp khác bắt buộc phải bị đào thải theo những ý thức hệ phụ thuộc bao gồm mọi hình thái chủ nghĩa đế quốc thực dân, quốc gia dân tộc…

Trước mắt Hồ Chí Minh chỉ còn duy nhất “chủ nghĩa Mác-Lenin là ánh sáng chân lý, là mặt trời đưa lại nguồn vui” và con đường phục vụ của Hồ Chí Minh hướng trọn về phía ánh sáng chân lý này.

Sở dĩ Hồ Chí Minh luôn xuất hiện dưới vóc dáng người yêu nước, một tín đồ dân tộc chủ nghĩa, vì theo nguyên tắc sách lược Lenin, phải thích ứng với thực tế từng giai đoạn để từng bước tiến lên. Không thể với một bước nhảy vọt hoặc theo một con đường thẳng tắp để đi từ chân lên đỉnh núi. Dù không muốn, vẫn phải tùy địa thế dựa theo các triền dốc, uốn theo các khúc quanh. Vóc dáng người yêu nước hay màu sắc dân tộc chính là những khúc quanh, những triền dốc bắt buộc phải bám theo trong phương pháp đấu tranh để đi tới mục tiêu cuối cùng.

Trên tờ Học Tập, cơ quan lý luận và tuyên huấn của đảng Cộng Sản Việt Nam, số tháng 1-1960 nhân kỷ niệm 30 năm ngày thành lập đảng, Hồ Chí Minh đã viết: “Năm nay đảng ta 30 tuổi chẵn.... Chúng ta chân thành cảm ơn đảng Cộng Sản Liên Xô và đảng Cộng Sản Trung Quốc đã giúp ta tự rèn luyện thành một đảng kiểu mới của giai cấp công nhân.”

Trong cùng số báo đó, Lê Duẩn viết: “30 năm nay, lý luận khoa học Mác–Lênin luôn luôn là kim chỉ nam cho mọi hành động của đảng ta”

Lênin đã phát biểu: “Chiến tranh lật đổ chế độ tư sản quốc tế là cuộc chiến tranh trăm phần khó khăn, lâu dài, phức tạp hơn bất cứ cuộc chiến tranh nào giữa các quốc gia. Nếu ngay từ đầu đã từ bỏ không chịu dùng những con đường quanh co, khai thác các mối mâu thuẫn, xung đột quyền lợi thường chia rẽ các đối phương, không chịu thỏa hiệp ký kết thì có khác gì, trong một cuộc mạo hiểm leo núi chưa từng có ai đặt chân tới, mà lại từ chối ngay từ đầu, không chịu đi quanh co một đôi lúc và, đôi khi, quay đầu trở lại, để tìm một hướng đi mới?” (28)

Khai triển ý niệm trên, trong Những nguyên lý của chủ nghĩa Lênin, Stalin đã viết: “Nhiều người nghĩ rằng chủ nghĩa Lênin, nói chung, chống lại cải cách, hiệp ước và điều đình. Điều đó hoàn toàn sai. Người Bolshevick cũng biết rõ như ai rằng ở những hoàn cảnh nào đó, cải cách nói chung và điều giải, thỏa hiệp nói riêng, là điều cần thiết. Chiến sĩ cách mạng chấp nhận sự cải cách, để dùng làm một thứ mồi lửa phối hợp công tác bất hợp pháp, dùng làm nơi ẩn náu ngõ hầu tăng cường công tác bất hợp pháp, chuẩn bị quần chúng làm cách mạng lật đổ chế độ tư bản.” (29)

Mọi cung cách nói năng và hành động của Hồ Chí Minh trong diễn tiến tình hình Việt Nam kể từ thập niên 1920, chiếu theo diễn giải của Stalin, chỉ là những điều giải, thỏa hiệp mang tính ẩn náu trong từng giai đoạn hoặc các mồi lửa với mục đích tăng cường chuẩn bị lực lượng làm cách mạng lật đổ chế độ tư bản.

Trong trường hợp gạt bỏ nền tảng thực tế mà Revel đã nhắc tới để chỉ nhận diện Hồ Chí Minh trên nền tảng lý tưởng và phương pháp đấu tranh, việc xưng tụng Hồ Chí Minh là nhà đại ái quốc hay anh hùng dân tộc cũng hoàn toàn thiếu căn bản.

Hình ảnh chính xác nhất của Hồ Chí Minh vẫn là hình ảnh theo Krutshchev diễn tả: “Hồ Chí Minh là tông đồ nhiệt thành của tôn giáo Cộng Sản… là vị thánh của chủ nghĩa Cộng Sản, người nhiệt thành xả thân vì đại nghĩa Cộng Sản”. Vì thế, Krutshchev đã kêu gọi những người Cộng Sản: “Các bạn phải tôn kính người này, hãy quỳ gối trước ông ấy để tỏ lòng biết ơn về những đóng góp vô vị lợi của ông ấy cho chính nghĩa Cộng Sản”.

Với Cộng Sản, dân tộc chỉ là một tập hợp đầy rẫy nọc rắn độc và chủ nghĩa yêu nước là điều nguy hiểm – như Hồ Chí Minh nhắc nhở – nên sự đóng góp lớn lao cho chủ nghĩa Cộng Sản của Hồ Chí Minh đến mức lãnh tụ Krutschev đòi các đồng chí phải quỳ gối tôn kính cũng đồng nghĩa với sự tàn phá khủng khiếp mà dân tộc phải gánh chịu.

Dù theo đuổi ý đồ tốt đẹp nào trong tranh đấu, Hồ Chí Minh cũng không thể được đặt vào hàng ngũ yêu nước để trở thành anh hùng dân tộc.

Thái độ của người dân Đức hiện nay với Hitler hay người dân Nga hiện nay với Stalin có thể là thái độ thích hợp nhất đối với mọi người Việt Nam để dành cho thần tượng Hồ Chí Minh.

Minh Võ

Trích Hồ Chí Minh nhận định tổng hợp, phần chú thích trước khi vào sách, trang 27- 32.
*
CHÚ THÍCH

CHƯƠNG 51

(01) Tín đồ cộng sản là từ do chính đảng Cộng Sản Đông Dương dùng để gọi các đảng viên. Trong nghị quyết ngày 5-11-1945 tự giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương được Hồ Chí Minh công bố ngày 11-11-1945 có câu: “Những tín đồ của chủ nghĩa Cộng Sản muốn tiến hành việc nghiên cứu chủ nghĩa sẽ gia nhập Hội Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mã Khắc Tư ở Đông Dương”

(02) Vẹm là từ ngữ xuất hiện từ chữ VM viết tắt của Việt Minh với hàm nghĩa nói dối. Tiếng Vẹm rất phổ biến trong quần chúng Việt Nam từ 1945: Nói dối như Vẹm…

(03) Dùng thay cho tên Nguyễn Ái Quốc mang từ khi gia nhập đảng Xã Hội Pháp đầu năm 1919 và được nhắc tới nhiều từ sau tháng 6-1919.

(04) Bác Hồ trên đất nước Lenin – Hồng Hà, tr. 190

(05) Mặt Thật – Thành Tín, tr. 120-121

(06) Xin xem Hồ Chí Minh, tên phản quốc … – Nguyễn Phương Minh.

(07) Biên niên tiểu sử – Tập I, tr. 224

(08) Những năm tháng không thể nào quên – Võ Nguyên Giáp, tr. 13

(09) A Dragon Embattled – Buttinger, tr.402 viết về khung cảnh Việt Nam sau hiệp ước 6-3-1946: “...Những cuộc tuần tiễu hỗn hợp Pháp – Việt Minh được thành lập để giữ trật tự và đề phòng bạo động chống Pháp thêm nữa. Nhưng đó mới chỉ là bước đầu. Những bước tiếp theo cho thấy Việt Minh đã nhìn ra rằng đây là dịp tốt để họ tiêu diệt các đảng thân Trung Hoa và người Pháp vốn coi phe quốc gia không thể thỏa hiệp còn tệ hơn phe cộng sản chịu hợp tác nên quyết định ủng hộ Việt Minh trong vấn đề này. Nhằm mục đích loại trừ kẻ thù không cộng sản, Pháp đã trở thành đồng minh tạm thời của Việt Minh.”

(10) Nguyên văn tiếng Pháp: “La France reconnait solennellement l’indépen-dance du Vietnam auquel il appartient de réaliser librement son unité. De son côté, le Vietnam proclame son adhésion à l’Union Francaise en qualité d’État associé à la France. L’indépendance du Vietnam n’a d’autres limites que celles que lui impose son appartenance à l’Union Francaise”.

(11) Trong The Struggle For Indochina, Ellen J. Hammer ghi Quốc Hội Pháp phê chuẩn Thỏa Ước Élysée ngày 23-4-1949. Thực ra vào ngày trên chỉ mới có việc Hội Đồng Lãnh Thổ Nam Kỳ thông qua sáp nhập Nam Kỳ vào Việt Nam. Từ đó cho tới ngày 2-2-1950 là ngày Quốc Hội Pháp phê chuẩn bản thỏa ước, giao dịch giữa Việt Nam và Pháp chỉ dựa trên văn thư chính thức giữa các đại diện hành pháp là Auriol, Pignon và Bảo Đại.

(12)-(14)-(15)-(16)-(17)-(18) Mặt thật – Bùi Tín, tr. 99, 128-129 & 134, 39, 91, 99, 98-102

(13) Vision accomplished? – Nguyễn Khắc Huyên – tr. 260

(19) 21 tài liệu gồm thư của Nguyễn Sinh Huy (cha Hồ Chí Minh) gửi Khâm Sứ Trung Kỳ, thư của Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh) gửi Khâm Sứ Trung Kỳ, công văn của Sở Mật Thám Trung Kỳ, lời khai của trưởng làng Kim Liên, lời khai của các hương chức Kim Liên, lời khai của Nguyễn Tất Đạt (anh Hồ Chí Minh), lời khai của bà Nguyễn Thị Thanh (chị Hồ Chí Minh), ghi chép của Sở Mật Thám Nam Bộ, điện của Toàn Quyền Đông Dương …

(20) Từ thời Minh Mệnh, bãi bỏ chức Trạng Nguyên nhưng thêm Phó Bảng là bậc cuối cùng trong 5 cấp đậu trong kỳ thi Hội theo thứ tự sau: Bảng Nhãn, Thám Hoa, Hoàng Giáp, Đồng Tiến Sĩ Xuất Thân và Phó Bảng.

(21) Nguyễn Lý Tưởng, tác giả Thuyền Ai Đợi Bến Văn Lâu (Tác giả XB, Nam Cali, 2001) cho biết, theo lời kể của ông Võ Như Nguyện, con cụ Võ Bá Hạp bạn thân và đồng môn với cụ Phan Bội Châu (tuy kém Phan 10 tuổi), ông Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ ông Hồ, sau khi vợ chết và bị mất chức, đã đem ba người con là Nguyễn Thị Thanh tức Kim Liên, Nguyễn Tất Đạt tức cả Khươm hay Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Côn tức Nguyễn Tất Thành vào Huế gửi ông nội của ông Nguyện là cụ Võ Văn Giáp trông coi hộ. Ông Võ Như Nguyện cũng kể rằng, khi ông bị Việt Minh bắt sau cách mạng Tháng Tám, chính ông Nguyễn Tất Đạt, tức Cả Khiêm đã tự động can thiệp với Trần Hữu Dực lúc ấy là chủ tịch Việt Minh Trung Bộ thả ông, vì nhớ ơn gia đình ông. Hiện ông Võ Như Nguyện sinh sống tại Pau, miền Nam nước Pháp. - xem SĐD trang 73- 75.

(22) Một đoạn thư của Hồ Chí Minh ký tên Paul Tất Thành viết ngày 15-12-1912 như sau: “J’ose même désirer vous prier de bien vouloir lui accorder un emploi comme Thừa Biện des Bộ ou Huấn Đạo, Giáo Thụ, afin qu’il puisse se gagner sa vie sous votre haute bienveillance. En espérant que votre bonté ne refuserait la demande d’un enfant qui, pour remplir son devoir, n’a l’appui que vous et en attendant votre réponse, veuillez agréer, Monsieur le Résident Supérieur, les respectueuses salutations de votre filial peuple et reconnaissant serviteur”. PAUL TẤT THÀNH, New York le 15 Décembre 1912 – Tôi cầu mong Ngài vui lòng cho cha tôi được nhận một công việc như Thừa Biện ở các Bộ hoặc là Huấn Đạo hay Giáo Thụ để cha tôi sinh sống dưới sự quan tâm cao quý của Ngài. Với mong mỏi lòng tốt của Ngài sẽ không từ chối lời yêu cầu của một đứa con chỉ còn biết dựa vào Ngài để làm bổn phận của mình, xin Ngài Khâm Sứ nhận những lời chào kính cẩn của người dân-con và kẻ tôi tớ chịu ơn Ngài.”

(23) Những mẩu chuyện trong đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch – Trần Dân Tiên, tr. 90-91

(24) Đêm giữa ban ngày – Vũ Thư Hiên, tr.251

(25) Vietnam, le dossier noir du Communisme – Michel Tauriac – Bản Việt ngữ, tr. 82.

(26) Về TUYÊN TRUYỀN có hàng trăm đề tài để nói. Chỉ xin đưa một ví dụ rất đơn giản về TIN ĐỒN. Một cán bộ được huấn luyện về tuyên truyền sẽ biết cách tạo ra tin đồn sao cho có nội dung gần với sự thật, nhưng không phải sự thật rồi chọn đúng nơi, đúng lúc, đúng người để gieo cái tin đồn đó. Nó khởi sự bằng cách khoác cái áo mờ ảo “nửa thật nửa giả”. Những tin đồn loại đó sẽ tạo ra huyền thoại và nhiều huyền thoại sẽ tạo nên thần tượng. Không có huyền thoại không có thần tượng. Do đó thần tượng Hồ Chí Minh đã được tạo nên bởi phần lớn những huyền thoại do chính ông Hồ tạo nên trong tác phẩm tự kể về mình theo phương pháp “vẽ rồng không có đuôi”. Huyền thoại còn được tạo nên bằng tin đồn do cán bộ tuyên truyền và khuấy động quần chúng sáng tác, được lặp đi lặp lại qua bộ máy truyền thông do họ nắm độc quyền. Khi đã giữ độc quyền truyền thông thì dễ dàng chi phối các tin đồn và đối phương hay dân chúng không có cách gì kiểm tra hay cải chính. Chính vì thế, ngay sau ngày 19 tháng 8 năm 1945, Việt Minh đã nắm ngay đài phát thanh và đặt mọi tờ báo dưới quyền Trần Huy Liệu bộ trưởng bộ tuyên truyền.

(27) Xin xem Đảng Cộng Sản Việt Nam qua những biến cố – Nguyễn Minh Cần

(28)-(29) Sách Lược Xâm Lăng của Cộng Sản – Minh Võ, Saigon 1970, t. 68

http://anhduong.net/binhluan/Jun07/HoChiMinh-MinhVo.htm

mercredi 20 juin 2007

Cựu đại tá Bùi Tín nói về ông Hồ Chí Minh ...

Cựu đại tá Bùi Tín nói về ông Hồ Chí Minh
2007.05.18
Trà Mi, phóng viên đài RFA

19/5 năm nay đánh dấu 117 năm ngày sinh cố chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh đạo cao nhất của đảng cộng sản Việt Nam. Công luận trong và ngoài nước từ lâu đã xuất hiện hai luồng nhận định khác nhau về ông. Một bên cho rằng cụ Hồ là một anh hùng vĩ đại, còn một bên lại tố cáo ông có tội với dân tộc, gây đau thương cho biết bao nhiêu người.
Bấm vào đây để nghe cuộc phỏng vấn này
Tải xuống để nghe


Ông Bùi Tín, đại tá Quân Đội Nhân Dân hồi năm 1975. Hình của ông Bùi Tín.
Để tìm hiểu thêm về nhân vật lịch sử này, Trà Mi trao đổi với cựu đại tá Bùi Tín, từng là đảng viên với hơn 4 thập niên tham gia Đảng cộng sản và 37 năm góp mặt trong Quân đội Nhân dân. Với các trọng trách đựơc Đảng giao phó như Phó tổng biên tập báo Quân đội nhân dân và báo Nhân Dân, cũng như Tổng Biên tập báo Nhân dân Chủ Nhật, ông Bùi Tín từng có nhiều dịp tiếp xúc, gặp gỡ với Hồ Chủ tịch.

Ngoài ra, do mối quan hệ mật thiết giữa thân phụ của ông với lãnh tụ Hồ Chí Minh, nên ông cũng có cơ hội được biết khá nhiều về cụ Hồ. Ông cũng chính là tác giả của rất nhiều tác phẩm viết về cuộc đời và sự nghiệp của nhà cách mạng nổi tiếng này. Trước tiên, ông Bùi Tín nêu lên nhận xét chung về Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Cựu đại tá Bùi Tín: Ông Hồ Chí Minh là một nhà chính khách, một nhân vật lịch sử mà hiện nay trong và ngoài nước có những đánh giá trái ngược hẳn nhau.
Một số người ca ngợi ông ta đến mức như thần thánh, như một con người tuyệt đối không bao giờ có sai lầm. Trong khi đó, cũng có những người xem ông ta là một nhân vật tiêu cực và gây ra những tàn phá ghê gớm cho đất nước.

Đạo đức, nhân cách

Trà Mi: Là một người từng sống và làm việc theo lý tưởng HCM, ông nhận xét như thế nào về tư tưởng HCM, về đạo đức, nhân cách của cụ Hồ?
Càng về sau, ông Hồ càng trở thành một nhân vật thực hiện sứ mạng do quốc tế cộng sản giao cho, tức là gây dựng và phát triển phong trào cộng sản ở Việt Nam, Đông Dương, và mở rộng chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á. Con đường ấy, theo tôi bây giờ, đó là con đường sai lầm, đưa đất nước vào tình hình khó khăn sau này.
Cựu đại tá Bùi Tín
Cựu đại tá Bùi Tín: Sự đánh giá của tôi về ông Hồ là cả một quá trình thay đổi khác nhau. Trước đây khi còn ở trong nước thì khác. Dần dần, qua sự so sánh và nghiền ngẫm thì cách nhìn của mình trở nên đúng mức hơn, công bằng và khoa học hơn.

Tôi coi ông ta không phải là thần thánh, chỉ là một con người bình thường như mọi người khác, tức là cũng có ưu điểm và khuyết điểm, có những đóng góp tích cực và tiêu cực. Về tư tưởng, nhiều người cho rằng ông ta không phải là một người yêu nước. Còn tôi, tôi khẳng định ông ta là một nhân vật yêu nước, nhất là thời trẻ của ông.
Theo tôi, khi ông Hồ sang Pháp năm 1911 lúc đầu không phải vì mục đích đi tìm đường cứu nước. Lúc bấy giờ ông ta gặp phải một bi kịch gia đình. Ông cụ là tri huyện Bình Khê vì đánh chết nông dân nên bị đuổi ra khỏi ngành quan lại, tha phương ở phía Nam. Mất chỗ dựa, ông Hồ quyết định ra đi tìm kế sinh nhai và giúp đỡ gia đình.

Nhưng đến khi sang Pháp, khi tiếp xúc với nhóm các ông như Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, cụ Phan Chu Trinh, lúc ấy, tôi nghĩ ông ta là người yêu nước, nhất là khi ông ta đứng ra làm tờ báo Những người cùng khổ, bảo vệ những người dân thuộc địa để chống thực dân Pháp, tôi cho rằng hành động này là trên lập trường yêu nước.
Thế nhưng cho đến khi ông sang Maxcơva năm 1924, trở thành nhân vật của đệ tam quốc tế cộng sản, thì tôi nghĩ, lúc ấy ông vẫn là một người yêu nước, nhưng không phải là một người yêu nước theo chủ nghĩa quốc gia, mà theo chủ nghĩa cộng sản.
Càng về sau, ông Hồ càng trở thành một nhân vật thực hiện sứ mạng do quốc tế cộng sản giao cho, tức là gây dựng và phát triển phong trào cộng sản ở Việt Nam, Đông Dương, và mở rộng chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á. Con đường ấy, theo tôi bây giờ, đó là con đường sai lầm, đưa đất nước vào tình hình khó khăn sau này.

Ví dụ như cho đến nay, dân tộc Việt Nam ta còn quá lạc hậu về mọi mặt, từ mức sống, nhân quyền, dân quyền. Tôi nghĩ cái đó thuộc về trách nhiệm của ông Hồ rất lớn, vì đã nhầm lẫn đem một học thuyết từ Liên Xô cũ về áp dụng đến gần nửa thế kỷ nay. Bây giờ, học thuyết này đã đựơc chứng minh bằng thực tế rõ ràng là chủ nghĩa cộng sản, về mặt lý luận, xây dựng một xã hội tốt đẹp không có người bóc lột người chỉ là ảo tưởng thôi.

Chủ nghĩa cộng sản bây giờ, ở ngay nơi cốt lõi của nó là Liên Xô, cũng đã sụp đổ. Ở một loạt các nước Đông Âu, nó cũng hoàn toàn bị tan rã. Tại Việt Nam, theo chủ nghĩa này, một lý luận đựơc ông Hồ nói nhiều nhất là Việt Nam bỏ qua thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa đến tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội.

Trải qua nửa thế kỷ, sau khi ông Hồ mất rồi thì đảng cộng sản mới thay đổi hẳn lại, tức là từ bỏ việc tiêu diệt tư nhân, tư hữu để quay trở lại với kinh tế thị trường, chủ nghĩa tư bản đến mức quá đáng là những đảng viên từ chỗ theo chủ nghĩa tập thể, bây giờ trở thành những nhà tư sản, có đất, có nhà cửa, có tư hữu bằng con đường tham nhũng chẳng hạn, để cho người dân Việt Nam đến nay có độc lập nhưng vẫn chưa có đựơc tự do của người công dân, chưa có xã hội công dân, chưa có tự do báo chí, tự do bầu cử, tự do tôn giáo..v.v..Tôi nghĩ, đấy là trách nhiệm, là mặt tiêu cực của ông Hồ còn lại, mà chúng ta cần phải nhận ra.


Ông Hồ Chí Minh, ông Bùi Bằng Đoàn (thân phụ ông Bùi Tín) trưởng ban Thường Trực Quốc Hội và tướng Võ Nguyên Giáp tại lễ phong quân hàm Đại tướng cho ông Giáp - Việt Bắc - 1948. Hình của ông Bùi Tín.

Chủ nghĩa sùng bái cá nhân
Trà Mi: Ở Việt Nam lâu nay có phong trào sùng bái cá nhân HCM đến mức gần như là huyền thoại hoá hình ảnh của vị lãnh tụ này. Tại sao lại có tệ sùng bái, mà theo nhiều người, đến mức quá đáng như vậy, thưa ông?
Cựu đại tá Bùi Tín: Đó là theo sùng bái cá nhân của học thuyết chủ nghĩa cộng sản. Trước đây, người ta sùng bái ông Mác, Lênin, Stalin, và đến ông Hồ, xem ông ta là một con người tuyệt đối thánh thiện và không có gì sai lầm cả.

Họ cốt làm việc ấy chỉ để duy trì hình ảnh hợp pháp của đảng cộng sản trong khi ở thế giới người ta đều biết rõ là chủ nghĩa cộng sản và học thuyết Mác-Lê đã tệ hại ra sao. Bây giờ, cả Châu Âu đã ra nghị quyết lên án chủ nghĩa cộng sản hiện thực. Chủ nghĩa cộng sản bị cấm không đựơc truyền bá ở Ba Lan chẳng hạn.

Ở Mỹ không cho những người cộng sản nhập tịch vào nước Mỹ. Tháng 6 tới đây sẽ khánh thành tượng đài kỷ niệm những nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản trên khắp thế giới trong đó có hơn 30 triệu người Nga, 40 triệu người Trung Quốc, cùng các nạn nhân tại Việt Nam của các vụ án chính trị, của Cải cách ruộng đất..v..v.
Cả nhân loại văn minh, khi đã biết rõ chủ nghĩa cộng sản đã đựơc thực hiện và gây tai hoạ như thế nào, người ta còn ví von là nó còn tệ hại hơn chủ nghĩa phát xít nữa cơ mà.

Đâu là sự thật?
Trà Mi: Xung quanh hình ảnh của nhân vật Hồ Chí Minh có rất nhiều huyền thoại cũng như những lời đồn đãi khác nhau khiến cho nhiều người trẻ bối rối không biết đâu là sự thật. Theo kinh nghiệm và sự hiểu biết của ông, ông có những gì muốn chia sẻ với quý thính giả, đặc biệt là thế hệ trẻ?
Cựu đại tá Bùi Tín: Tuổi trẻ bây giờ quan trọng nhất là cần có tư duy độc lập. Tất cả những gì mình tiếp thu đựơc nên sàng lọc qua bộ óc, suy nghĩ của mình xem đúng hay sai. Về việc họ ca ngợi đạo đức HCM, tôi nghĩ tuổi trẻ cần phải biết rõ là ông Hồ trong hoạt động cách mạng đã có sai lầm lớn tức là giả dối nhiều lắm.

Tuổi trẻ bây giờ quan trọng nhất là cần có tư duy độc lập. Tất cả những gì mình tiếp thu đựơc nên sàng lọc qua bộ óc, suy nghĩ của mình xem đúng hay sai. Về việc họ ca ngợi đạo đức HCM, tôi nghĩ tuổi trẻ cần phải biết rõ là ông Hồ trong hoạt động cách mạng đã có sai lầm lớn tức là giả dối nhiều lắm.

Cựu đại tá Bùi Tín
Một ví dụ đơn giản là ông ta tự viết ra quyển sách nói về tiểu sử của mình, ký tên là Trần Dân Tiên. Trong đó viết rằng bác Hồ rất khiêm tốn, không muốn nói gì đến cá nhân của mình cho nên tác giả phải đi tìm hiểu từ những người khác xung quanh để viết về HCM. Ngoài ra, trong đó còn ghi là HCM không có vợ còn, suốt đời chỉ nghĩ đến dân tộc, thế nhưng thật ra, ông ta có nhiều vợ.

Điều này đã đựơc chứng minh đầy đủ như ông ta đã cưới bà Tăng Tuýêt Minh ở Quảng Châu, Trung Quốc, có rõ cả ngày giờ, giấy hôn thú, ảnh và thư từ cơ mà.
Rồi sau này, khi ông về Hà Nội rồi, người ta cũng biết là chính ông Trần Quốc Hoàng đã bố trí cho ông Hồ một cô tên là Nông Thị Xuân, hàng tuần lễ vào gặp ông, và ông Hồ đã có con là anh Nguyễn Tất Trung năm nay đã hơn 50 tuổi. Tất cả những chuyện đó, tôi nghĩ là chúng ta cần phải biết, tuy là chuyện riêng nhưng cũng phải biết để đánh giá.
Những tài liệu cấm lưu hành

Trà Mi: Những điều ông nói có những tài liệu nào xác thực cụ thể, và những tài liệu đó bây giờ đang ở đâu?
Cựu đại tá Bùi Tín: Những tài liệu ấy Hà Nội cấm lưu hành, nhưng hiện nay trong giới nghiên cứu thì người ta biết cả rồi. Nhất là trong những tài liệu đựơc công bố ở Trung Quốc của các học giả ở Hoa Nam đã nói về mối tình và đám cưới giữa ông Hồ và bà Tăng Tuyết Minh. Bà Minh sống đến 94 tuổi.

Trước đó mấy mươi năm, bà còn muốn tìm liên lạc để gặp lại ông Hồ, thế nhưng ông Hồ không đựơc phép và cũng không muốn. Chính ông Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đã ngăn cản chuyện đó. Những chuyện đó, trong giới sử học và trí thức, người ta biết tất cả rồi nhưng vẫn cứ che dấu. Lúc này là lúc cần phải minh bạch rõ ràng để mọi người đựơc biết đựơc đúng sự thật như thế nào.

Trà Mi: Hồi nãy ông có nhắc tới người tác giả ký tên Trần Dân Tiên viết về cuộc đời và nhân cách đạo đức của cụ Hồ cũng chính là HCM. Ông có bằng chứng nào xác thực cho luận điểm này hay không?

Những tài liệu ấy Hà Nội cấm lưu hành, nhưng hiện nay trong giới nghiên cứu thì người ta biết cả rồi. Nhất là trong những tài liệu đựơc công bố ở Trung Quốc của các học giả ở Hoa Nam đã nói về mối tình và đám cưới giữa ông Hồ và bà Tăng Tuyết Minh. Bà Minh sống đến 94 tuổi.

Cựu đại tá Bùi Tín
Cựu đại tá Bùi Tín: Điều này tôi biết từ khi còn ở trong nước. Năm 1990 khi kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông HCM thì chính Viện sử học Việt Nam, chính trên báo Nhân dân, tờ báo của Đảng cộng sản, nói rõ là ông Hồ trong cuộc đời đã dùng đến hơn 30 bí danh khác nhau, trong đó có bí danh Trần Dân Tiên, và khẳng định rõ rằng cuốn “ Những mẫu chuyện về đời sống của chủ tịch HCM” là do chính ông Hồ viết ra.
Cái đó có phải là do ai bịa ra đâu, mà đã chính thức đựơc chế độ cộng sản ở Hà Nội công nhận cơ mà.

Do đó, tôi nghĩ là tuổi trẻ trong nước, nhất là những người nghiên cứu lịch sử, cần phải tìm hiểu cho rõ ràng sự thật, không định kiến, không chửi rủa, nhưng nhận thức cho đúng là có thật chủ nghĩa Mác-Lê là tai hoạ trong hiện thực hay không, cụ Hồ là con người yêu nước mà mang về một học thuyết sai lầm thì nguy hiểm như thế nào.
Đã đến lúc phải tỉnh ngộ mà thay đổi suy nghĩ và từ bỏ nó chứ.
Trà Mi: Xin cảm ơn thời gian ông đã dành cho cuộc phỏng vấn này.

Vừa rồi là quan điểm của cựu đại tá Bùi Tín, cựu đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, người đã trải qua phân nửa quãng đời sống và làm việc theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Thế còn suy nghĩ và cảm nhận của thế hệ trẻ ngày nay về Hồ Chủ tịch ra sao? Mời quý vị đón nghe cuộc hội luận giữa các thanh niên trong và ngoài nước xung quanh đề tài này, trong chuyên mục “Diễn đàn bạn trẻ”, phát thanh vào sáng thứ tư 23/5 tới đây.
Tiếng Việt
© 2007 Radio Free Asia
Các tin, bài liên quan
Việt Nam ngày nay qua cái nhìn của một chuyên gia ngoại quốc
Ông Nguyễn Khắc Mai nói về giới trẻ Việt Nam và trách nhiệm đối với đất nước (phần 3)
Tình hình hội nhập của Việt Nam và giới trí thức trong nước (phần 2)
Ý kiến của ông Cù Huy Hà Vũ về một kỳ bầu cử thật sự dân chủ
Một số chi tiết về quá trình lựa chọn ứng viên cho kỳ bầu cử quốc hội khóa 12
Ông Vi Đức Hồi bị khai trừ khỏi Đảng, vì viết bài cổ võ dân chủ (phần 1)
Thế hệ trẻ nghĩ gì đối với cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá 12 sắp tới (phần 1)?
Công luận nghĩ gì về hiện tượng nhiều ứng cử viên quốc hội khoá XII đổi ý sau khi tự ứng cử?
Giới trẻ với sứ mệnh Thể hiện và Truyền bá Dân chủ
Gửi trang này cho bạn
Ðăng ký bản tin Ban Việt Ngữ

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/05/18/BuiTinTalkAboutHoChiMinh_TMi/

*
***
*

Nhân vật Hồ Chí Minh theo nhận định của giới trẻ Việt Nam
2007.05.23
Trà Mi, phóng viên đài RFA
Ngày 19 vừa qua đánh dấu 117 năm sinh nhật cố chủ tịch Hồ Chí Minh, một nhân vật đã góp phần làm thay đổi dòng lịch sử Việt Nam. Trong sử sách quốc nội, Hồ chủ tịch được ngợi ca bằng những ngôn từ cao đẹp nhất và được tôn vinh như một vị cha già của dân tộc, một ngừơi hùng vĩ đại của đất nước.
Bấm vào đây để nghe cuộc hội luận này
Tải xuống để nghe
Tuy nhiên, trên thực tế, danh tiếng và sự kính trọng mà mọi người dành cho ông rất khác nhau. Nhiều ngừơi tôn thờ ông vì công lao lãnh đạo công cuộc đấu tranh đòi độc lập, dẫn đến việc thống nhất đất nước sau này.
Thế nhưng cũng có lắm kẻ chê trách bởi cho rằng ông đã nhầm lẫn mang học thuyết chủ nghĩa cộng sản về áp dụng trên quê hương, gây đau thương cho biết bao người.

Ông Hồ Chí Minh lúc sinh thời. AFP PHOTO
Ngay trong giới trẻ, những ngừơi sinh sau 75, thế hệ được ví von là “con cháu Bác Hồ”, suy nghĩ và cảm nhận của họ về lãnh tụ cách mạng Hồ Chí Minh ra sao?
Mời quý vị tìm hiểu qua cuộc hội luận với các thanh niên trong và ngoài nước xung quanh đề tài này, với sự góp mặt của các bạn Thanh, Phương, Trang là những sinh viên từ miền Trung và miền Bắc vào Sài Gòn trọ học; Hồng, vừa sang Hoa Kỳ du học hơn một năm, cùng với Thanh, cử nhân đại học hiện đang công tác tại phía Nam:
Thanh: Mình tên là Thanh, ở Sài Gòn.
Hồng: Em tên Hồng, em đang du học tại Boston, Mỹ.
Sinh viên Trang: Mình tên Trang, mình ở Bình Thuận.
Sinh viên Phương: Mình là Phương, ở Quảng Ngãi.
Sinh viên Thanh: Mình tên Thanh, ở Nghệ An.
Trà Mi: Xin cảm ơn các bạn đã dành thời gian tham gia chương trình hôm nay. Với đề tài “Cảm nghĩ của thanh niên Việt Nam về nhân vật HCM”, câu hỏi đầu tiên mình muốn nêu ra với các bạn là các bạn có cảm nghĩ như thế nào về HCM, một nhân vật rất nổi tiếng mà có lẽ là các bạn đã được biết tới từ khi còn rất nhỏ?
Sinh viên Trang: Trang là một sinh viên, đựơc tìm hiểu về Bác thông qua ngành học của mình.
Trà Mi: Ngành học của Trang là gì?
Sinh viên Trang: Ngành học của Trang là lịch sử.
Trà Mi: Cảm nghĩ của bạn như thế nào về lãnh tụ HCM?
Sinh viên Trang: Trong lòng sinh viên tụi Trang, Bác là người vĩ đại, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.
Trà Mi: Thế còn ý kiến của anh Thanh, anh có gì chia sẻ với các bạn?
Thanh: Trứơc giờ em cũng học ở trong lịch sử Việt Nam, thì dĩ nhiên chỉ thấy có một ý kiến chung đó là Bác là một lãnh tụ vĩ đại. Nói chung, tất cả thanh niên Việt Nam đều đựơc giáo dục như vậy hết. Mình cũng không là ngoại lệ. Tuy nhiên, theo lý trí tự mình suy nghĩ thì ai cũng có mặt xấu, mặt tốt. Chẳng có ai mà tốt hết tất cả như những điều trong sách vở Việt Nam giảng dạy thì Thanh nghĩ điều này có vấn đề.
Trà Mi: Xin mời ý kiến của các bạn khác.

Hồng: Khi Hồng còn ở Việt Nam thì mình cũng học chuyên văn, cũng tiếp xúc được với khá nhiều tài liệu về Bác Hồ. Cho nên, khi còn ở trong nứơc, Hồng rất ngưỡng mộ Bác như một nhân vật vĩ đại, có một tấm lòng thanh cao tất cả vì dân, vì nứơc. Tuy nhiên, đến khi mình đi ra ngoài du học thì có đựơc nhiều cơ hội tiếp xúc với các tài liệu bên ngoài, những tài liệu mà trứơc đây trong nứơc mình chưa đựơc nghe đến bao giờ thì mình cảm thấy rất là sốc.
Bạn nghĩ gì về con người, cuộc đời và sự nghiệp của ông Hồ Chí Minh? Hãy gửi đến Ban Việt Ngữ ý kiến của bạn. email: vietweb@rfa.org
Trà Mi: Hồng nói là cảm thấy sốc trứơc những điều chưa từng đựơc nghe đến bao giờ. Đó là những điều gì mà khiến cho bạn bị sốc?
Hồng: Chẳng hạn như chuyện về Cải cách ruộng đất năm 1954, Bác và Đảng cộng sản Việt Nam đã tàn sát rất nhiều người, những ngừơi bị cho là địa chủ hay những ai có ruộng đất lúc bấy giờ. Đó là điều mà trứơc đây trong nứơc mình chưa đựơc nghe nói đến bao giờ cả.
Sinh viên Thanh: Cho mình hỏi Hồng, ngoài việc đó thì bạn còn nghe được hoặc đọc được những tư liệu về Bác như thế nào nữa, bạn có thể cho mình và những bạn trong nứơc biết rõ hơn?
Hồng: Những chuyện đó bạn có thể lên trang web www.lenduong.net thì sẽ tìm ra đựơc các tư liệu đó. Khi mình còn ở Việt Nam thì mình cũng biết rằng tất cả các tư liệu trong nứơc đều thần thánh hoá, thần tựơng hoá Bác Hồ. Tại sao các bạn không tự tìm đọc các tư liệu bên ngoài để có một cái nhìn đúng hơn, chính xác hơn từ hai phía để sau này các bạn có thể chia sẻ với các bạn khác cùng trang lứa ? Thật ra để tìm đến với các tư liệu như vậy cũng không có gì là khó. Trong nứơc, những tài liệu có cách đánh giá không giống như những gì Đảng mong muốn thì bị ngăn chặn rất nhiều, nhưng các bạn cứ thử vào các trang như www.lenduong.net hay các website tương tự thì sẽ có một cách nhìn khác hơn.
Sinh viên Phương: Khi bạn Hồng đọc tư liệu viết về Cải cách ruộng đất năm 54 nói rằng Bác đã ban ra những quy định làm ảnh hưởng, gây hại cho rất nhiều người, là một người Việt Nam, một sinh viên Việt Nam, thì bạn nghĩ như thế nào về những nguồn tin đó?
Hồng: Mình không hiểu rõ ý bạn muốn hỏi?
Trà Mi: Ý Phương muốn hỏi Hồng là độ tin cậy của Hồng như thế nào đối với những tin đó? Các tài liệu ấy có đáng tin cậy hay không?
Hồng: Ngoài những tài liệu mình đựơc đọc như vậy, mình cũng đựơc gặp những người từng là nạn nhân trực tiếp của Cải cách ruộng đất 1954, những ngừơi có cha mẹ ông bà đã bị giết chết trong sự kiện đó thì mình nghĩ đây hoàn toàn là sự thật.
Sinh viên Phương: Sao bạn không nghĩ là Bác ban ra những quy luật đó theo chiều hướng tốt nhưng những ngừơi thực hiện đã không hành động đúng theo nguyện vọng của Bác đưa ra ?
Hồng: Vì mình nghĩ là cho dù họ có là địa chủ, cường quyền, ác bá, bọc lột của dân hay như thế nào đi nữa thì họ cũng là con người, mình không nên đối xử với họ man rợ như vậy. Nếu Bác là một lãnh tụ vĩ đại, là ngừơi có thể thay đổi tất cả thì dĩ nhiên có đủ khả năng lãnh đạo, điều khiển các tứơng lãnh của mình, thì không thể có chuyện những tứơng lãnh của Bác đi ngược lại nguyện vọng của Bác đựơc.
Sinh viên Thanh: Những chủ trương Bác đưa ra hoàn toàn đúng đắn. Những người bên dứơi đã hiểu sai và thực hiện sai, ví dụ như những năm 30, mình đánh đổ đế quốc, phong kiến. Bác có phân loại ra hẳn hoi rằng mình chỉ đánh đổ đại địa chủ và những thành phần theo phe đế quốc thôi, những thành phần chưa đứng hẳn về phe đế quốc thì chỉ lợi dụng hay trung lập họ chứ không tàn sát. Nhưng do những ngừơi hiểu một cách quá sai lầm quan điểm của Bác rằng phải xoá bỏ sạch toàn bộ chế độ tư bản đi, dẫn đến việc tàn sát rất nhiều ngừơi. Sai lầm đó sau này đã đựơc sửa đổi rất nhiều rồi bạn ạ. Bạn đọc những tài liệu về sau sẽ thấy rằng cuộc cải cách này đã có đựơc những kết quả khi mình nhận ra những sai lầm.


Trà Mi: Xin mời ý kiến của anh Thanh.
Thanh: Nãy giờ nghe các bạn nói về Cải cách ruộng đất, theo ý bạn Hồng thì dù sao những người địa chủ hay đại địa chủ người ta cũng là con ngừơi, mình cũng không đựơc tàn sát ngừơi ta, huống chi theo mình đựơc biết thì thật ra những nạn nhân đó cũng chả giàu có gì đâu nhưng cũng bị quy là địa chủ. Hơn nữa, những người đó chính là những người đã từng nuôi dấu cán bộ, từng cung cấp lương thực, chỗ ở cho cán bộ của Bác. Mà sau đó lại quy cho họ là địa chủ, đấu tố họ, giết họ. Nên nhớ rằng năm 1945, sau khi tuyên bố độc lập, chính Bác Hồ đã đề cao quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền sống con ngừơi là quyền thiêng liêng nhất, thế tại sao lại có những chuyện như vậy xảy ra ? Nếu nói rằng cấp dứơi không hiểu ý Bác thì không ổn. Cuộc cải cách ruộng đất bắt đầu từ 1949 kéo dài suốt mấy năm thì làm sao Bác không biết đựơc là có sai lầm hay không. Thật ra thì Bác cũng biết hết đấy, chứ không phải không biết, vì chế độ cộng sản bao giờ cũng theo dõi rất sát. Làm gì có chuyện hiểu sai ở đây đựơc? Nếu hiểu sai chỉ có một số người nào hiểu sai thôi chứ, làm sao mà đều làm sai hết trên diện rộng như vậy ? Mà số nạn nhân thì rất nhiều, ngay chính Đảng cộng sản cũng thừa nhận là có khoảng 170 ngàn ngừơi bị giết chết. Đó là con số do chính đảng đưa ra thôi, chứ còn thực tế chắc chắn phải nhiều hơn. Trong khi đó, đảng cũng công nhận là trên 70% bị tố sai, làm sao lại có chuyện để tố sai đến như vậy ? Con số đó đã nói lên một điều rõ ràng nhất. Cái đó không thể nào hiểu sai đựơc, cả một diện rộng như vậy. Mình không tin là có chuyện hiểu sai ở đây. Nếu bạn cho là hiểu sai thì thật ra mình đã phải rút kinh nghiệm, nhưng thực ra đến năm 1975 lại xảy ra màn đó nữa, đánh bại tư sản bao nhiêu nhà cửa người ta bị tịch thu, người ta phải bỏ nứơc ra đi. Làm sao gọi là hiểu sai đựơc ? Hiểu sai thì chỉ một lần đầu thôi chứ, tức là thật sự không phải là hiểu sai và rút kinh nghiệm, mà họ đã làm đúng như những gì họ nghĩ.

Trà Mi: Xin cảm ơn ý kiến anh Thanh. Ở đây mình có 2 luồng ý kiến khác nhau. Xin đựơc hỏi thăm các bạn là sự hiểu biết của các bạn là do các bạn tự tìm hiểu hay bằng những phương tiện gì mà các bạn có đựơc những sự hiểu biết như vậy?
Sinh viên Trang: Một số tụi mình đã đựơc học và một số tự đi tìm hiểu. Bản thân gia đình Trang có ông nội cũng là nạn nhân của cuộc Cải cách ruộng đất 1954, nhưng gia đình Trang vẫn nhận thức đựơc điều đó là do sai lầm của phía bên dứơi thực hiện chứ không phải do chủ trương, chính sách mà Bác đề ra.

Trà Mi: Trang nói là tự tìm hiểu thì những kiến thức bạn tự tìm hiểu từ đâu?
Sinh viên Trang: Tất nhiên là từ sách vở, mình đi thư viện.
Trà Mi: Tức là sách vở trong nứơc ? Thế còn sự hiểu biết của anh Thanh và Hồng thì?
Thanh: Cho Thanh nói một chút. Bạn Trang nói là tìm hiểu trong sách ngay tại Việt Nam thì mình nghĩ không có gì để tìm hiểu cả.
Hồng: Đúng.
Thanh: Vì Thanh đã từng học 12 năm và 4 năm đại học trong nứơc nhưng chưa bao giờ mình đựơc nghe đến những chuyện như Cải cách ruộng đất hay Nhân văn giai phẩm đâu. Chưa bao giờ. Đó là những cái người ta muốn dấu làm sao mình có đựơc? Muốn tìm hiểu thì bản thân mình nên tìm tòi, bây giờ cách hay nhất là qua mạng internet hoặc ngay từ ngừơi thân trong nhà. Những ngừơi đã sống qua hai chế độ trứơc và sau 1975 ngay Sài Gòn hay những người từ Bắc di cư vào Nam, họ sẽ nói cho nghe sự thật. Đó là những nhân chứng sống mình cần phải tìm hiểu. Chứ tìm hiểu qua nguồn chính thống của nhà nứơc thì xin lỗi nha, không có gì để tìm hiểu hết.

Sinh viên Trang: Vậy tại sao các bạn lại cho là những thông tin trên mạng là chính xác? Bạn nên biết rằng những thông tin muốn biết đựơc chính xác thì phải qua sự kiểm nghiệm, chứng nhận đúng sự thật thì mới đựơc in thành sách. Còn trên mạng có những tin sai sự thật rất nhiều. Còn đã viết thành sách thì đã đựơc chứng nhận, kiểm tra sự thật như thế nào thì nhà xuất bản của nứơc mình mới cho đăng thành sách.
Thanh: Cho hỏi bạn một điều thôi. Hiện giờ ai là người kiểm soát các nhà xuất bản và các cơ quan truyền thông trong nứơc?
Sinh viên Phương: Những cuốn sách đã đựơc xuất bản rộng rãi thì tất nhiên đã đựơc Bộ văn hoá thông tin cấp giấy cho xuất bản lưu hành.

Hồng: Đúng, Bộ văn hoá thông tin là của đảng cộng sản Việt Nam đúng không?
Thanh: Có phải là đảng cộng sản không.
Trà Mi: Vì thời lựơng có hạn, Trà Mi xin phép được tạm ngưng chương trình tại đây. “Diễn đàn bạn trẻ” sẽ trở lại cùng quý vị và các bạn với phần thảo luận tiếp theo vào giờ này, sáng thứ tư tuần sau. Trà Mi kính chào.
(xin mời theo dõi toàn bộ cuộc hội luận trong phần âm thanh bên trên)
Chương trình rất mong nhận được ý kiến tham luận của bạn nghe đài khắp nơi để Diễn đàn ngày càng phong phú và bổ ích hơn.
Quý vị muốn chia sẻ quan điểm, xin để lại lời nhắn cho chúng tôi qua hộp thư thoại (202) 530 -7775, kèm theo số phone, chúng tôi sẽ liên lạc lại. Từ Việt Nam và các nước khác, xin bấm số 001 trứơc dãy số (202) 530-7775. Quý thính giả cũng có thể email cho Ban Việt Ngữ qua địa chỉ : vietweb@rfa.org.
Tiếng Việt
© 2007 Radio Free Asia
Các tin, bài liên quan
Tiếng nói và nguyện vọng của giới trẻ Việt Nam
Tuổi trẻ Việt Nam và những nguyện vọng gởi đến giới lãnh đạo cao cấp
Vì sao phần lớn những người tự ứng cử bị gạt khỏi danh sách ứng viên?
Phản hồi của giới trẻ về cách thức chọn lựa ứng cử viên Quốc hội VN
Giới trẻ Việt Nam nghĩ gì về cuộc bầu cử Quốc hội khoá 12?
Thế hệ trẻ nghĩ gì đối với cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá 12 sắp tới (phần 1)?
Giới trẻ với sứ mệnh Thể hiện và Truyền bá Dân chủ
Dân chủ không thể có bằng “xin-cho”
Thực tế Dân chủ tại Việt Nam theo nhận định của giới trẻ
Gửi trang này cho bạn

*
***
*

Cảm nhận của giới trẻ ngày nay về lãnh tụ Hồ Chí Minh (phần 2)
2007.06.06
Trà Mi, phóng viên đài RFA
Kính chào quý vị và các bạn đang đến với chuyên mục “Diễn đàn bạn trẻ”, nhịp cầu thảo luận-giao lưu của thanh niên trong và ngoài nước, phát thanh sáng thứ tư hàng tuần.
Bấm vào đây để nghe cuộc hội luận này
Tải xuống để nghe

Ông Hồ Chí Minh, ông Bùi Bằng Đoàn (thân phụ ông Bùi Tín) trưởng ban Thường Trực Quốc Hội và tướng Võ Nguyên Giáp tại lễ phong quân hàm Đại tướng cho ông Giáp - Việt Bắc - 1948. Hình của ông Bùi Tín.

Với đề tài “Cảm nhận của giới trẻ ngày nay về lãnh tụ Hồ Chí Minh” phát sóng kỳ đầu tiên vào hạ tuần tháng năm vừa qua nhân dịp 117 năm kỷ niệm ngày sinh Hồ Chủ tịch, cuộc thảo luận giữa các bạn trẻ trong và ngoài nước bỗng trở thành tranh luận sôi nổi, không chỉ xoay quanh cảm nghĩ về nhà Cách Mạng Hồ Chí Minh, mà còn bàn về cả các sự kiện lịch sử.

Với những tư tưởng khác biệt giữa 3 sinh viên tìm hiểu lịch sử qua sách vở, tư liệu trong nước là Trang ở Bình Thuận, Phương từ Quảng Ngãi, Thanh ở Nghệ An với 2 bạn có điều kiện tiếp cận với các nguồn thông tin đa chiều, tự do, rộng lớn từ thế giới bên ngoài, là Thanh, một thanh niên đã tốt nghiệp đại học hiện đang làm việc tại miền Nam và Hồng, vừa qua Mỹ du học được 1 năm.
Cuộc hội luận tiến triển ra sao? Quan điểm phía nào sẽ dành ưu thế và thuyết phục hơn? Mời quý vị theo dõi tiếp trong chương trình hôm nay:
Trà Mi: Trong những cuộc thảo luận vừa qua, ý kiến của các bạn có rất nhiều sự khác biệt nên chúng ta đã đi khá xa với chủ đề ban đầu nói về “Cảm nghĩ của thanh niên với nhà lãnh đạo Hồ Chí Minh.

Thanh: Nhưng mà chị ơi những cái đó thực chất có liên hệ đến HCM chứ không phải không, tại vì ông Hồ đã mang chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam.
Sinh viên Phương: Anh Thanh cho em ngắt lời tí. Em cảm thấy mình đã đi quá xa với chủ đề chị Trà Mi đưa ra ban đầu xung quanh cảm nhận về Chủ tịch HCM. Bạn Hồng đưa ra ý kiến rằng có rất nhiều thông tin nói về bác không tốt, và bạn ấy cũng đồng ý với những nguồn thông tin như vậy.

Còn bọn mình nói rằng mình vẫn luôn xem HCM là một nhân vật vĩ đại và luôn tôn thờ chủ tịch HCM, vị cha già của dân tộc mà bọn mình rất kính yêu. Cuộc thảo luận của mình đã đi quá xa, từ Cải cách ruộng đất đến vượt biên. Nói chung mình đưa ra ý kiến như thế này.

Mình đã yêu chuộng chủ tịch HCM thì mình cảm nhận và học được là HCM là một người sáng suốt, những chính sách của bác thì luôn đúng đắn. Còn việc thực hiện nó có nhiều thiếu sót và sai lầm là do những người cấp dưới người ta thực hiện không đúng. Khi nhận ra sai lầm đó thì đã có những sửa đổi và đã thực hiện tốt hơn.
Thần thoại hoá nhân vật?
Trà Mi: Đó là những ý kiến Trang, Thanh, và Phương đã đưa ra. Trước những ý kiến của các bạn như vậy, mình có một câu hỏi như thế này hiện nay đã xuất hiện nhiều nguồn tin kèm theo những bằng chứng từ những người vốn trước đây rất thân cận với HCM, chứng minh rằng những tài liệu và sử sách viết về nhân vật này tại Việt Nam lâu nay có nhiều điều hư cấu, huyền thoại hoá, thần thoại hoá nhân vật này. Ý kiến của các bạn ra sao?
Các bạn có nghĩ rằng những gì trong sách vở nhà trường ít nhiều mang tính sùng bái cá nhân HCM hay không?
Du sinh Hồng: Con người không có ai hoàn hảo, nhưng những gì viết về HCM đều là hoàn hảo cho nên mình cảm thấy là chuyện đó không thể nào xảy ra. Các bạn nói rằng những gì xảy ra trong cuộc cải cách ruộng đất năm 1954 không hề liên quan đến bác, và những chính sách bác đưa ra đều đúng, thì tại sao lại có rất nhiều người chết trong cuộc cải cách này.
Hiệp định Geneve mà các bạn được học có thật sự đúng sự thật hay không. Sau hiệp định này, bác vẫn để lại người trong miền Nam để có thể lay chuyển cuộc trưng cầu dân ý. Đó có phải là các chính sách của bác đưa ra hay không? Có phải là chính sách nào của bác đưa ra cũng đúng đắn như các bạn nói hay không?
Trà Mi: Mời ý kiến của các bạn khác.
Sinh viên Thanh: Theo mình, tất nhiên khi người ta đã hâm mộ một ai đó rồi thì người ta thường đưa ra ý kiến chủ quan, và tất nhiên là có thần tượng hoá lên một chút, nhưng thần tượng hoá cũng phải dựa trên những điều có thật. Mình nghĩ sách vở nói về bác dĩ nhiên là dựa vào thực tế rồi mới thần tượng hoá lên đôi chút, đôi khi cũng hơi nói quá.
Trà Mi: Và điều này ảnh hưởng đến niềm tin nơi thế hệ trẻ ra sao? Một nhân vật lịch sử, một sự kiện lịch sử mà lại được thần thoại hoá lên như vậy thì còn mang tính xác thực, trung thực của lịch sử hay không? Nó có ảnh hưởng đến lòng tin của các bạn trẻ nhất là đối với các nhân vật lãnh đạo hay không?

Sinh viên Trang: Mình cho rằng những sự thật người ta thần thoại hoá lên thì cũng không quá đáng lắm.
Thanh: Chính sự thần tượng hoá như vậy dẫn đến rất nhiều tai hại. Thứ nhất, mình sẽ không có sự hiểu biết khách quan, không thấy được con người thật. Mình thần thánh hoá thì lấy gì còn sự thật? Sự thật đã bị che mất rồi. Người ta đã nói là phân nửa của sự thật cũng không phải là sự thật.
Cho nên, những điều mình biết trở thành sai. Nó sai mà mình cứ chấp nhận nó một cách mù quáng như vậy mà không hề đặt dấu chấm hỏi thì óc suy luận của mình sẽ ngày càng bị cùn đi. Việc này rất tai hại.
Bạn nghĩ gì về con người, cuộc đời và sự nghiệp của ông Hồ Chí Minh? Hãy gửi đến Ban Việt Ngữ ý kiến của bạn. email: vietweb@rfa.org
Hiểu biết của mình mà mình chỉ biết chấp nhận những cách suy nghĩ của người khác mà không hề có động não thì đó rõ ràng không phải là phương pháp tìm đến chân lý. Một ví dụ nhỏ, trong sách sử ghi lại bác chết ngày 3/9/1969, theo các bạn điều này đúng hay không?
Du sinh Hồng: Mình nghĩ là bác chết ngày 2/9.
Sinh viên Thanh: Ngày bác chết chính xác là 2/9 mà do ngày đó là ngày quốc khánh, ngày vui của dân tộc thì không thể báo một tin buồn cho nên đảng ta mới chủ trương là dấu tin buồn đó lùi lại một ngày sau ngày quốc khánh. Nhiều năm sau, nhà nước ta đã thay đổi lại và công bố ngày mất thật của bác là 2/9.
Nhưng đến năm nào điều đó mới được sửa lại? Cho đến năm 1989 vẫn chưa được sửa lại. Thế có lý do gì mà mãi đến năm 1989 vẫn chưa sửa? Thứ hai, như vậy rõ ràng những gì đảng đưa ra không phải là chính xác.
Điều này khẳng định là đảng có thể thay đổi bất cứ cái gì trong lịch sử, ngay cả ngày chết của lãnh tụ mà vẫn có khả năng sửa được huống chi những cái khác không sửa được? Có thiếu gì những điều khác đảng cũng cho là bất lợi, đảng cũng dấu đi, thế là bây giờ bạn cũng không biết. Bạn có chắc gì không có những điều đó không?

Đảng cộng sản Việt Nam

Sinh viên Phương: Những điều tốt của đảng đảng có ghi trong sách vở, mình có được học. Còn những điều xấu thì mình cũng đều biết hết. Nói chung mình không biết hết, nhưng có biết sơ qua về một số sai lầm của đảng sau 1954 khi đất nước bước qua thời kỳ xã hội chủ nghĩa, và cách mạng thắng lợi sau 1975 nữa.
Mình biết là đảng có mắc một số sai lầm trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, những điều đó mình cũng họ được trong sách vở. Thế thì không thể nói là đảng dấu những sai lầm của mình.
Thanh: Thế bây giờ cho mình hỏi một chuyện, theo bạn kinh tế thị trường theo xã hội chủ nghĩa là đúng hay không?
Sinh viên Phương: Nền kinh tế phát triển cần có sự quản lý của nhà nước mà nhà nước đó đang hướng tới xã hội chủ nghĩa. Nếu như nhà nước không quản lý nền kinh tế đó mà để cho nó phát triển thành tư bản thì liệu rằng nền kinh tế đó nó có phát triển không? Tình hình đất nước có ổn định không?
Thanh: Thế nếu bây giờ áp dụng nền kinh tế tập trung thay vì kinh tế thị trường có sai hay không.
Sinh viên Thanh: Bây giờ xã hội đang phát triển, bạn đem cái chế độ quá cũ áp dụng vào hiện tại này thì làm sao phù hợp ?
Thanh: Như vậy theo bạn, bây giờ kinh tế thị trường mới là hướng đi đúng, phải không?
Sinh viên Thanh: Đúng, từ năm 1975-1986 quan liêu bao cấp, người ta đã nhận thấy sai lầm đó và đã chỉnh đốn lại để đi theo con đường hiện tại.
Thanh: Mà theo kinh tế thị trường thì bạn phải chấp nhận có hoạt động của tư nhân, đúng không?
Sinh viên Trang: Chấp nhận.

Chủ nghĩa xã hội
Thanh: Thế thì bao nhiêu năm trên ghế nhà trường học về kinh tế chính trị Mác-Lênin, có bao giờ các bạn thấy trong đó có nhắc tới việc chấp nhận thành phần kinh tế tư nhân trong chế độ xã hội chủ nghĩa không? Sách vở nói rằng khi người vô sản dành được chính quyền thì phải thiết lập giai cấp chuyên chính vô sản, xoá sạch giai cấp bóc lột, chỉ còn lại giai cấp công-nông trong xã hội thôi.

Đó là trụ cột của chủ nghĩa cộng sản: phải đàn áp tất cả giai cấp khác, trong đó giai cấp tư bản là giai cấp bóc lột cần phải xoá bỏ, và mình còn lớn tiếng hô hào là phải đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản cơ mà. Ngay sau 1975 lập tức đánh tư bản, mình không cho hoạt động kinh tế tư nhân cơ mà. Đó không phải là quan điểm của Việt Nam thôi mà đó là chủ nghĩa Mác-Lê.
Sinh viên Trang: Bạn đã hiểu sai về chủ nghĩa xã hội rồi, ở đây không phải là xoá bỏ hay đào mồ chôn giai cấp tư bản.

Thanh: Sai. Bạn nói vậy là nói ngược rồi. Bây giờ bạn cứ coi lại sách vở về chủ nghĩa Mác-Lê, học lại kinh tế chính trị Mác-Lê, chủ nghĩa di vật biện chứng sẽ thấy rõ ràng xây dựng nền chuyên chính vô sản, xoá bỏ giai cấp bóc lột. Và điều đó Việt Nam đã từng thi hành sau 1975 mà.
Sinh viên Thanh: Bây giờ bạn phủ nhận là đảng đưa ra những đường lối đó, bạn cho là sai hay sao?
Thanh: