mercredi 15 août 2007

AGIT–PROP Tuyên Truyền Và Vận Động

AGIT–PROP

Minh Võ

Trước hết tôi phải xin lỗi độc giả vì lại dùng ngoại ngữ để làm tiêu đề cho bài này, sau khi đã có một bài với cái tựa Orchestration.

Từ Orchestration dùng trong trường hợp nói về chiến tranh, tiếng Việt không có từ tương đương. Dịch là Phối Khí, hay Hòa Âm thì lại chỉ có nghĩa đen về âm nhạc, không áp dụng vào chiến tranh hay tuyên truyền được. Cho nên đành để nguyên một từ đã trở thành quốc tế.

Lần này danh từ kép Agit-Prop cũng vậy.

Đây là viết tắt của hai từ Agitatsiya-Propaganda (Agitation-Propaganda) mà trong tiếng Việt có người dịch là Tuyên Vận (viết tắt của Tuyên Truyền Và Vận Động Quần Chúng). Cách dịch này tuy tạm ổn, nhưng có vẻ hiền lành theo tinh thần công tác của các chính quyền quốc gia, dân chủ nên vẫn không diễn tả được trọn vẹn ý nghĩa của nguyên ngữ vốn cô đọng trong 2 từ Agit-Prop là Khuấy Động-Tuyên Truyền. Đầy đủ hơn thì nội dung của Agit-Prop phải được hiểu là khuấy động quần chúng và tuyên truyền chính trị.

Đây còn là danh xưng một cơ quan quan trọng trong chính quyền Liên Xô là bộ Agit-Prop. Bộ phận tuyên truyền của trung ương đảng cộng sản Trung Quốc cuối thập niên 20 và đầu thập niên 30 do Lý Lập Tam kiêm nhiệm với chức ủy viên thường vụ bộ chính trị dưới quyền của Hướng Trung Phát cũng rập khuôn theo mẫu mực Agit-Prop của Liên Xô. Bộ Tuyên Truyền trong chính phủ đầu tiên của Hồ Chí Minh do Trần Huy Liệu làm bộ trưởng cũng thế. Nhưng về sau để đánh lừa dư luận, Hồ Chí Minh đã bỏ bộ này, đồng thời cũng giải tán đảng cộng sản, biến nó thành hội nghiên cứu Marx-xít (nòng cốt) và đảng Lao Động (ngoại vi). Nhưng “đội vũ trang tuyên truyền” của Võ Nguyên Giáp thì vẫn được duy trì rồi phát triển thành “lực lượng võ trang nhân dân” sau này, giống hệt như chủ trương tuyên truyền bằng bạo lực, vũ trang của Lý Lập Tam ở Trung Quốc.

Agitprop
Nguồn: wikipedia.org
--------------------------------------------------------------------------------

Trong bài này, chúng tôi xin miễn bàn về tổ chức, điều hành của cái bộ đặc biệt này. Mà chỉ nói đến nội dung công tác tuyên truyền chính trị và khuấy động quần chúng của nó mà thôi.

Sau bài Orchestration, có độc giả phê bình là nói bóng bảy “cao siêu” quá, lắm chỗ không biết người viết muốn nói gì. Thực ra, orchestration là tột đỉnh của tuyên truyền vì nó phối hợp sử dụng tất cả mọi hình thức tuyên truyền và khuấy động quần chúng một cách cao và đầy đủ nhất, khác nào nhạc sĩ sáng tác hòa âm đã sử dụng đến tất cả các nhạc khí, nhạc cụ để dàn dựng nên một tuyệt tác nhạc giao hưởng. Vì thế bài này có mục đích trở lại những kiến thức cơ bản về tuyên truyền của cộng sản, để giúp một số độc giả hiểu thêm về orchestration hơn. Dĩ nhiên, đây chỉ là tóm tắt đại cương mấy điểm cơ bản thông thường, vì nếu bàn kỹ ra cần phải có cả một pho sách lớn.

Ngày nay ta đã quá quen với từ Propaganda, cho nên khi nói tuyên truyền là hiểu ngay đó là tuyên truyền chính trị. Nhưng vào thế kỷ 19, nó hãy còn đuợc hiểu một cách đơn sơ là truyền bá, loan truyền. Tòa thánh Vatican có một bộ gọi là thánh bộ truyền giáo (Propaganda Fide), không ai dịch là bộ tuyên truyền đức tin cả.

Chữ agitation do động từ agitate (gốc từ động từ La Tinh agito) có nghĩa là lắc, lay động, lay chuyển, khuấy động … Ở đây, hiểu ngầm là khuấy động quần chúng. Người cộng sản để hai công tác tuyên truyền và khuấy động quần chúng vào làm một bộ phận duy nhất. Vì trong thực tế, hai công tác đó như bóng với hình, thường hỗ trợ lẫn nhau, chồng chéo lên nhau, quyện vào nhau, xoắn lấy nhau, rất khó phân biệt. Nhưng muốn hiểu đến nơi đến chốn về lý thuyết thì cần tách ra làm hai để dễ phân tích.

Tuyên truyền có mục đích đem đến cho một đối tượng – hay một nhóm đối tượng có lập trường khuynh hướng giống nhau – nhiều hay rất nhiều ý, nhằm lôi cuốn họ đi theo chiều hướng của mình, chấp nhận lập trường của mình, hành động theo ý mình. Điều này rất khó nếu những tin tưởng, suy nghĩ, sinh hoạt của đối tượng trái ngược với ta.

Cán bộ tuyên truyền có thể dùng nhiều hình thức khác nhau để đạt mục đích tuyên truyền như dùng lời lẽ trong các câu chuyện riêng tư, trong các buổi tọa đàm… hoặc dùng những tài liệu, sách báo, tranh ảnh, truyền đơn vv…
Những cử chỉ, thái độ, hành động của một người, một lãnh tụ, hay chiến thắng của một đơn vị, hoặc nhỏ, hoặc lớn từ tiểu đội đến đại đoàn đều có thể có một tác dụng tuyên truyền nào đó.

1. Tuyên truyền chính trị cũng như giáo dục và quảng cáo thương mại thường dựa vào những định luật tâm sinh lý giống nhau.

Hai nhà tâm lý học thực nghiệm Pháp là hai anh em Pierre Janet và Paul Janet đã dựa vào những cuộc thí nghiệm trên những bệnh nhân thần kinh u uất để chứng minh rằng hành động là kết quả của ý niệm. Khi chỉ có một ý duy nhất trong đầu bệnh nhân, thì lập tức ý đó biến thành hành động.

Khi có nhiều ý thì ý nào chiếm ưu thế, ý đó sẽ có khả năng nhất để biến thành hành động. Các nhà duy vật có thể bảo đó là theo chủ nghĩa duy tâm, lạc hậu. Nhưng không thể phản bác những kết quả cụ thể của công cuộc thí nghiệm theo đúng tiêu chuẩn khoa học thực nghiệm của hai nhà bác học này. (1)

Dĩ nhiên những nhà tuyên truyền cộng sản, theo thuyết duy vật, không thích lối giải thích duy tâm đó. Họ tìm tới Ivan Petrovich Pavlov (Nobel 1904), một khoa học gia người Nga, với thuyết phản ứng điều kiện, bắt nguồn từ những thí nghiệm trên con chó với tiếng chuông, để đi đến kết luận mọi hành động của con người đều do sự điều kiện hóa một cách máy móc.

Vì thế ông Hồ (có lẽ bắt chước Voltaire) đã từng có lần nói với cán bộ tuyên truyền rằng: “Nói láo, cứ nói láo, ban đầu người ta không tin, rồi nói mãi ngưòi ta cũng bán tín bán nghi, rồi thì cuối cùng tin như thật.” Chính vì chủ trương như vậy, cho nên khi tại Việt Nam xuất hiện lần đầu cái bộ tuyên truyền và đội vũ trang tuyên truyền, trong dân gian đã có thành ngữ “nói dối như Vẹm”. (2)

Muốn thu lượm kết quả, các nhà tuyên truyền, ngoài việc nắm vững quy luật về tâm sinh lý nói trên, còn phải “điều nghiên” (chữ CS thường dùng: điều tra, nghiên cứu) về đối tượng, khác nào nhà trồng trọtmuốn gieo trồng một giống rau, giống lúa … phải nghiên cứu đất xem cần đào xới theo phương pháp nào, cần thêm phân bón gì, độ ẩm bao nhiêu vv… Sau đó mới lựa cách thích hợp với từng đối tượng để tiếp cận và truyền đạt ý tưởng của mình: những triết thuyết, chủ nghĩa, chủ trương, lập trường chính trị … là những điều phức tạp cao siêu, hay chỉ là một lời khen, lời mời gọi, một gợi ý nhỏ, đơn sơ.

Với một cán bộ tuyên truyền cấp thấp, công việc có khi thật khó khăn, đòi nhiều thời gian, để thuyết phục đối tượng. Nhưng với những người có thiên khiếu về đắc nhân tâm, nhất là lại có cái mà ngoại ngữ gọi là “charisma” tức sức thu hút lạ lùng của lãnh tụ, thì có khi chỉ cần một lần tiếp xúc, một vài lời nói, một cử chỉ, một cái nhìn cũng có thể lôi cuốn đối tượng. Người ta thường nghe đồn về việc ông Hồ đã thu phục Tạ Đình Đề, Thụy An, Trần Đại Nghĩa theo cách đó. Và trong hồi ký của Trương Như Tảng, ông này đã thuật lại bị ông Hồ thuyết phục ra sao trong dịp ông ta và một nữ sinh cùng lớp tiếp xúc với ông Hồ ở thủ đô Paris của Pháp. Chỉ nguyên lời ông Hồ nói với hai sinh viên trẻ này rằng đừng gọi ông là chủ tịch mà hãy gọi ông một cách thân mật là bác đã đủ khiến họ cảm mến và muốn đi theo rồi. Trong cuốn tiểu sử của giám mục Lê Hữu Từ nhan đề Giám mục Lê Hữu Từ và Phát Diệm, tác giả cũng thuật lại rằng ông Hồ đã dùng tới tuyệt chiêu của ông để cố chinh phục niềm tin của nhà tu hành này:

Trong lúc chỉ có hai người trong một bầu không khí thân mật cởi mở, ông Hồ, theo lời của vị giám mục nói lại với tác giả, đã ngỏ lời xin giám mục rửa tội cho mình! Có điều vị giám mục không bị lừa bởi con người khôn khéo nhưng giả dối này.

Những Phan Kế Toại, Bùi Bằng Đoàn … đã bị ông Hồ chiêu dụ dễ dàng. Thậm chí cả Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam cũng bị lừa khi nghe lời đường mật của ông Hồ, và lời khuyên – gần như cưỡng ép – của các tướng Tầu Lư Hán, Tiêu Văn để nhận lấy 70 ghế không được bầu trong “quốc hội” (hoàn toàn biếu không như một món quà hối lộ!) và mấy chức phó chủ tịch, bộ trưởng … cũng đã mắc mưu ông Hồ, nếu không nói là bị quái chiêu “tuyên truyền” của ông ta chinh phục.

Chỉ có ông Ngô Đình Diệm không bị lừa, không nghe ông ta mà nhận chức bộ trưởng nội vụ và đã may mắn thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Có người cho rằng ông Hồ không để đàn em “thịt” ông Diệm là nhằm mục đích dùng hành động đó tuyên truyền lấy lòng cộng đồng công giáo lúc ấy, hoặc ít nhất ông Hồ cũng nhận thức được rằng giết ông Diệm lúc ấy sẽ gây ác cảm với cộng đồng giáo dân là một tập thể mà ông Hồ cho rằng không thể thiếu trong cái mặt trận Việt Minh “cứu quốc” giả dối của mình.

Những người vốn có thiện cảm với ông Hồ thì cho rằng ông Hồ kính nể thân phụ ông Diệm là Ngô Đình Khả – người đã sáng lập trường Quốc Học Huế mà Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp … đều là học sinh sau này. Ông Ngô Đình Khả là người duy nhất trong triều lúc ấy đã can đảm chống lại việc thực dân Pháp xử biệt xứ vị vua yêu nước Thành Thái, rồi sau nổi tiếng với câu “đầy vua không Khả, đào mả không Bài”, truyền tụng nơi cố đô, mà ông Hồ cũng biết và chính ông ta đã viện dẫn câu đó để giải thích với đàn em về việc ra lệnh cho phóng thích ông Diệm. (3)

Ap dụng 5 chữ W (Who, What, When, Where, Why) của Mỹ vào tuyên truyền, cán bộ tuyên vận phải lựa lời mà nói, tùy lúc, tùy nơi, tùy người mà nói thì mới đạt kết quả mong muốn. Về điểm này cứ xét lý do thay đổi chính sách và đối tượng tuyên truyền tùy theo tình hình thế giới và tình hình trong nước, tùy theo sự thành bại của phong trào vận động quần chúng trong nước thì có thể hiểu tuyên truyền mà không đúng lúc cũng rất tai hại. Ví dụ khi mới thành lập và thống nhất (1930) cán bộ còn non nớt, hăng say nghe theo đường lối của QT3 theo nghị quyết đại hội kỳ 6, muốn sớm đưa cách mạng cộng sản, cách mạng giai cấp đến thắng lợi, họ bèn kêu gọi công nhân, nông dân nổi dậy lập những tổ chức giống như ở Nga, gọi là Xô Viết, mà mạnh nhất là ở vùng Nghệ Tĩnh, nên mới có cái gọi là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh với khẩu hiệu sắt máu “Trí Phú Địa Hào, đào tận gốc, trốc tận rễ.” Đó là khẩu hiệu rất kêu, rất hấp dẫn đối với giới vô sản, thành phần mà cộng sản cho là nòng cốt của cách mạng giai cấp. Nhưng đợt ra quân đầu tiên này đã chuốc lấy thảm bại. Nhiều cán bộ bị bắt, bị giết, tổ chức tan tành vì phát động không đúng lúc, chưa đến lúc. Lý do thất bại là vì không điều nghiên kỹ về đối tượng. Dân chúng Việt Nam lúc ấy chỉ muốn độc lập, không muốn cách mạng cộng sản, không muốn đấu tranh giai cấp. Hồ Chí Minh đã rút kinh nghiệm. Ngay lập tức, ông ta tìm cách len lỏi vào các tổ chức cách mạng dân tộc ở Hoa Nam, thề trước các cán bộ Trung Hoa Quốc Dân Đảng rằng mình không phải cộng sản. Trong nước, các nhóm đệ tam liên kết với đệ tứ, với các đoàn thanh niên không cộng sản. Cộng sản đưa ra một lời kêu gọi mới: mặt trận chống đế quốc ra đời. Rồi mặt trận thống nhất dân tộc, mặt trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh (gọi tắt là Việt Minh). Toàn là những tổ chức có cái tên nhuộm màu sắc dân tộc. Nhưng trên thực tế thì mặt trận nào cũng chỉ là cái vỏ bề ngoài trong khi cốt lõi vẫn là các đảng viên cộng sản, hoạt động theo đường lối của QT3, thay đổi tùy theo sự thay đổi của tình hình thế giới được phản ánh qua các nghị quyết của các đại hội.

Chính sự thích nghi với hoàn cảnh, chiều theo xu hướng và nguyện vọng của nhân dân lúc ấy mà thay đổi đề tài tuyên truyền đã đánh lừa được nhiều ngưòi cứ nhìn cái vỏ xanh bề ngoài (chủ nghĩa dân tộc ngụy trang)không biết đến cái lòng đỏ bên trong (chủ nghĩa quốc tế vô sản tức cộng sản).

Để giữ cho cái vỏ xanh bên ngoài khỏi trầy da tróc vẩy mà để lộ cái lòng đỏ bên trong, bộ máy tuyên truyền cộng sản đã vận dụng mọi phương tiện, huy động mọi thành phần tổ chức, nam phụ lão ấu, tập trung họ vào những đoàn thể gọi là “cứu quốc” nhồi nhét vào đầu họ rằng Việt Minh là một phong trào, một mặt trận yêu nuớc. Sách báo, tranh ảnh, bích chương, truyền đơn, bươm bướm, khẩu hiệu, biểu ngữ, và mọi loại tác phẩm hội họa, âm nhạc, điêu khắc … được sử dụng tối đa để làm cho nhân dân tin vào đường lối của mặt trận. Nhưng mặt trận chỉ là cái vỏ. Cái cốt lõi là đảng cộng sản. Một đôi khi, ở một nơi nào đó, trong một lãnh vực nào đó cái vỏ xanh bị vỡ, lòng đỏ bên trong lòi ra, thì lập tức sửa sai, giải tán, tự phê … Chung quy mọi biện pháp cần thiết đã được thi thố để cố bảo vệ cái vỏ hầu che giấu cái cốt lõi là cuộc cách mạng vô sản không suy suyễn.

2. Khuấy động quần chúng có mục đích đem đến cho đại chúng hay nhiều tầng lớp nhân dân trong cùng một lúc chỉ một hai ý đơn sơ nhưng mãnh liệt, khiến cả đám đông ồ ạt đi theo chiều hướng, làm theo ý muốn của người chủ xướng.
Những diễn văn ngắn, những bài thuyết trình cô đọng, ít dùng lý luận, nhưng chứa nhiều lời hô hào, kêu gọi làm phấn chấn lòng dân, những khẩu hiệu như ủng hộ, đả đảo, vạn tuế, muôn năm … thường có tác dụng khuấy động quần chúng. Nếu đưa ra vào một lúc thích hợp, thời cơ thuận lợi, tình hình đã chín mùi, chúng có thể biến một đám đông ù lỳ trở thành năng động, lôi cuốn họ dấn thân vào những hành động nguy hiểm như một dòng thác, như một bầy thiêu thân.

Khuấy động (hay vận động) quần chúng thường được thực hiện, dựa vào những định luật về tâm lý quần chúng, có phần khác với tâm lý cá nhân thông thường. Một vài ví dụ sau đây có thể cho thấy sự khác biệt đó.

Trong một rạp hát hay hội trường, khi có một, hai người vỗ tay thật lớn, thì hầu như mọi người trong đó liền vỗ tay theo, dù phần đông chẳng hiểu họ tán thưởng cái gì.

Các nhà tâm lý đã làm cuộc thí nghiệm như sau: trước một cử tọa đông đảo, nhà tâm lý mở nút một chiếc lọ rỗng không, trong đó chẳng có bất cứ chất đặc, chất lỏng hay chất hơi nào cả. Tuy nhiên, nhà tâm lý bảo với cử tọa rằng trong lọ có chứa một chất hơi với mùi tỏi nồng nặc, rồi ông ta hỏi có ai ngửi thấy mùi tỏi không. Kết quả có nhiều cái đầu gật, gật, và những bàn tay giơ lên.

Những ví dụ trên chứng minh thành ngữ Pháp Mouton de Panurge không phải chỉ có nghĩa đen về những con cừu, mà còn đúng cả về nghĩa bóng đối với một số người, nhất là khi họ tập họp thành một đám đông (quần chúng), ít còn, hay không còn, sống với tri thức thông thường của cá nhân mình mà sống bằng một tâm lý tập thể, tâm lý quần chúng.


Hồ Chí Minh: “đồng bào có nghe tôi rõ không?”
Nguồn: marxists.org
--------------------------------------------------------------------------------

Các nhà tuyên truyền chính trị, nói chung các nhà chính trị, thích “chơi” trên những “phím đàn” tâm lý này. Khi ông Hồ hay ngắt quãng trong những bài diễn văn ngắn, đơn sơ, bình dị của ông bằng những câu hỏi “đồng bào có nghe tôi rõ không?” … hay giơ tay thề trước đám đông: “Tôi thề không bán đứng tổ quốc, đồng bào hãy tin tôi…” là lúc ông ta tỏ ra khá điêu luyện về phím đàn tâm lý quần chúng. Và cán bộ của ông ta – đã được rèn luyện về khoa tuyên truyền khuấy động – đứng trong đám đông sẽ là những kẻ đáp lại câu hỏi của ông ta trước tiên, hay cất tiếng hoan hô trước tiên, khơi động cho cả ngàn tiếng vang lên “Rõ” (để trả lời câu hỏi), “Hồ chủ tịch muôn năm” (để đáp lại câu “đồng bào hãy tin tôi”)…

Trong cải cách ruộng đất tại miền Bắc những năm 55-56, những khẩu hiệu hô lớn của đám đông “đả đảo địa chủ gian ác”, hay các điệp khúc ngắn do nhi đồng, thiếu nhi hát trong làng vừa hát vừa đánh trống cơm: “Cắt đứt là cắt đứt, Dứt khoát là dứt khoát, Không vương vấn giai cấp địa chủ” đã có tác dụng làm khiếp đảm những nông dân “có máu mặt” và khơi lên trong toàn bộ nông thôn một làn sóng đấu tranh ngút trời với lòng hận thù giai cấp ngùn ngụt.(4)

Hình ảnh những nông dân có dăm ba mẫu ta ruộng bị quy là địa chủ qùy gối trước tòa án nhân dân gồm những bần cố nông vô học chỉ biết làm theo lệnh của đội trưởng cải cách, hay bị đứng như trời trồng dưới hố sâu hàng giờ để nghe xỉ vả lăng nhục trong bầu không khí cuồng loạn của đấu tranh giai cấp cho ta thấy tác dụng xuất qủy nhập thần của “khuấy động quần chúng” của cộng sản.

Tại sao chúng tôi chỉ toàn trưng dẫn những hành động của cộng sản để minh họa cho lập luận về tuyên truyền và khuấy động quần chúng?

Bởi vì như đã trình bày ngay ở đầu, đây là ngón sở trường của phe cộng nói chung và của Việt Cộng nói riêng. Và phải thú thực, chúng ta đã thua vì kém địch thủ về tuyên truyền.

Tuyên truyền của cộng sản đã biến ít thành nhiều, biến bại thành thắng, trắng thành đen, ngụy nghĩa thành chính nghĩa. Những người “quốc gia” nạn nhân của cộng sản thường nguyền rủa ông Hồ Chí Minh. Những cựu cán bộ cộng sản hay những người vì lầm lẫn từng đi theo mặt trận Việt Minh trong một thời gian dài cũng nói ông Hồ là xấu. Thậm chí có người gọi ông ta là Ma Đầu (như Hoàng Quốc Kỳ), là Qủy Chúa (như Nguyễn Chí Thiện), Qủy Vương (như Vũ Thư Hiên, gián tiếp qua lời một người bạn của ông là tiểu đoàn trưởng Đích). Thế mà nhờ tuyên truyền, ngày nay HCM vẫn được tôn sùng. Không phải chỉ có Võ Nguyên Giáp viết trên Tạp Chí Cộng Sản số 24, tháng 12, 1999 rằng “Làm theo lời HCM thì thắng lợi, làm sai tư tưởng HCM thì thất bại; thế giới đổi thay, nhưng tư tưởng HCM sống mãi …” Không thiếu những nhà văn, nhà báo, sử gia tên tuổi trên thế giới, kể cả các tác giả soạn tự điển bách khoa của Mỹ, của Anh … mãi đến tận năm 2000 vẫn ca tụng HCM hết lời.

(Còn tiếp)


© DCVOnline
--------------------------------------------------------------------------------

(1) Cách nay 11 năm, tại Mỹ, những cuộc thí nghiệm suốt gần 20 năm của bác sĩ Dorsey cũng đi đến kết luận rằng lời cầu nguyện có ảnh hưởng đến cách chữa bệnh, nhất là bệnh tim, đã làm dư luận trong giới khoa học gia Mỹ xôn xao.
(2) VẸM là viết tắt của 2 chữ Việt Minh, do cộng sản hoàn toàn chi phối. Việt Minh, chỉ mặt trận Việt Minh, là viết tắt của 7 tiếng “Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội” ban đầu do ông Hồ Học Lãm làm chủ nhiệm, gồm có nhiều đảng phái quốc gia và cả một số đảng viên cộng sản, trong đó có HCM hoạt động ở Hoa Nam trong thập niên 20 và 30; về sau Hồ Chí Minh dùng mánh lới và tuyên truyền dối trá dần dần thao túng Hội này, trừ khử những thành phần quốc gia chống cộng, để cuối cùng hoàn toàn điều khiển nó, biến nó thành cái gọi là mặt trận Việt Minh.
(3) Xem Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên, Paris, 1988, trang 226-227
(4) Xem Những Thiên Đường Mù của Dương Thu Hương.

http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=3775

NHỮNG MỴ TỪ CỦA BỌN NGỤY QUYỀN

NHỮNG MỴ TỪ CỦA BỌN NGỤY QUYỀN

Như quý vị cũng đã biết những chuyện bê bối về những gian thương làm nước mắm và nước tương xãy ra ở trong nước, khiến cho chúng ta là người tiêu dùng thật bở ngỡ và búc súc. Trước khi những vụ này được phanh phui ra ánh sáng, người tiêu dùng luôn tin tưởng ở những sản phẩm chế biến nước mắm, nước tương bởi những mỹ từ trên những nhãn hiệu: Đảm Bảo An Toàn, Thơm Ngon, Bạn Của Các Bà Nội Trợ, Chất Lượng Cao, Số Một, v.v… Nhưng rồi, nước tương, nước mắm cũng chỉ được phê chế mất vệ sinh, pha trộn hóa chất, không được bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng. Thế mà những sản phẩm này vẩn được bày bán khắp nơi, chiêu dụ người tiêu dùng bởi những mỹ từ hay và mẩu mã đẹp.

Đó chỉ là những chuyện nước tương, nước mắm thôi. Thật ra còn có một số mỹ từ mà chính bọn ngụy quyền “Đảng và Nhà Nước” VN đang dùng còn nguy hại hơn nhiều. Hiện nay, trên tất cả giấy tờ hành chánh, đơn từ đều có những mỹ từ: Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc để quảng cáo cho một đảng phái hiện đang hành trị đất nước Việt Nam chúng ta. Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) đã đưa ra những mỹ từ này hòng chiêu dụ được lòng tin yêu của những người tiêu dùng như bạn và tôi.

ĐỘC LẬP

Kể từ khi Hồ Chí Minh ra Ba Đình đọc bài “Tuyên Ngôn Độc Lập” mà ông ta đã vay mượn văn từ, ý nghĩa từ bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Mỹ, đất nước đã không còn bị thực dân Pháp đô hộ nữa. Tuy nhiên, cái nhà nước “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” quả chưa thực sự “Độc Lập” khi chính quyền Hồ Chí Minh như những con rối nước bị điều khiển bởi nhóm đàn anh CS ở Moscow và Beijing.

Mọi hành xử chính trị của Hồ Chí Minh đều được chỉ đạo từ bọn đàn anh Cộng Sản Đệ Tam. Từ những ý thức hệ Vô Sản, đánh Tư Sản, Cải Cách Ruộng Đất đến hình tượng, khẩu hiệu, lá cờ quốc gia đều được đúc khuôn từ cái lò Moscow mà ra. Từ lúc Đảng CSVN ra đời, người dân Việt Nam đi đâu, lúc nào cũng nhìn, nghe thấy ảnh tượng ông Tây, người Nga. Học sinh Việt Nam đã phải bị bắt học tiếng Nga, văn hóa Nga. Người ta cứ liên tưởng như một nước Nga trong lòng đất mẹ VN. Trong mọi ý tưởng của nhóm Hồ Chí Minh lúc nào cũng hướng về đất thánh Moscow.

ĐCSVN vốn là nhóm nô lệ ý thức hệ. Lúc thì họ tôn thờ, vinh danh Lênin, Carl Max thì không thân thiện với Trung Quốc. Vào những năm 1979 đến 1984, Việt Nam và người “anh em” Trung Hoa đánh nhau chí tử, mãi đến 1999 mới chính thức giãi hòa. Cuộc chiến này đều bị chính quyền hai bên giấu nhẹm như mèo giấu kứt vây. Sau khi, Liên Xô tan rã, ĐCSVN không còn chỗ dựa, trong khi đó, chỉ có Trung Quốc vững mạnh nhất trong nhóm CS còn lại, thế là ĐCSVN đi chơi lại với Trung Quốc.

Đài Loan, Nam Hàn tuy được Mỹ bảo hộ, nhưng Hiến Pháp của họ không hề vinh danh, lệ thuộc chính quyền Mỹ. Trong khi hiến pháp Việt Nam thì ngược lại, ĐCSVN vẩn lệ thuộc vào nhóm quan thầy Nga-Xô. Điều 4 hiến pháp Việt Nam vẩn ghi rỏ rằng:

“Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghia Mác - Lê Nin và tu tuởng Hồ Chí Minh, là lực luợng lãnh đạo Nhà nuớc và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.”

Ngày nay, dân mình bị Trung Quốc bắn giết. Thác Bản Dốc, Ải Nam Quan, Hoàng Sa, Trường Sa bị TQ lấn chiếm, thế mà ĐCSVN chỉ nhẹ nhàng lên tiếng phản đối cho qua loa có lệ. Quả thật, ĐCSVN không dám chống đối được TQ, vì mọi an ninh quốc phòng, kinh tế, chính trị đều do TQ bảo kê hết. Hơn nữa, con số 2 triệu đảng viên chỉ biết tham nhũng, kinh doanh thu đô la vào túi, ăn to béo mập thì sao đối lại với 2 triệu quân đội Trung Quốc hùng hồ, mạnh liệt được?!

TỰ DO

Tháng 4, 1975, miền Nam Việt Nam bị “giải phóng”. Lại một mỹ từ thật đẹp, “Giải Phóng”. Sau ngày “Giải Phóng”, mọi quyền tự do cơ bản con người dường như dần mất hết và trở nên khan hiếm. Trước đó, người dân miền Nam còn được quyền tự do biểu tình, mà trong đó có rất nhiều người “Phản Động” đã được ân huệ này để làm náo loạn hệ thống chính trị miền Nam. Thế mà ngày nay, đồng bào người Thượng Tây Nguyên tổ chức biểu tình ôn hòa đòi tự do tôn giáo và phản đối chính quyền cướp đất tổ tiên của họ thì lại bị bắt, kêu án một cách nặng nề. Hiện nay, có rất nhiều người Thượng vẩn phải lẩn trốn trong rừng hay đã và đang vượt biên sang Miên vì bị ĐCSVN đang truy lùng, giam bắt vì họ có liên can đến vụ biểu tình hồi năm 2001.


Quyền tự do báo chí rất mơ hồ! Trong nước có hơn 600 tờ báo cầm tay và điện tử, nhưng đều phải bị sự chỉ đạo của ĐCSVN. Chỉ đảng viên CS mới được làm, ra báo. Mọi tin tức có liên quan đến chính trị, kinh tế đều phải thông qua Bộ Văn Hóa Thông Tin. Nếu đăng mà không đẹp lòng BVHTT thì sẽ bị đình chỉ, phạt vạ, đuổi việc, thậm chí bị bỏ tù. Hiện nay có rất phóng viên bị tra vắn vì đã viết về những vụ tham nhũng lớn ở VN. Thật tội nghiệp cho giới làm báo VN phải đi lề bên phải trên con đường một chiều!

Quyền tự do thông tin thì bị cấm đoán, ràng buộc. ĐCSVN bắt chước Trung Quốc tìm mọi cách ngăn chặn mọi thông tin hiện đang phổ biến lan rộng trên internet bằng những kỷ thuật tân tiến. Bắt buộc người chủ internet phải theo dỏi, nằm vùng người xử dụng truy cập và phải báo ngay với công an, nếu không sẽ bị rút giấy phép kinh doanh. ĐCSVN ngụy biện nói rằng làm vậy để ngăn chặn các trang web đồi trụy, nguy hại đến người dân. Hư thực thế nào, mà người ta lại cứ dễ dàng truy cập được các trang đồi trụy, khỏa thân, dành cho người lớn; còn những trang cung cấp tin tức, sự thật về ĐCSVN thì gặp nhiều trở ngại, khó khăn khi truy cập.

Quyền tự do đi lại rất cơ bản. Tuy nhiên nó cũng bị hạn chế. Đi đâu, ở chổ nào cũng phải khai báo Tạm Trú, Tạm Vắng với chính quyền sở tại. Ngoài giầy chứng minh nhân dân ra, nơi nào cũng phải có hộ khẩu gia đình, để cho ĐCSVN dể dàng kiểm soát. Hầu hết những dân lao động tứ xứ vào các thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn đều bị coi như bất hợp pháp, bởi vì họ không có hộ khẩu ở nơi họ tạm cư. Nếu không có hộ khẩu, thì con em họ khó mà được đi học đoàng hoàng. Việt Kiều về thăm quê hương cũng phải đăng ký xin phép. Gần đây thủ tướng VN ra nghị quyết miển Visa cho Kiều bào về thăm quê hương. Tuy nhiên cũng phải làm đơn xin phép toà đại sứ trước khi về nước, thủ tục còn rồm rà hơn.

Chuyện tín ngưỡng, tôn giáo như thấy rất dể dàng ở cái thiên đường XHCN này. Tuy nhiên, muốn được chính quyền nhìn nhận, các tôn giáo đều phi đăng ký, xin mới được hợp pháp. Một số tôn giáo đợi mãi 20 năm, 30 năm mới được ĐCSVN nhìn nhận. Hiện nay, có nhiều giáo phái Tin Lành, Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất và các tôn giáo khác vẩn còn phải thờ phượng một cách lén lút. Mà dù cho có được ĐCSVN nhìn nhận, nhưng chuyện kỳ thị, ỷ quyền thế đàn áp người khác đức tin vẩn là chuyện thường. Các tín đồ Phật giáo Hòa Hảo bị cấm đoán không được tưởng niệm ngày vị giáo chủ của họ lâm nạn. Những người sắc tộc theo đạo Tin Lành bị chính quyền kỳ thị cho là họ theo đạo của Mỹ, Tư Bản. Một số giáo phái thuộc đạo Mẫu thì bị chính quyền cho là mê tín do đoan, buôn thần bán thánh.


Những mỹ từ của điều 69 hiến pháp như chiêu dụ chúng ta nhận biết là VN cũng có những dân quyền, dân chủ. Thế nhưng ĐCSVN lại bắt bớ, đàn áp, kêu án giam cầm những người Đấu Tranh cho Tự Do và Dân Chủ. ĐCSVN không chấp nhận một đảng phái nào khác ngoài đảng CS. Hiện nay, có nhiều đảng phái ra đời, những chỉ dám hoạt động lén lút mà thôi. Hể ai dám lên tiếng đối lập với ĐCSVN, hoặc nói sự thậy thì bị gép vào thành phần “Phản Động”. ĐCSVN kêu án, giam cầm rất nhiều tù nhân có liên quan đến chính trị, thế mà ĐCSVN chối oanh oanh là VN không có giam giử tù nhân chính trị.


HẠNH PHÚC

ĐCSVN lúc nào cũng vổ ngực khoe khoang rằng kinh tế VN phát triển và giàu có. Nhưng thực tế VN vẩn chưa là con rồng, con hổ ở vùng Châu Á. Hàng năm, ĐCSVN vẩn đưa hàng ngàn người dân đi Xuất Khẩu Lao Động. VN đã và đang nhận viện trợ từ Ngân Hàng Thế hàng tỉ đô la cho những việc Xóa Đói Giãm Nghèo. Không biết trong hàng tỉ đô la đó, dân nghèo nhận được nhiêu, hay bao nhiêu căn nhà Tình Nghĩa được xây lên cho họ. Chúng ta chỉ thấy khắp nơi, các cơ quan nhà nước, ỷ ban nhân dân, công sở chính quyền, nhà ở của các cán bộ thì được xây khang trang, đồ sộ, mới lạ và rất đẹp mắt.

Hàng năm, người dân phải đóng biết bao nhiêu là thuế: thuế bất động sản, thuế thương mại, thuế thu nhập, thuế xe, thuế vận tải giao thông, thuế mua bán, v.v.. Vậy mà người dân cũng phải đóng học phí 2 lần trong một năm để cho con em của họ được đi học. Người nghèo, già neo đơn khi bị bệnh thì chỉ có mong ở phép lạ hay ở các nhà hảo tâm vì không có tiền đi bệnh viện. Nghề giáo viên là cao quý nhất trong các nghề. Tuy nhiên, các giáo viên lại được nhận lương bổng thấp nhất so với những người khác làm cho chính phủ. Những cán bộ các cấp cuối năm còn được tiền thưởng, quà thưởng, còn các giáo viên thì thật đáng thương không được xu nào. Phải chăng ĐCSVN lại không nhớ là nhờ các giáo viên giảng dạy, ru ngủ, đầu đọc chủ nghỉa CS cho tuổi trẻ VN, mà ĐCSVN mới được tồn tại đến ngày nay?!

Đường xá giao thông thật nguy hiễm vì xây tạo thiếu chất lượng, cầu cống mới xây thì bị nghiêng, trệ xuống. Không biết chính quyền nhận tiền từ thuế giao thông vận tải ở mổi chiếc gắn máy, vận tải bao nhiêu, mà không trả đủ lương cho cảnh sát giao thông, họ phải “đứng đường” kiếm tiền đút lót từ những người vi phạm luật giao thông. Hàng ngày, khắp mọi nơi đều xãy ra những vụ tai nạn giao thông thảm khốc và chết người như cơm bửa.

Đừng để những tòa nhà cao ốc, cao sang, những chiếc xe gắn máy đẹp bắt mắt, những chiếc phone cầm tay đời mới làm lóa mắt bạn. Vì xen lẩn những cao sang hoa lệ đó, vẫn có rất nhiều người phải buôn thúng bán bưng, bán sức lao động, bán thân xác, bán lý trí để kiếm kế sinh nhai ở cái xã hội đổi mới VN bây giờ. Nhiều em bé vì cha mẹ nghèo không tiền nuôi các em ăn học, các em phải đi đánh bóng giày, bán báo, bán kẹo, bán vé số, ăn xin để có vài ngàn đồng mà tạm nuôi các em, hay nuôi gia đình các em, hay đưa cho những thành phần bất nhân bảo kê, coi giử các em. Nhiều thanh niên nam nữ bỏ quê nhà vào thành phố lớn kiếm sống từ những nghề bình thường cho đến những nghề thật đáng thương như: mát-xa dạo, bán thân xác của mình. Chuyện bán thân xác không còn độc quyền ở phái nữ ở thiên đường XHCNVN nữa. Mà các bạn nam giới cũng làm. Nhiều bạn nam đã phải cặp, ăn ở với những phụ nữ bằng tuổi mẹ mình giàu có, hoặc phải ăn nằm với những người đàn ông có tiền để nuôi thân, nuôi gia đình.


Truớc và sau 1975, ĐCSVN luôn tuyên truyền, chê bai chế độ củ bê tha, rằng con gái VN ham “Tư Bản” lấy Mỹ, lấy ngoại quốc. Nếu chúng ta nhìn lại cái thiên đường XHCNVN ngày nay thì còn tệ hại hơn trước giai đoạn 1975 nhiều. Con gái VN hiện bị bán ra nước ngoài, bị đưa vào các động mãi dâm, bị trưng bày trong lồng kín như những món vật cho người ngoại quốc mua vui. Các cô phải khỏa thân đứng xếp hàng để cho mấy ông “Tư Bản” ngắm, sò mó, lựa chọn. Nhiều cô vì gia đình nghèo phải chịu lấy mấy anh Nam Han, Tàu tàn tật, lớn tuổi bằng cha, chú các cô để hy vọng có một cuộc sống mới. Nhiều em bé tuổi chưa quá lớp 1 bị gạt, bán qua Miên để phục vụ tình dục cho người ngoại quốc. Đó là những vụ được đưa ra ánh sáng. Hiện nay, còn rất nhiều em bé, cô gái VN đáng thương đang là những món vật mua vui ở Miên, Thái Lan, Trung Quốc hay ở chính trên đất nước Việt Nam của họ.


Người dân bị chính quyền địa phương ỷ thế cậy quyền cướp đoạt đất đai, tài sản của họ làm cho họ phải vô gia cư, tài sản mất hết, lâm vào cảnh túng thiếu. Người ta đi khiếu kiện từ Bắc vào Nam, từ Nam ra Bắc, từ đời cha đến đời con, thế mà Công Lý vẩn trốn chạy, tránh né họ. Như những vụ biểu tình của những người dân oan xãy ra ở Sài Gòn, Bạc Liêu, Hà Nội vừa rồi. Họ kêu gào, than khóc, dầm mưa giải nắng, thế mà chính quyền vân mặc kệ họ. Cửa Tiếp Dân vân đóng kín. Công an bao vay họ, không cho người khác cứu trợ lương thực. Không một tờ báo, tin TV nào đặt nặng vấn đề này đến với công chúng. Không những thế, ĐCSVN vô tâm đánh đuổi những người biểu tình khiếu kiện, bắt giam họ.

Hàng năm biết bao nhiêu là cuộc đình công xảy ra trong giới lao động, giai cấp công nhân. Họ bị chủ là “Tư Bản” Nam Hàn, Trung Quốc đánh đập, bạt đãi, trả lương rẻ mạt, thậm chí bắt làm nhiều giờ mà vẩn không trả lương. Trong khi ấy, cái bọn bù nhìn “Công Đoàn” quốc doanh của ĐCSVN thì chẳng làm gì được. Thật trớ truê hơn là bọn lảnh đạo đất nước chính là nhóm người đại diện cho tầng lớp giai cấp công nhân mà chẳng đá động gì được đối với bọn đầu tư ngoại quốc. Ngày qua ngày người lao động vẩn cứ bị bóc lột sức lao động ngay cả trên cái thiên đường XHCN của mình.

CỘNG HÒA XẢ HỘI CHỦ NGHỈA VIỆT NAM
ĐỘC LẬP - TỰ DO - HẠNH PHÚC

Âu chỉ là những mỵ từ quảng cáo cho một ngụy quyền chuyên ngụy tạo, tuyên truyền đánh lừa nhân dân Việt Nam. Nếu chúng ta đem bọn Ngụy Quyền này so sánh với đám gian thương làm nước mắm, nước tương thì đám gian thương nhẹ tội hơn nhiều. Không biết bao giờ đất nước Việt Nam mới thật sự có Độc Lập - Tự Do và Hạnh Phúc vậy bạn?

Vũ Quốc Tấn.

Thử tìm hiểu Chỉ thị 06-CT/TW HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

Thử tìm hiểu Chỉ thị 06-CT/TW HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
Hay Tư tưởng chánh trị, kinh tế và con người thật Hồ chí Minh

Nguyễn văn Trần

Bộ Chánh trị đảng cộng sản Hà nội vừa ra Chỉ thị số 06-CT/TW về tổ chức cuộc vận động « Học tập và làm theo tấm gương tư tưởng đạo đức hồ chí minh ». Nhơn đây, xin nhắc lại trong vừa qua, Bộ chánh trị đã ban hành một chỉ thị quan trọng, đó là Nghị quyết 36 hướng dẫn đảng viên các cấp thi hành chánh sách của đảng chiêu dụ và thu phục người việt hải ngoại về với đảng cộng sản để được như vậy, đảng cộng sản có thể tổng kết chiến thắng 30/04/75 một cách trọn vẹn. Chỉ thị 06-CT/TW nhằm chấn chỉnh hàng ngũ đảng, củng cố lòng tin nhân dân đối với đảng cộng sản trong vai trò lãnh đạo đất nước ngày nay đang trên đà suy yếu.

Nghị quyết 36 cho thấy chỉ trong thời gian ngắn, đảng cộng sản Hà nội đã không còn giữ thái độ cao ngạo đối với người việt hải ngoại như trước kia ( bọn đĩ điếm, phản quốc, tức thái độ ông/chúng mày ) mà đã thay đổi « người việt hải ngoại là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc » ( quan hệ ông/chúng mày nay đổi lại vị trí ) bởi vì chỉ số tiền 4 tỷ mỹ kim của người việt hải ngoại gởi về Việt nam hàng năm, tính ra thành lợi tức đầu người, cũng đã vượt khởi quá xa lợi tức đầu người ở việt nam ngày nay.

Nay Bộ chánh trị ra Chỉ thị 06-CT/TW không tránh khỏi phơi bày rõ một thực tế khách quan là chủ nghĩa cộng sản không còn là niềm tin, là lý tưởng tranh đấu của người cộng sản nữa. Mà đúng vậy. Cộng sản Mác-Lê sụp đổ trọn vẹn ở Liên-xô và Đông âu bởi vì học thuyết khoa học hiện thực mà lại không có khả năng mở ra tương lai. Sau khi sụp đổ, chủ nghĩa cộng sản cũng không để lại được một điều gì dù nhỏ nhít khả dĩ ơn ích cho nhơn loại. Cộng sản đã sụp đổ như chưa hề có cộng sản hiện hữu.

Đảng cộng sản hà nội không thể không biết sự thật lịch sử này nên nay họ xoay qua cố tạo dựng Hồ Chí Minh thành một giá trị qui chiếu cho đảng viên và thuyết phục nhơn dân chấp nhận như một niềm tin chung. Giá trị qui chiếu, niềm tin chung sẽ là cơ sở tinh thần dựa trên đó đảng cộng sản cố sức kéo dài thêm quá trình xã hội chủ nghĩa của chế độ.

Nhưng « tấm gương tư tưởng đạo đức hồ chí minh » có phải thật sự có giá trị qui chiếu hay không ? Mà Hồ Chí Minh có tư tưởng, đạo đức không ? Con người thật Hồ Chí Minh nếu có nêu gương thì tấm gương ấy là tấm gương như thế nào ?

1-Tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh

Từ Đại hội 6 ( 12 - 86 ), đảng cộng sản hà nội đưa ra chánh sách « đổi mới », tức chuyển biến chủ nghĩa mác-lê-mao thành chủ nghĩa- mác-lê-đặng (Đặng Tiểu Bình ), nhưng vẫn khẳng định Việt nam theo con đường xã hội chủ nghĩa, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, mà chỉ tiếp thu những thành tựu tốt đẹp của chế độ tư bản về khoa học, kỹ nghệ để xây dựng và phát triển đất nước xã hội chủ nghĩa, dứt khoát bác bỏ không khoan nhượng những giá trị tinh thần nền tảng như các quyền tự do chánh trị, văn hóa, tôn giáo, …(1)

Đến năm 1991, Hà nội lại bắt chước Bắc kinh (đề cao Mao trạch đông ) hô hào đề cao cái gọi là « tư tưởng hồ chí minh » và đưa vào tất cả các tài liệu tuyên truyền chánh thức, cả đưa vào sách giáo khoa các cấp .

Thật tình thì Hồ Chí Minh làm gì có tư tưởng ! Những gì Hồ Chí Minh viết chỉ có giá trị không hơn những bản văn hành chánh cho cán bộ của ông. Hơn nữa, chính Hồ Chí Minh cũng từng thú nhận « không có tư tưởng gì khác hơn chủ nghĩa mác-lê ». Sự thú nhận này làm ra vẻ ông là người khiêm tốn, nhưng thật sự không phải ông là người có tánh khiêm tốn. Trong quyển « Lẽ Phãi của chúng ta » do Nhà xuất bản Chánh Trị Quốc Gia, Hà nội, 2004, ông Nguyễn Phú Trọng, chủ tịch Quốc Hội, phản bác nhũng chống đối của người việt tranh đấu dân chủ, viết : « … riêng về mặt lý luận, họ sử dụng mọi phương tiện đánh vào nền tảng tư tưởng của đảng là chủ nghĩa Mác-Lê, ở Việt nam [chủ nghĩa Mác-Lê] còn là tư tưởng hồ chí minh ». Nhưng ở Việt nam, chủ nghĩa Mác-Lê chuyển biến thành tư tưởng mao trạch đông –staline .

Sùng bái tuyệt đối Staline và Mao trạch đông nên đã có lần trong chiến khu, trước một số đông đảng viên, vào đầu thập niên 50, Hồ Chí Minh chỉ ảnh Staline và Mao trạch đông nói :

« Bác có thể sai lầm ; chớ hai vị nầy không bao giờ phạm phải sai lầm ». Do đó, lúc nào Hồ Chí Minh cũng hết lòng hết dạ tôn thờ Staline và Mao Trạch đông là bực thầy của lý thuyết chuyên chính vô sản mà ông ra sức học tập và đem áp dụng ở Việt nam : « đảng cộng sản là công cụ của chuyên chính vô sản », mà chuyên chính sau cùng chỉ còn là « chuyên chính của một người » (2) .

Boris Savourine đã phải nhìn nhận Hồ Chí Minh là đồ đệ tuyệt trần của Staline (3). Còn đối với họ Mao, Hồ Chí Minh khẳng định « kinh nghiệm và tư tưởng của Mao trạch đông đã giúp chúng tôi hiểu thấu đáo hơn học thuyết mác-anghên-lê- staline. Những người cách mạng việt nam phải luôn luôn ghi nhớ và biết ơn Mao trạch đông về những cống hiến to lớn đó »(4) .

Khi ghép « tư tưởng hồ chí minh » vào chánh sách « đổi mới », Hà nội không nghĩ là muốn dựng lên Hồ Chí Minh thay thế Mác-Lê-Staline-Mao để làm cho mọi người thấy có một chút màu sắc việt nam bởi theo tư tưởng hồ chí minh cũng không gì khác hơn rập khuôn theo tư tưởng staline-mao trạch đông mà thôi. Lúc nào Hồ Chí Minh cũng tâm nguyện đó là học thuyết đúng đắn nhứt, là kim chỉ nam xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa. Vì tin tuyệt đối Staline và Mao trạch đông mà Hồ Chí Minh đã đem về Việt nam áp dụng vào thực tế những lời dạy và kinh nghiệm quí báu của hai người ấy, đã gây ra thảm cảnh ở miền Bắc Việt nam từ đầu thập niên 50 của thế kỷ trước trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất long trời lở đất, giết hại hơn nửa triệu nông dân vô tội, làm tê liệt sự sản xuất xã hội suốt trong nhiều năm. Tiếp theo, Hồ Chí Minh thực hiện «Trăm Hoa Đua Nở » giết hại sạch những trí thức ưu tú ở Miền Bắc. Trong số trí thức ấy, có những người thoát chết lúc thanh trừng, phải kéo dài cuộc sống đau khổ cho đến cuối đời trong gần đây.

Trung thành với tinh thần chuyên chính vô sản, lúc kháng chiến, Hồ Chí Minh dựng « Mặt Trận Việt Minh » để thực hiện đoàn kết toàn dân nhưng, thực chất, là để tiêu diệt tất cả đoàn thể, cá nhơn nào tham gia Việt Minh mà không theo cộng sản, mặc dù cùng đánh đuổi thực dân pháp giành độc lập cho Việt nam. Hồ Chí Minh đã từng tuyên bố rõ : « Đảng ta không những giành được quyền lãnh đạo cách mạng ( kháng chiến chống thực dân ) trong cả nước, mà còn đập tan được mọi âm mưu của giai cấp tư sản hầu tranh giành quyền lãnh đạo cách mạng với đảng ta » (5) . Trên thực tế, lúc ấy, từ Hà nội, Hồ Chí Minh đã không ngần ngại ra chỉ thị sát hại những nhà trí thức ái quốc chơn chánh ở Miền nam như Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh, Phan văn Hùm, Trần văn Thạch, Hồ văn Ngà, Nguyễn văn Sâm,…và vô số những tín đồ của các tôn giáo ái quốc trong Nam như Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo (Đức Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ bị Việt minh cộng sản theo lệnh Hồ Chí Minh sát hại ở Đốc Vàng).

Riêng đối với những người kháng chiến theo Đệ Tứ, như Tạ Thu Thâu, Hồ chí Minh đã không tiếc lời nguyền rủa đó là « bầy chó trốt-kít » và buộc tội họ là « bọn phản bội, gián điệp, tay sai ngoại bang, đế quốc,… »(6). Ngày nay, đảng cộng sản hà nội học tập và áp dụng tư tưởng hồ chí minh không lệch lạc trong các vụ buộc tội những nhà tranh đấu dân chủ và nhơn quyền ở Việt nam là « gián điệp, phản quốc, … ». Nhưng khi nhìn lại nghiêm chỉnh thì ai ai cũng nhận thấy Tạ Thu Thâu và tất cả nạn nhơn của Hồ Chí Minh, và cả những người đang tranh đấu dân chủ và nhơn quyền ở Việt nam ngày nay, đều được mọi người lương thiện kính trọng và nhìn nhận họ là những nhà ái quốc trong sáng, chơn chánh . Còn Hồ Chí Minh khó được nhiều người việt nam không cộng sản thừa nhận là người yêu nước.

Năm 1961, dưới thời hồ chí minh, Quốc Hội ở Hà nội ban hành Nghị quyết 49 / NQ / TVQH cho phép công an bắt nhốt mọi công dân vào Trại Cải tạo Tập trung trong 3 năm không cần án lệnh tòa án, không cần xét xử. Sau đó, việc tạm giam có thể được gia hạn đến vô thời hạn. Ngày nay, Võ văn Kiệt chấp hành tư tưởng hồ chí minh, ban hành Nghị Quyết 31 CP cho phép công an quản lý hành chánh tại gia mọi công dân bị tình nghi là thành phần nguy hiểm cho chế độ để tránh cho đảng và Nhà nước phí tổn giam giữ tập trung như trước.

Nhiều đảng viên, tức không kể đến toàn dân lương thiện, đã phải lên tiếng nguyền rủa « tội ác của chế độ này ( do Hồ Chí Minh lập ra ) thật nói không hết » (7) . Còn cựu Đại Tá Bùi Tín, nguyên Phó Tổng biên tập Nhựt báo Nhân Dân, phán xét từ tốn : « Đó là (đảng cộng sản và tư tưởng hồ chí minh ) một Bộ Máy đàn áp rộng lớn và tinh vi theo kiểu KGB lộng hành, bất chấp luật pháp và dư luận, chà đạp quyền tự do của công dân, khống chế con người và xã hội, tạo nên nỗi sợ hãi thường trực và dai dẳng … (8).

2- Tấm gương Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh suốt đời nêu cao tấm gương là người cộng sản chuyên chính, cho đến chết thì tìm đường đi gặp cụ Mác, cụ Lê (Di chúc). Noi gương Mao Trạch đông, ông luôn luôn giữ vững con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt nam. Ông không ngần ngại sao chép một cách máy móc « lý thuyết cách mạng không ngừng ». Ông tin tưởng theo Mao Trạch đông nên quả quyết sau cách mạng dân chủ nhơn dân, tức sau cuộc Cách mạng giành độc lập và Cải Cách Ruộng Đất, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Cải Tạo Trí Thức (vụ Nhân Văn Giai Phẩm), thì Việt nam phải tiến lên làm Cách mạng xã hội chủ nghĩa. Và cả hai cuộc Cách mạng nầy phải quan hệ nhơn quả với nhau và đều do đảng cộng sản lãnh đạo.

Hồ Chí Minh lúc nào cũng nêu cao tấm gương kiên quyết tin tưởng ở sự thắng lợi trên qui mô toàn thế giới của chủ nghĩa xã hội trước chủ nghĩa tư bản.

Vào đầu năm 1960, Trung quốc thực hiện chánh sách « Đại Nhảy Vọt ». Ở Việt nam, Hồ Chí Minh liền noi gương Mao Trạch đông đưa ra khẩu hiệu « tiến nhanh, tiến mạnh, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội ». Năm 1976, sau khi hai miền Nam Bắc thống nhứt theo cộng sản thì đảng cộng sản hà nội áp dụng trung thực tư tưởng hồ chí minh như tấm gương chánh trị qua khẩu hiệu lãnh đạo « tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội ».

Đến năm 1990, Liên-xô và Đông âu sụp đổ làm cho lòng tin sắt đá của Hồ Chí Minh trước kia rằng chủ- nghĩa- xã- hội phải toàn thắng, đã không thắng, mà còn tan tành thành mây khói.

Về kinh tế, Hồ Chí Minh nêu cao tấm gương làm đồ đệ ngoan ngoãn của Mao Trạch đông, thi hành chánh sách Hợp Tác Hóa Nông nghiệp ở Việt nam ngay sau khi nắm được chánh quyền ở Miền Bắc « các Hợp Tác Xã dưới sự lãnh đạo của đảng phải trở thành những đội quân vững mạnh của nông dân lao động, trong cuộc phát triển sản xuất » (9). Dứt khoát, như Trung quốc, Hồ Chí Minh không chấp nhận mọi hình thức « khoán » với nông dân để giữ sản xuất gia đình và cá thể, có khả năng giải quyết nhu cầu lương thực tối thiểu hằng ngày cho người dân, nhứt là nông dân .

Đến cuối đời, Hồ Chí Minh còn nêu cao « tấm gương chết sống » với chủ nghĩa xã hội nên ông kiên định rằng chủ nghĩa xã hội là ngọn đuốc soi đường cho cả nước tiến lên. Ông dạy đảng viên cộng sản của ông « yêu Tổ quốc phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì Việt nam tiến lên chủ nghĩa xã hội thì Tổ quốc ngày một giàu mạnh thêm »(10). Sau khi chiếm được Miền Nam, đảng cộng sản hà nội lập lại lời dạy nầy của Hồ Chí Minh làm khẩu hiệu giáo dục toàn dân « yêu Tổ quốc là yêu chủ nghĩa xã hội ». Và ngày nay, đảng cộng sản vẫn còn giữ « tổ quốc xã hội chủ nghĩa ».

Năm 1959, phát huy tư tưởng xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh, trong một báo cáo về dự thảo hiến pháp, khẳng định « chế độ ta xóa bỏ các hình thức sở hữu không xã hội chủ nghĩa » làm cho nền kinh tế nhiều thành phần trước kia trở thành một nền kinh tế thuần nhứt sở hữu toàn dân » để tạo « nền tảng vững chắc cho chủ nghĩa xã hội và đẩy mạnh việc cải tạo xã hội chủ nghĩa » (11).

Không chỉ cải tạo nông nghiệp, Hồ Chí Minh vẫn thực hành lời dạy của Staline và Mao Trạch đông « cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với giai cấp tư sản trong công nghiệp ». Qua năm sau, Hồ Chí Minh hô hào phải làm một việc cần kíp, gấp rút là « cải tạo giai cấp tư sản dân tộc » (12). Nên nhớ từ ngữ « cải tạo xã hội chủ nghĩa » là sản phẩm của Mao truyền dạy .

Người thi hành chánh sách cải tạo công thương nghiệp ở Miền Bắc vào giữa thập niên 50 và sau nầy, ở Sài gòn, là Đỗ Mười. Tưởng nên nói thêm để biết về con người có thành tích lớn nầy. Đỗ Mười xuất thân làm nghề thiến heo và sửa cửa trước khi tiến lên làm Bộ trưởng,Thủ tướng và sau cùng, làm Tổng Bí thơ đảng cộng sản hà nội. Vào thời gian lần lượt đảm nhiệm những chức vụ lãnh đạo đất nước ấy, ông lại mắc bệnh tâm thần . Ban đêm, ông leo lên Cây Bàng hát nghêu ngao và cười nói một mình. Khi đánh tư sản, Đỗ Mười giải thích với cán bộ đảng viên thi hành chiến dịch rằng « bọn tư sản giống như lũ chuột cống ; khi thấy chúng nó lú đầu ở đâu thì phải đập cho nó chết ngay (theo lời kể lại của nhà báo Bùi Tín) .

Thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh tiếp tục theo gương Mao Trạch đông hô hào « để đạt mục đích công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, toàn dân ta phải ra sức thực hiện chánh sách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, nhằm biến nền kinh tế Miền Bắc ( vốn nghèo nàn, cực kỳ lạc hậu, thiếu mọi điều kiện làm công nghiệp nặng ) thành một nền kinh tế hiện đại trong vòng 10 năm » (13) ! Đưa ra quyết định nầy chứng tỏ Hồ Chí Minh không có một hiểu biết tối thiểu về kinh tế và, một cách tổng quát, không có một kiến thức cần thiết tối thỉểu về lãnh đạo, ngoài tài ngoan ngoản vâng lời Mao Trạch đông và Staline .

Cũng như về chánh trị, về kinh tế, Hồ Chí Minh vẫn là tấm gương sáng in bóng Mao Trạch đông. Dưới bút hiệu Trần Lực, Hồ Chí Minh hô hào « Việt nam nên áp dụng hoàn toàn kinh nghiệm xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa của Trung quốc » (14) .

Hậu quả về mặt kinh tế khi Hồ Chí Minh áp dụng rặp khuôn chánh sách cải tạo xã hội chủ nghĩa theo kiểu mao trạch đông đã đưa Việt nam lâm vào tình trạng ngèo đói, lạc hậu cực kỳ thảm hại và còn di hại như một nảo trạng của người cầm quyền ngày nay .

3- Con người Hồ Chí Minh

Cởi bỏ những huyền thoại do bộ máy tuyên truyền hà nội liên tục khoác lên người ông, Hồ Chí Minh sẽ hiện nguyên hình của con người thật, với nhiều tội ác hơn là đạo đức, gian xảo, láu cá, hơn là lương thiện .

Mang tên Nguyễn Ái Quốc, thật sự không phải tên hay xước hiệu của mình nhưng không bao giờ ông chịu đính chánh. Ông còn không ngần ngại lấy những câu nói của các danh nhân làm cho mọi người hiểu như của ông, như « dân chủ là chế độ của dân, do dân, vì dân » ; hoặc « vì lợi ích 10 năm trồng cây, vì lợi ích 100 năm, trồng người ». Sự gian xảo, bất lương nổi cộm của Hồ Chí Minh là lấy tập Thơ Tù làm tác phẩm của mình. Thế mà Hồ Chí Minh được cán bộ đảng viên tuyên truyền ông là người xưa nay khiêm tốn : « Bác không hề nói là của Bác ; chính cán bộ tình cờ phát hiện ra Bác là tác giả ». Người ta tin Hồ Chí Minh đủ can đảm làm việc nầy vì ông đã viết sách chỉ nhằm tự đề cao chính mình dưới bút hiệu Trần Dân Tiên, trong lúc ấy, ông vẫn từ chối khi cán bộ yêu cầu Bác hãy viết hồi ký về đời hoạt động cách mạng của Bác ! Trước sự từ chối của Bác, cán bộ đảng viên không ngớt cất lời ca ngợi Bác luôn luôn là người khiêm tốn !

Về đời tư, ông từng có vợ chánh thức với người phụ nữ tàu Tăng Tuyết Minh, từng sống chung nhiều năm như vợ chồng với Nguyễn thị Minh Khai, lấy Nông thị Xuân có con, … thế mà Hồ Chí Minh vẫn nói được rằng « suốt đòi không vợ con để cống hiến trọn vẹn đời mình cho quốc gia, dân tộc ».

Hồ Chí Minh nếu có lấy vợ, sống bình thường như mọi người và phục vụ đất nước không phải là điều xấu. Hơn thế nữa, Ông có thể có nhiều tình nhân, lấy nhiều người đàn bà không chánh thức, như phần lớn cán bộ cộng sản cao cấp từ trước đến giờ, miễn không lợi dụng chức quyền o ép ai, thì người đời vẫn chấp nhận điều đó một cách bình thường. Nói dối, gian xảo mới là điều xấu, bị người đời khinh bỉ.

Kết luận

Xét tấm gương tư tưởng đạo đức hồ chí minh không gì hơn bằng kiểm điểm lại hành động của Hồ Chí Minh trong suốt thời gian ông lãnh đạo cuộc chiến tranh ở Việt nam, đến khi nắm được chánh quyền ở Miền Bắc, và hậu quả của chánh sách chuyên chính vô sản do ông chọn lựa không suy nghĩ kéo dài cho đến ngày nay trên cả nước.

Nhằm đạt mục tiêu xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh đã sát hại hằng triệu sanh mạng đồng bào một cách oan uổng. Việt nam có nhiều cơ hội tranh thủ được hòa bình không phải bằng chiến tranh khốc liệt kéo dài, nhưng hòa bình ấy sẽ không có chế độ cộng sản toàn trị, nên Hồ Chí Minh đã nhiều lần từ khước. Trong gần đây, 30 – 04 – 1975 đã là cơ hội tốt đẹp để người cộng sản thực hiện hòa giải dân tộc thật sự, tránh thêm cho đồng bào thảm cảnh chết chóc hằng nhiều vạn người, đủ thành phần xã hội, đủ lớp tuổi, trên biển cả, trong rừng sâu, gia đình ly tán, nhà cửa tan nát, xã hội tê liệt, …Người cộng sản đã không làm mà quyết tâm trả thù giai cấp, không xem đó là đồng bào, cũng chỉ vì trung thành noi theo tấm gương « chuyên chính vô sản hồ chí minh », thực hiện tư tưởng hồ chí minh .

Làm theo « tấm gương tư tưởng hồ chí minh » trong việc xây dựng đất nước là một thất bại hiển nhiên . Việt nam vẫn tụt hậu, và ngày nay, vẫn hoàn toàn không phải là một chề độ «của dân, do dân, vì dân ».

Nhận xét tổng kết, sự nghiệp của Hồ Chí Minh là « nhốt cả dân tộc vào cái rọ chuyên chính vô sản về mặt chánh trị, và đem lại nghèo đói, lạc hậu, nhân tâm ly tán, xã hội băng hoại, đạo lý suy đồi, về mặt kinh tế xã hội » (15).

Đó là tấm gương trung thực hồ chí minh !

Ai có thể nhìn thấy ở Hồ Chí Minh một tấm gương khác hơn để học tập và làm theo, nhưng xin đừng nhái lại những luận điệu tuyên truyền dối trá của đảng cộng sản còn lưu hành ở Việt nam ngày nay chỉ nhằm thần thánh hóa Hồ Chí Minh ?.

Ôi ! Giấc mơ chỉ của một nhóm người mà đã biến thành cơn ác mộng của cả một dân tộc !



Nguyễn văn Trần



Ghi chú :

(1) Võ Nhơn Trí, Việt nam cần đổi mới thật sự, Đông Á, Vancouver, Canada, 2003

(2) Nguyễn Minh Cần, đảng cộng sản việt nam qua những biến động trong Phong trào cộng sản quốc tế, Huê kỳ, 2001)

(3) Pierre Brocheux, Ho Chi Minh, Paris, 2000

(4) Võ Nhơn Trí, Việt nam cần đổi mới thật sự, Đông Á, Vancouver, Canada, 2003

(5) Hồ Chí Minh, Toàn Tập, X, Hà nội

(6) Hồ Chí Minh, sđd

(7) Nguyễn văn Trấn, Viết cho Mẹ và Quê Hương, Văn Nghệ, Huê kỳ, 1991

(8) Bùi Tín, Mặt Thật, Huê kỳ, 1993

(9) Hồ Chí Minh, Toàn Tập, II, Hà nội

(10 ) Võ Nguyên Giáp, Tư tưỏng hồ chí minh và con đường cách mạng việt nam, Hà 2000

(11 ) Hồ Chí Minh Tuyển Tập, Hà nội, 1980

(12 ) Hồ Chí Minh Tuyển Tập, sđd

(13 ) Vô Nhơn Trí, trich dẩn trong Việt nam cần đổi mới thật sự, sđd

(14 ) Trần Lực, Mấy kinh nghiệm trung quốc mà chúng ta cần học, Hà nội, 1952

(15 ) Lữ Phương, Thế Kỷ 21, Huê kỳ, 2001

mardi 7 août 2007

Hội Luận Về Hồ Chí Minh - phần 16

Hội Luận Về Hồ Chí Minh - Tên Việt Gian Số 1 Của Lịch Sử Việt Nam - phần 16

Đảng Cộng Sản Xiêm: Nước Mắm Việt Nam Dán Nhãn Hiệu Thái Lan!




Hồ Chí Minh - hình chụp lúc chập chững bước vào con đường làm Việt gian cho đế quốc Liên Xô.
Văn Kiện Đảng Tòan Tập bạch hóa và hệ thống hóa đỉnh cao Việt gian của đảng cộng sản



















Tài liệu của UNESCO cho thấy Việt gian cộng sản "đề nghị"
UNESCO vinh danh Việt gian Hồ Chí Minh là danh nhân văn hóa chứ không
phải UNESCO tự ý vinh danh Việt Gian Hồ.
Phần 16 hội luận về Hồ Chí Minh nói về về việc Hồ thi hành lệnh của Quốc Tế Cộng Sản để đến Thái Lan, Mã Lai nhằm thành lập đảng cộng sản Thái và Mã Lai. Hồ tảo tần ngược xuôi từ Nam chí bắc Thái và Mã Lai không phải vì cách mạng Việt Nam mà vì quyền lợi của Liên Xô giao phó trong sự nghiệp bành trướng ảnh hưởng chủ nghĩa cộng sản vào vùng Đông Nam Á. Dĩ nhiên, Hồ luôn luôn lãnh lương của QTCS để thi hành công tác này. Tại sao chúng ta lại gọi đang cộng sản Xiêm là nước mắm Việt Nam dán nhãn hiệu Thái Lan? Hòang Văn Hoan đã kể lại việc thành lập đảng cộng sản Xiêm ra sao? Phản ứng của cán bộ cộng sản Việt Nam như thế nào khi bị Hồ kêu vào gia nhập đảng cộng sản Thái? Hãy đọc kỹ những đọan mà Hòang Văn Hoan kể lại việc thành lập đảng cộng sản Xiêm để thấy rõ bản chất tay sai và Việt gian của Hồ Chí Minh khi cặm cụi thực thi tất cả các nghị quyết và đường lối chính sách của đại hội Quốc Tế Cộng Sản lần thứ 6.
Ngòai ra chúng tôi cũng xin cám ơn anh John Nguyễn - một bạn đọc của VietnamExodus đã cung cấp cho chúng tôi tài liệu của Unesco nói về cái gọi là "danh nhân văn hóa" Hồ Chí Minh. Đọc kỹ tài liệu này chúng ta thấy rất rõ là đảng cộng sản Việt gian đề nghị với Unesco để vinh danh Việt gian Hồ Chí Minh chứ không phải Unesco quyết định độc lập trong việc vinh danh Hồ!!!! Đọc kỹ thêm se thấy Pháp và Ấn Độ cũng đề nghị vinh danh người của họ.
Trước sự phản đối của cộng đồng ngừoi Việt hải ngọai, Unesco đã hủy bỏ đề nghị của cộng sản Việt gian (thành viên chính thức của UNESCO) vinh dang Hồ Việt gian. Đây là một chiến thắng quan trọng và rất lớn của cộng đồng người Việt Hải ngọai. UNESCO đã không nghe theo thành viên chính thức của họ là Việt gian cộng sản mà nghe theo cộng đồng người Việt hải ngọai. Tài liệu này đã lật mặt nạ bản chất gian trá của bộ máy tuyên truyền của Việt gian cộng sản trong việc rêu rao rằng UNESCO vinh danh Việt gian Hồ!!!!. Xin quý bạn đọc theo dõi buổi hội luận.

Đọan 1

Tốc Độ 56K Modem
Lấy Xuống Máy Nghe
Xin bấm vào đây để nghe
Xin bấm vào đây để lấy xuống máy nghe

Đọan 2

Tốc Độ 56K Modem
Lấy Xuống Máy Nghe
Xin bấm vào đây để nghe
Xin bấm vào đây để lấy xuống máy nghe

Đọan 3

Tốc Độ 56K Modem
Lấy Xuống Máy Nghe
Xin bấm vào đây để nghe
Xin bấm vào đây để lấy xuống máy nghe

Đọan 4

Tốc Độ 56K Modem
Lấy Xuống Máy Nghe
Xin bấm vào đây để nghe
Xin bấm vào đây để lấy xuống máy nghe

Đọan 5

Tốc Độ 56K Modem
Lấy Xuống Máy Nghe
Xin bấm vào đây để nghe
Xin bấm vào đây để lấy xuống máy nghe

Đọan 6

Tốc Độ 56K Modem
Lấy Xuống Máy Nghe
Xin bấm vào đây để nghe
Xin bấm vào đây để lấy xuống máy nghe
Đọan 7
Tốc Độ 56K Modem
Lấy Xuống Máy Nghe
Xin bấm vào đây để nghe
Xin bấm vào đây để lấy xuống máy nghe

Đọan 8

Tốc Độ 56K Modem
Lấy Xuống Máy Nghe
Xin bấm vào đây để nghe
Xin bấm vào đây để lấy xuống máy nghe

Xin quý bạn đọc bấm vào đây để đọc tài liệu của UNESCO. (chú ý ở trang 17 của tài liệu viết rất rõ chính quyền Việt gian cộng sản đề nghị vinh danh Việt gian Hồ Chí Minh)

http://www.vietnamexodus.org/vne/modules.php?name=News&file=article&sid=2263

http://www.esnips.com/
http://www.esnips.com/ key: unesco

lundi 6 août 2007

Hồ Chí Minh đưa Mác LêNin vào VN (Nguyễn Văn Đằng. thành viên hội Nhân Dân Chống Tham Nhũng)

• Mở Hồ Sơ Cũ
Hồ Chí Minh đưa Mác LêNin vào VN (Nguyễn Văn Đằng. thành viên hội Nhân Dân Chống Tham Nhũng)

Đêm giữa ban ngày : giết vợ bịt miệng- VTH

Đêm giữa ban ngày - VTH

Một vụ án mạng liên quan đến HCM: giết vợ bịt miệng !
Đêm giữa ban ngày, ch 34
http://dactrung.net/truyen/noidung.aspx?BaiID=uE5lKxEEpl1ZHH6WVhyEHA%3d%3d




Cùng một lúc cửa sổ các nhà-xà lim theo nhau đóng sập lại rầm rầm, tiếng lính gác chạy sầm sập. Sau đó là im lặng hoàn toàn. Chỉ còn tiếng gió hú trên đồi, quanh quất giữa bàn cờ những ô biệt giam.

Xà lim tối om. Tôi rón rén bước ra phía cửa ra vào để nhìn qua lỗ thủng ra ngoài.
Thường cho tù ra đi cung người ta không đóng hết mọi cửa sổ mà chỉ đóng ở những nhà nào có tù đi ngang. Khi các cửa sổ bị đóng hết có nghĩa là sự kiện bất thường. Tôi phải chờ một lúc mới nghe tiếng cánh cổng tôn rên rỉ mở ra xa xa, tiếng đế giày sàn sạt trên sỏi, rồi mới tới đoàn người. Ði đầu là những tên bảo vệ lăng xăng. Theo sau chúng là các quan chức líu ríu vây quanh một nhân vật bệ vệ. Tôi nhận ra bộ trưởng Bộ Nội Vụ Trần Quốc Hoàn.

Ðây là lần thứ hai kể từ khi bị giam tôi nhìn thấy tên Béria(1) của Việt Nam.
Lần đầu là ở sân Hỏa Lò, lúc Huỳnh Ngự lấy tôi đi cung. Cũng một đoàn rầm rộ như thế này. Hoàn đi thẳng một mạch từ cổng vào tới khu ngách trái của Hỏa Lò, gần nơi diễn ra những cuộc hỏi cung. Tôi đoán Hoàn vào giải quyết chuyện gì đó trong vụ chúng tôi. Sau này, cha tôi tính ngày tháng để nhớ lại, ông nói có lẽ đó là hôm Hoàn vào gặp ông để yêu cầu ông chấm dứt cuộc tuyệt thực kéo dài đã mười ngày. Gương mặt lầm lì, cái nhìn vô cảm, nhân vật thứ hai trong ngành chuyên chính vô sản sau Lê Ðức Thọ gợi nghĩ tới một con sâu róm. Khi tôi đi ngang, Hoàn liếc xéo tôi, như nhìn một con vật trong đàn gia súc.

Cuộc đi thăm của Hoàn lần này chắc chắn liên quan tới vụ chúng tôi. Bất Bạt là trại không thuộc quyền Bộ Nội Vụ. Hoàn tới đây hẳn lại để gặp ai đó trong số những tên tù cao cấp bướng bỉnh. Chứ không phải để gặp những tên tù lèm nhèm như tôi. Tôi thuộc loại con sâu cái kiến, loại không được các đại quan tính đến.

Hình như bất cứ người cầm bút nào cũng có lần gặp trạng thái kỳ cục này : mạch văn đang trôi chảy bỗng ì ra khi gặp một nhân vật mà ngòi bút khước từ không muốn viết về nó. Chuyện đó đã xảy ra với tôi khi tôi đụng tới Trần Quốc Hoàn. Tôi đã tính bỏ, không viết về Hoàn nữa. Y không xứng đáng được nhắc tới trong cuốn sách, bởi y không có quan hệ trực tiếp với tôi trong quá trình vụ án, Hoàn không có vai trò trong câu chuyện tôi muốn thuật lại cùng bạn đọc. Trong vụ án này, mặc dầu tên Trần Quốc Hoàn được ghi như một trong những nhân vật chủ chốt, Hoàn chỉ là tay sai cho Lê Ðức Thọ. Tay sai là tay sai, cho dù có là bộ trưởng. Thế nhưng nghĩ đi nghĩ lại tôi thấy vẫn phải viết. Bức tranh xã hội Việt Nam vào thập niên 60 thiếu Hoàn sẽ mất đi một mảng điển hình.

Tôi không có lần nào tiếp xúc riêng với Trần Quốc Hoàn. Cùng ngồi tù với cha tôi ở Sơn La, nhưng Hoàn không nhập được vào khối các cựu tù nhân bè bạn với cha tôi. Những người này sau Cách mạng Tháng Tám vẫn thường qua lại thăm nhau. Hoàn chỉ tới ngôi nhà chúng tôi ở 65 Nhà Rượu đôi ba lần là cùng trong thời kỳ bí mật. Kháng chiến thành công rồi không bao giờ tôi thấy Hoàn tới nữa. Ðối với tôi điều đó có nghĩa Hoàn không thuộc số người mà cha tôi coi là bạn. Cha tôi phân biệt bạn và đồng chí. Những người cộng sản hiển nhiên là đồng chí, nhưng không hiển nhiên là bạn của ông. Bạn bè của ông đông, đủ loại, trong đó có nhiều người không phải là cộng sản, thậm chí có xu hướng trái ngược với cha tôi, như ông Tiến cố tôi đã có dịp nhắc tới ở trên, hoặc các ông Hoàng Văn Chí, ông Phan Tử Nghĩa, Nguyễn Văn ỏi... theo xu hướng xã hội. Mỗi khi gặp nhau họ tranh luận ầm ĩ khi nhận định thời cuộc, cãi nhau về chủ trương, nhưng khi mẹ tôi đã dọn cơm lên thì bầu không khí lại trở về vui vẻ, nhộn nhạo tiếng cười và những câu nói đùa bất tận.

Khoảng đầu những năm 60 Trần Quốc Hoàn bỗng nổi bật lên như một tên mao-ít cuồng nhiệt, một hung thần xã hội chủ nghĩa. Khắp nơi, người ta xì xào về những lời tuyên bố của Hoàn, coi như Hoàn là cái phong vũ biểu cho thời tiết chính trị của đất nước. Hoàn được gán cho cái biệt hiệu "Béria của Việt Nam" chính là trong thời kỳ này, thời kỳ bắt đầu những cuộc tấn công hùng hổ và ầm ĩ vào chủ nghĩa xét lại hiện đại, không phải vì những cuộc bắt bớ (lúc đó chưa xảy ra) mà vì những lời dọa dẫm được hào phóng ban phát trên các diễn đàn. Tôi có lần hỏi cha tôi Trần Quốc Hoàn là người thế nào. Cha tôi có vẻ không bằng lòng câu hỏi của tôi.

- Con phải cẩn thận. - cha tôi càu nhàu - Tình hình nước ta không đơn giản. Nói động tới Trần Quốc Hoàn là nguy hiểm lắm đấy. Con đã ở Liên Xô thời kỳ Ðại hội XX, con thừa hiểu tình hình bên đó ngày trước là thế nào. Bố nói phải cẩn thận là trong ý nghĩa đó. Béria dù sao cũng còn là một hạ sĩ quan trong quân đội Nga hoàng, còn có học đôi chút, chứ Trần Quốc Hoàn thì hoàn toàn vô học. Hồi Sơn La anh em tù nhận xét hắn tham ăn tục uống, đã thế lại có tính tắt mắt, nhưng coi đó là khuyết điểm sinh hoạt, chỉ nhắc nhở hắn rồi bỏ qua. Trong đời thường mà thế, ắt trong công việc không thể đàng hoàng. Hắn tiểu nhân, mà đó là một tư chất đáng sợ. Hắn chấp nhặt lắm đấy. Và không từ việc gì không dám làm. Nhất là bây giờ hắn lại ở trong Bộ Chính trị, tuy là ủy viên dự khuyết, trên hắn lại có Lê Ðức Thọ đỡ đầu.

- Thế những người biết hắn đâu cả mà không ai dám can ngăn ?
Cha tôi thở dài :
- Hồi cuối năm 1954 các cố vấn Trung Quốc phát biểu không đồng ý cho bác Lê Giản lãnh đạo ngành Công an, cụ Hồ nghe theo. Sau đó ít lâu, một hôm ông Cụ có hỏi bố : "Chú thấy liệu Trần Quốc Hoàn có đảm đương được trách nhiệm bộ trưởng Bộ Công an không ?" Bố biết can cũng chẳng được, nên chỉ trả lời qua quít : " Tôi ở Sơn La với anh ấy mấy năm tôi biết, trình độ văn hóa cũng như trình độ kiến thức anh Hoàn này kém lắm. Mà trông nom một bộ quan trọng như Bộ Công an(2), theo tôi nghĩ, phải có người giỏi, có học thức, sao Bác không giao cho ai khác ?".

Người tiến cử Trần Quốc Hoàn nắm Bộ Công an là Lê Ðức Thọ. Trường Chinh tán thành. Ông Hồ hỏi ý kiến cha tôi cũng chỉ để tham khảo. Cho dù ông có thấy cha tôi nói phải ông cũng không nghe theo được. Còn cha tôi thì cho rằng để trả lời cho một câu hỏi của ông Hồ về nhân sự ông nói thế đã là nhiều. Thường ông kín đáo, không hay nhận xét về người này người khác. Không phải vì sợ hãi, hay nể nang, mà vì thận trọng.
Ông cho rằng con người ta lúc thế này lúc thế khác, không phải bất biến, lấy một giai đoạn mà nhận định cho cả cuộc đời con người là không nên. Ðấy là nói chung, chứ riêng trường hợp này ông không nói còn vì e ngại thế lực của Lê Ðức Thọ. Năm 1955, khi Cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức bị phát hiện sai lầm, Lê Ðức Thọ được thay Lê Văn Lương, thì thế lực Thọ đã mạnh. Cha tôi sợ, nói thẳng ra là như thế. Như một bệnh truyền nhiễm bắt đầu lan rộng, cái sợ không chừa cả ông. Cái khí phách còn lại của tinh thần nho sĩ chỉ còn lại ở chỗ ông đủ nghị lực để giữ mình không dây vào những việc làm bạc đức, một thứ khí phách mà vài thập niên sau được đặt tên là chủ nghĩa makeno.

Vào năm 1965, nhân người nhà một viên chức chế độ cũ bị bắt tìm đến ông nhờ ông can thiệp giùm, cha tôi nhận lời đi gặp Trần Quốc Hoàn. Cha tôi biết rõ người bị bắt, ông này là người đúng đắn, trước đã có công giúp đỡ cách mạng. Chắc hẳn do tính tình nóng nảy, không biết giữ gìn lời ăn tiếng nói mà ông này bị bắt. Lúc ấy cha tôi đã về hưu, không còn quyền chức gì để có thể trực tiếp giúp đỡ ông. Cha tôi đến với Trần Quốc Hoàn, nghĩ Trần Quốc Hoàn sẽ nể tình bạn tù cũ mà nghe ông xem xét lại vụ án. Nhưng ông lầm. Hoàn tiếp ông, hứa hẹn bâng quơ, nhưng rồi việc đâu bỏ đó.
Không giúp được người oan ức cha tôi rất buồn.

- Thằng lưu manh khó lòng trở thành người tử tế. - ông than phiền với ông Ðặng Kim Giang - Mình quá tin ở khả năng cải tạo của môi trường đối với con người, hóa ra không phải như vậy.

Ông Giang an ủi cha tôi :
- Cậu không giúp được người ta thì cũng đừng dằn vặt mình quá. Ai chịu trách nhiệm được thay kẻ khác ?
Ông Ðặng Châu Tuệ(3) hôm đó có mặt thở dài :
- Thời bây giờ khác trước rồi. Nghĩ nhiều đến số phận dân chúng lúc này là lạc hậu lắm, chúng mày ơi. Bây giờ người ta nghĩ tới những cái khác kia - cái chức, cái quyền, cái lợi. Cách mạng mà rồi thế này ư ? Tao ngấy đến tận cổ.
Tôi nghe được mẩu đối thoại ấy, nhưng tôi không nghĩ cha tôi nói theo nghĩa đen. Một nhà cách mạng làm tới chức vụ cao như thế sao lại có thể là một tên lưu manh được ?
Bộ Nội Vụ, trung thành với tính chất bí hiểm của nó, không hay tổ chức những cuộc gặp gỡ các nhà báo, nếu có thì chỉ là những cuộc họp báo hạn hẹp để nghe một cán bộ cấp vụ phổ biến chủ trương hoặc công bố kết quả một chiến dịch, một vụ phá án gián điệp chẳng hạn. Cho nên các nhà báo ít có dịp tiếp xúc với Trần Quốc Hoàn. Tôi chỉ thỉnh thoảng được gặp, nói cho đúng là nhìn thấy Hoàn, trong một số buổi khánh tiết long trọng, ở những cuộc đón tiếp ở địa phương mà tôi tình cờ có mặt. Trong các nhân vật lãnh đạo ở Việt Nam thời bấy giờ Trần Quốc Hoàn có bộ mặt khả ố nhất, theo tôi. Có thể người khác thấy Hoàn theo cách khác, nhưng tôi thì tôi thấy đúng như vậy. Hay vì Hoàn là bộ trưởng công an nổi tiếng tàn bạo mà tôi nhìn ra thế chăng ? Từ ngày Trần Quốc Hoàn lên làm bộ trưởng thì trên miền Bắc không có mấy gia đình không có người thân trong gia tộc ở tù.

Trần Quốc Hoàn thường xuất hiện cùng lúc với Lê Quốc Thân. Béo núc ních, cổ rụt, hai mắt ti hí, giống hệt một con lợn, là phó của Hoàn. Thứ trưởng Lê Quốc Thân được người ta biết đến như một tên bất nhân. Trần Quốc Hoàn còn học được vài đường đạo đức giả ở đàn anh Lê Ðức Thọ, chứ Lê Quốc Thân ngu độn chỉ biết kêu gọi dùng bàn tay sắt. Ðược Ðảng tâng bốc là thanh kiếm và lá chắn(4) chiến đấu vì sự nghiệp xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Ðảng, bảo vệ nhân dân, ngành công an Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Trần Quốc Hoàn và Lê Quốc Thân nhanh chóng trở thành một đạo kiêu binh. Ðến nỗi, những cán bộ công an có công tâm phải thốt lên :"Cái sự coi mỗi công dân là một tù nhân dự khuyết mở đầu cho một thời đại khốn nạn. Rồi đây chúng ta sẽ phải trả giá cho sự thất nhân tâm này". Tôi được nghe, được đọc một số bài nói chuyện với cán bộ ngành công an của Lê Quốc Thân. Những bài báo này, theo nhận xét của giới trí thức, vừa ngu xuẩn vừa sặc mùi bạo lực. Tôi là người yêu chủ nghĩa xã hội, và tôi lấy làm xấu hổ cho cái chủ nghĩa xã hội mà tôi theo vì những bài phát biểu thiếu văn hóa đó.
Khoảng từ cuối cuộc kháng chiến chống Pháp phương châm bắt nhầm còn hơn bỏ sót được người ta nói tới nhiều, như thể đó là đường lối tốt nhất để bảo vệ cách mạng. Tôi cũng là người chăm đọc sách mác-xít, nhưng trong những đoạn văn viết về chuyên chính vô sản tôi không thấy những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác nói tới một phương châm như thế. Bắt nhầm còn hơn bỏ sót là sự biện minh cho những hành động tùy tiện của nền độc tài. Nó cực kỳ giản tiện và vô cùng dễ chịu cho tên độc tài củng cố địa vị thống trị. Nó cho phép tên độc tài thoát khỏi mọi ràng buộc, vô trách nhiệm trước sinh mệnh đồng loại. Trên thực tế nó đã trở thành phương châm hành động của công an nhiều nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là các nước châu Á (ở các nước châu Âu, sau Ðại hội XX Ðảng cộng sản Liên Xô, tình hình đã có thay đổi theo chiều hướng dân chủ). Cán bộ thực hành chuyên chính vô sản tha hồ bắt oan, tha hồ giết oan đồng bào họ. Vạn nhất có bị phát hiện họ sẽ được chuyển sang công tác khác, được bảo hiểm không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Kết quả là không biết bao nhiêu thường dân vô tội trở thành nạn nhân của cái phương châm bất nhân bạc ác này. Mà nói thường dân làm chi, đến những cán bộ cấp khá cao như anh Tạ Ðình Ðề, nguyên đội trưởng Biệt động thành Hà Nội, cũng bị đem ra "làm thịt" theo chủ trương nói trên của Hoàn(5). Tôi biết Tạ Ðình Ðề từ năm 1949 khi học trường sĩ quan lục quân Trần Quốc Tuấn. Tôi ở đại đội 3, đóng bên đại đội Lê Hồng Phong gồm các sĩ quan cấp đại đội và tiểu đoàn về học khóa 6 trong chủ trương chính quy hóa quân đội. Tạ Ðình Ðề ở đại đội Lê Hồng Phong. Chúng tôi gặp nhau hàng ngày, tôi hiểu tính cách của anh. Anh là người có tinh thần đồng đội, lại thẳng thắn, không biết nịnh bợ. Trong triều đại Lê Duẩn những người có tính cách như thế trước sau cũng bị gạt ra khỏi guồng máy. Sau khi được trắng án, Hoàn và Thân còn nhiều lần mưu toan đưa anh trở lại nhà tù nhưng không thành công.

Ông Nguyễn Tạo, thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp, là phó tổng giám đốc Nha Công an Việt Nam thời ông Lê Giản làm tổng giám đốc, biết rõ tiểu sử Trần Quốc Hoàn.

- Bố anh không nói theo nghĩa bóng đâu. Nghĩa đen đấy. - ông trả lời thắc mắc của tôi - Chả là thằng này đích thực lưu manh, anh ạ.
Năm 1992, tôi rời Việt Nam lần chót thì ông Nguyễn Tạo còn sống. Tôi hi vọng ông còn sống lâu để có thể kể câu chuyện kỳ lạ này cho nhân dân nghe.

Không thể nào tưởng tượng nổi - một bộ trưởng, hơn nữa, một ủy viên Bộ Chính trị Ðảng cộng sản, lại là một tên lưu manh xuất thân ! Và tên lưu manh này đã đứng trên đỉnh cao quyền lực làm mưa làm gió nhiều năm trong bộ máy trấn áp của Ðảng. Cũng chính tên lưu manh này đã cùng "đại huynh" của nó thực hiện vụ hãm hại chưa từng có trong lịch sử đất nước những trung thần của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.
Câu chuyện ông Nguyễn Tạo kể được ghi lại như sau :

Trong một thôn nghèo bên một thị trấn heo hút thuộc miền núi Nghệ An có một đôi vợ chồng nghèo hiếm muộn, có độc một mụn con trai. Họ kiếm sống bằng nghề đi rừng kiếm dây leo về bện rế mang ra chợ bán, đắp điếm lần hồi, với hi vọng rồi đây đời con mình sẽ khá. Tuy nghèo khổ, hai người vẫn ăn nhịn để dành cho con trai theo học trường tiểu học phố chợ. Thằng bé loắt choắt được bạn cùng lớp gọi là Cảnh con, không đến nỗi quá tối dạ, khốn nỗi cũng chẳng thông minh, học thì lười, ăn cắp thì chăm.

Lớn lên một chút Cảnh con nổi tiếng cả thị trấn và một vùng xung quanh về tật ăn cắp vặt. Học đến cours préparatoire(6) thì bị đuổi học vì hạnh kiểm xấu. Từ đó Cảnh con lêu lổng như một con mèo hoang. Nhà nào sơ hở là nó lẻn vào, cuỗm của họ từ cái quần lót cho tới cái nồi đồng. Bị bắt, bị đánh, năm ngày ba trận, nhưng nó vẫn chứng nào tật nấy, càng ngày càng lì, càng trở thành bất trị. Cha mẹ nó bị xóm giềng chửi bới, nguyền rủa, bị bắt đền, bị đe dọa. Ðứa con hư trở thành gánh nặng, thành nỗi khổ tâm không sao thoát khỏi của đôi vợ chồng nhà nọ. Nỗi giận dữ của dân phố chợ nhằm vào Cảnh con cũng ngày một tăng lên. Rồi tới một lúc không ai còn có thể chịu nổi nữa.
Họ gặp may. Ðúng lúc có người mộ phu tới, viên trưởng thôn liền hớn hở giao ngay thằng ăn cắp oắt con cho họ. Vừa được tiền, lại vừa nhẹ mình. Thường người đi phu được lĩnh ở thầy ký mộ phu một khoản rõ ràng, khoảng năm đồng Ðông Dương nhưng đám chức sắc ăn chẹn, người đi phu chỉ được lĩnh một nửa, có khi còn ít hơn. Chức sắc ở địa phương bao giờ chả muốn đuổi khỏi địa phương mình những phần tử thanh tích bất hảo, bây giờ ta gọi là làm trong sạch địa bàn.

- Lúc bấy giờ Cảnh con chừng bao nhiêu tuổi, thưa bác ? - tôi hỏi.
- Khoảng mười lăm, mười sáu. - ông Tạo đáp - Thời trước là tuổi đi làm được rồi. Cảnh con được đưa sang Lào, tới một vùng có mỏ vàng, làm phu. Công việc phu đãi vàng rất đơn giản : đào đất ở những chỗ có mạch vàng rồi đem ra suối đãi. Dụng cụ đãi là một cái chảo lớn, dân đãi vàng gọi là pa-tê.

- Công việc phu đãi vàng ngày trước có khó nhọc lắm không, thưa bác ?
- Làm phu tất nhiên là khổ rồi. Nhưng phu đãi vàng cũng không đến nỗi khó nhọc so với phu mỏ, phu đồn điền. Cái khổ nhất của phu đãi vàng là bệnh sốt rét ngã nước. Họ sống rải rác trong rừng, từng tốp một, mỗi tốp vài chục người. Ðứng đầu mỗi tốp có một cai trông coi gọi là xú-ba-dăng(7). Tiếng là đãi cát ra vàng, nhưng lương phu thấp lắm, chỉ đủ sống, ít có ai hết giao kèo còn dành được tiền mang về nhà. Người đi phu thường không có ý định quay về - ở nông thôn thời bấy giờ còn khổ hơn đi phu. Anh đọc Tắt Ðèn rồi chứ ?

- Thưa, đã.
- Nông thôn lúc bấy giờ đúng như cụ Ngô Tất Tố tả. Nhiều người còn đi phu xa hơn, sang tận Nouvelle Calédonie hoặc Nouvelles Hébrides(8), ta gọi là Tân Ðảo và Tân Thế Giới, làm công nhân khai thác kền ở Chiepagui...
Các đồng chí ta ở Thái Lan lúc bấy giờ đã có Thanh niên Cách mạng Ðồng chí Hội hoạt động tương đối mạnh. Chính quyền Thái đối đãi với Việt kiều cũng nhẹ nhàng, họ không gây khó dễ cho các tổ chức cách mạng Việt Nam mà họ thừa biết là có cơ sở rộng khắp trên đất họ. Có thể nói đó là sự ủng hộ đáng quý. Cách mạng Việt Nam nhờ Thái Lan nhiều. Chỉ từ khi phái cực hữu Thái Lan lên nắm quyền thì cách đối xử với các tổ chức cách mạng Việt Nam mới xấu đi. Xét cho cùng, là lỗi tại mình. Ai lại nhờ đất người ta mà lại đi vận động dân Thái chống chính quyền ngay trên đất họ của họ. Thời kỳ mà tôi đang nói tới ngoài việc phát triển hội viên trong kiều bào tại chỗ, Hội Thanh niên cách mạng còn triển khai tổ chức của mình trong kiều bào ở Lào, Miên.

Khái niệm công nhân trong Hội Thanh niên bấy giờ rất đơn giản - bất cứ ai bán sức lao động chân tay đều là công nhân tuốt, đều là đối tượng để kết nạp vào Hội. Chứ đám phu đãi vàng đâu có là công nhân công nghiệp theo cách phân định thành phần của Mác, như các anh bây giờ hiểu. Vậy, các đồng chí Thanh niên cách mạng phát triển tổ chức vào đám phu mỏ vàng nọ. Người ta phát triển vào Cảnh con. Mà phát triển vào hắn cũng phải. Chỉ có mình hắn biết đọc biết viết trong đám phu mù chữ. Cảnh con thường viết thư thuê cho các bạn phu lấy tiền.

Chuyện bắt đầu từ đây. Ðồng chí phụ trách phát triển Cảnh con, tôi không nhớ tên, thiếu cảnh giác, trong lúc tâm sự con cà con kê đã nói với Cảnh con tên tuổi một số đồng chí. Tôi nghĩ anh này lo xa, lại có chút lãng mạn nữa - vạn nhất mình có bị địch bắt, có bị hy sinh thì Cảnh con còn biết người này người kia để liên lạc. Mấy đồng chí mà anh ta nói đến về sau đều bị bắt hoặc bị bắn chết trên đường rừng nằm trên biên giới Thái-Lào. Không ai biết vì sao họ bị lộ, nhưng Cảnh con sau đó cũng mất hút.

- Cảnh con bán các đồng chí cho Pháp ?
- Hồi ấy có nghi vấn như vậy. Nhưng không có bằng chứng. Nghi thì để bụng, vậy thôi. Nghe nói có đồng chí bị bắn, chạy thoát, lúc hấp hối có trối trăng lại, nói Cảnh con là tên phản bội.
- Sao họ không báo cáo tổ chức ?
- Một lời nói của một người không thể là bằng chứng. Vả lại, công tác cách mạng thì lu bu, có thể có ai đó đã báo cáo, nhưng người nghe báo cáo rồi cũng chết nốt chẳng hạn. Như tôi cũng chỉ nghe nói lại, mà không từ gốc, làm sao có thể báo cáo được. Ðến khi biết đồng chí Trần Quốc Hoàn ngày nay chính là thằng Cảnh con ngày trước thì những người biết hoặc có nghe việc này không dám nói nữa. Cảnh con đã ở trong Trung ương rồi, lại còn vào Bộ Chính trị nữa. Nói ra mất mạng như bỡn. Ðành nín lặng.

- Hồi ấy Cảnh con bỏ trốn vì sợ tổ chức biết ?
- Ðiều đó có thể lắm.
Sau khi Cảnh con trốn khỏi Lào, hắn trở thành một tên ăn cắp vặt ở các chợ Hà Nội. Theo lời những tên lưu manh già, trước đó có hồi Cảnh con còn đi theo một đám cướp ở Hải Dương, nhưng vì nhát gan nên bị chúng đuổi, không cho theo. Không còn đường nào, Cảnh con mới bò về Hà Nội, nhập vào đám móc túi, giật dọc. Nhưng ở trong đám này hắn ta cũng bị coi là một tên thuộc hạng bét, loại vét đĩa(9), như cách gọi của dân lưu manh bây giờ.

Ăn cắp ở quê còn được, chứ ăn cắp ở thành phố khó lắm, dân thì tinh, phú-lít(10) đầy đường. Nhưng không ăn cắp thì đói. Cảnh con mới xin nhập vào đám tiểu yêu cầm cờ đám ma, dưới trướng một tên anh chị ở phố Hàng Chợ Gạo. Bọn cầm cờ đám ma cũng là một dạng lưu manh, từ trong đám lưu manh chuyên nghiệp mà ra, như kiểu thầy tu xuất.
Mỗi băng cầm cờ thường được một nhà đòn(11) thu dùng. Trong số các nhà đòn hồi ấy có nhà Louis Chức rất nổi tiếng. Ðám tang do các nhà đòn thời trước ổ chức to lắm, sang lắm. Có minh tinh nhà táng xênh xang, màn che ngù rủ, ngựa cũng vận áo tang hai màu đen trắng, cũng đội kèn bú-dích(12) diễu hành trước linh cữu, trên xe tang ngất ngưởng một anh xà ích ăn vận chẳng khác gì đại tướng nhà ta bây giờ, theo đúng kiểu tây.

Tang chủ nào giàu có là có ngay băng cầm cờ đến xin phục vụ. Cách xin cầm cờ chúng thường là thế này. Mấy đứa lực lưỡng nhất bọn, xăm trổ đầy mình, mặt mũi bặm trợn, chít khăn tang hẳn hoi, kéo nhau đến gặp tang chủ. Lũ cô hồn xông thẳng vào nhà, quỳ lạy trước linh cữu, khóc lóc, kể lể, tuồng như trước đây chúng chịu ơn người quá cố, nay đến để giả nghĩa, xin được bảo vệ đám ma ân nhân. Tại sao lại phải bảo vệ ? Tại vì cụ nhà tuy ân dày đức trọng thật đấy, nhưng, chúng nó nói, thiên hạ trăm người trăm ý, cụ nhà có ăn ở tốt mấy cũng không phải là không có kẻ thù, chúng con biết có kẻ định bụng phá đám tang của cụ cho nên chúng con phải đến ngay, vì tình sâu nghĩa nặng với ân nhân ...

Tang chủ biết chúng nói láo, nhưng ngậm bồ hòn làm ngọt : không cho chúng cầm cờ thì chính chúng chứ chẳng phải kẻ thù nào sẽ phá đám, thôi thì đành để cho chúng "bảo vệ". Nghĩa tử là nghĩa tận. Công cầm cờ do vậy mà rất cao : một lá đại kỳ (cờ lớn) 1 đồng, cờ phướn từ 3 hào tới 4 hào (giá một tạ gạo hồi ấy khoảng 5 đồng, hơn 5 đồng một tí). Loại tiểu yêu như Cảnh con chỉ được cầm cờ phướn thôi, đại kỳ không đến lượt. Mà đã là tiểu yêu thì cũng chẳng được hưởng trọn tiền. Tang chủ cho năm hào thì đàn anh lấy ba, thương tình lắm cũng lấy hai. Lại nữa, không phải ngày nào cũng có đám tang nhà giàu để được cầm cờ. Chưa kể đến chuyện băng cầm cờ Hàng Chợ Gạo còn phải giành giật, tranh khách với băng cầm cờ chợ Ðồng Xuân và những băng khác. Nói tóm lại, Cảnh con sống dặt dẹo, bữa no bữa đói, khổ sở lắm.

Tình cờ một hôm Cảnh con đọc mục rao vặt trên báo Ðông Pháp thấy nhà in Tân Dân tìm thợ sắp chữ, mừng quá, bèn ba chân bốn cẳng chạy đến xin việc. Chủ nhà in sát hạch thấy được, mới cho vào làm. Tôi nhắc lại : thời thuộc địa dân mình ít học lắm. Trong làng đỗ được cái certificat đã là oai rồi, đã là thành phần trí thức rồi, đã được dân làng vị nể rồi. Thời kỳ tập sự, gọi là học việc, lương công nhân chẳng được là bao, giỏi lắm đủ ăn, nhưng cũng vẫn là có lương, còn hơn sống phập phù với bọn cầm cờ đám ma. Cảnh con ra sức làm, được chủ khen.

Nhưng chẳng bao lâu sau, chứng nào lại tật nấy, Cảnh con lại xoay ra ăn cắp. Ai cũng tưởng làm nhà in thì chẳng xoay xở được gì, ngờ đâu lại vớ bở. Chữ in làm bằng hợp kim antimoine, ta thường gọi là chữ chì, hồi ấy được dân đúc gang ở phường Ngũ Xã rất chuộng, mua với giá cao. Chả là đang lúc Tây cấm nghề đúc đồng (đồng là nguyên liệu chiến lược, mẫu quốc cấm dân thuộc địa đúc đồng để đưa về Pháp đúc đạn), cho nên dân Ngũ Xã phải quay ra đúc chảo gang. Chảo lớn thì phom(13) lớn, gang nóng chảy nguội quá nhanh thì chảo nứt, phải pha thêm một chút antimoine cho nó đông cứng chậm lại mới đúc được. Cảnh con liền ăn cắp chữ in đem bán. Trường Chinh hồi ấy cần chữ in cho báo Ðảng, cho người đi gặp Cảnh con để mua, nhưng hắn ta không bán. Một kí lô chữ in bán cho dân Ngũ Xã được sáu đồng, người của Trường Chinh chỉ trả có năm với lại năm rưỡi, đời nào hắn bán. Thằng Cảnh con này khôn như rận".

- Nghĩa là vào thời kỳ Mặt trận Bình dân Cảnh con không hoạt động gì cho cách mạng ?
- Hoạt động gì trong khi nó còn bận ăn cắp ?!
Ði đêm lắm có ngày gặp ma, Cảnh con bị bắt quả tang trong lúc trên vai còn cả bị chữ in. Chả là nhà in mất nhiều chữ quá, xót của, mới thuê thám tử tư đi điều tra. May cho Cảnh con, hắn bị tống ngục trúng lúc Mặt trận Bình dân vẫn còn cầm quyền. Thời kỳ này, sau cuộc đi thăm Ðông Dương của các nghị sĩ cộng sản và xã hội, nhất là sau cuốn Ðông Dương Cấp Cứu của bà André Viollis, các lực lượng phái tả của Pháp lên án mạnh chính quyền thuộc địa trong việc giam giữ tù chính trị, cho nên chế độ sinh hoạt cho tù chính trị được cải thiện hơn trước nhiều.

Không biết được ai mách giúp bảo giùm mà thằng ăn cắp chữ in liền khai với Sở Liêm Phóng rằng hắn là nhà ái quốc, chữ in hắn lấy là để cho các tổ chức cách mạng in báo, in truyền đơn. Cảnh con chắc khai cũng lăng nhăng lắm, hắn có liên lạc với ai đâu mà bảo hoạt động. Thế mà hắn được đưa sang bên chính trị, mới lạ. Tại Sơn La hắn nói với tổ chức Ðảng rằng hắn là người trong tổ chức, viện tên những đồng chí Thái Lan trước đây đã kết nạp hắn (nay đã chết hết), xin được kết nạp lại. Tổ chức nhờ bên ngoài xác minh, thấy quả có những đồng chí tên tuổi đúng như vậy, bèn cho hắn sinh hoạt. Lê Ðức Thọ cũng kết tình thầy trò với hắn ta từ đó

- Chẳng lẽ Trường Chinh hoặc những đồng chí gần Trường Chinh không nhớ chuyện Cảnh con từ chối không bán chữ in cho họ ?
- Nhớ thì cũng thế thôi. Có lục chuyện ấy ra Cảnh con cũng thiếu gì cách chống chế. Nguyên tắc bí mật chẳng hạn, chưa bắt được liên lạc thì biết ai là ta ai là địch. Theo nguyên tắc đó Cảnh con có quyền không biết Trường Chinh là ai, nói gì người của Trường Chinh cử tới gặp. Sau, Cảnh con đã làm to rồi, có ai biết chuyện cũ cũng im thin thít, không dám hó hé. Chỉ tội bọn lưu manh tép riu, hồi Cách mạng Tháng Tám chúng bị giết vô số kể, là lệnh của Trần Quốc Hoàn đấy.
- Hoàn muốn bịt miệng những người biết quá khứ của hắn ?
- Tất nhiên.
- Hồi ấy ai nắm công tác tổ chức, thưa bác ?
- Chẳng có ai. Hoặc có thì cũng là phân công miệng với nhau, bảo nhau mà làm, mỗi người một mảng việc, mỗi người một địa phương. Ngay các chức vụ trong Trung ương cũng vậy, nhiều khi ới nhau mà giao, ai gần thì gọi. Nói chung là phải tự động giải quyết. Ðấy, như Văn Tiến Dũng đấy. Có hồi anh ta mất liên lạc với Ðảng, chẳng được tổ chức phân công việc gì, nhưng anh ta cứ đi các nơi xây dựng cơ sở, kết nạp đảng viên như thường. Cho tới khi bố anh đi tìm được thì Văn Tiến Dũng đã có sẵn một mớ chi bộ của anh ta rồi.
- Có phải hồi chú Văn Tiến Dũng đóng giả nhà sư không ?
- Ðấy là hồi sau, khi đã bắt được liên lạc. Phải công nhận Văn Tiến Dũng kiên trì cách mạng lắm. Chưa bắt liên lạc lại với đồng chí thì tự nghĩ ra việc mà làm. Văn Tiến Dũng đúng. Nhưng nếu bắt bẻ thì có cái chi không bắt bẻ được, Văn Tiến Dũng làm thế gọi là vô tổ chức, vô kỷ luật rồi, phải không ? Tổ chức Ðảng trong những năm ấy chẳng chặt chẽ gì. Vả lại số đảng viên bấy giờ ít lắm, đâu có như bây giờ, thêm được một người là quý. Là đảng viên trước đây có nghĩa là tù đầy, là máy chém...
- Bác nghĩ Cảnh con rồi sau cũng giác ngộ cách mạng ?
- Ai biết được ?! Cũng có thể là như thế - con người ta thay đổi.... Mà cũng có thể không... Tôi chỉ tin một điều : con người ta rất khó thoát khỏi bản chất của nó, khó lắm.
Tôi trách cha tôi nhiều. Lẽ ra ông phải cho tôi biết những điều ông biết, nhưng ông đã lảng tránh.
Tôi nhớ một buổi chiều thu 1964, cha tôi đột nhiên bảo tôi :

- Con lấy xe đưa bố đi một lát.
Hôm ấy tôi có một cái hẹn, nhưng đành phải bỏ - trong gia đình tôi sự không tuân lời người trên là lỗi nặng. Ðành phải dịch cái hẹn sang ngày khác để đưa cha tôi đi. Ông ngồi sau chiếc Jawa 05 thấp tè, vốn không được thiết kế để chở hai người, hai chân khuỳnh khuỳnh. Nhưng ông chịu khó ngồi lắm, không kêu ca. Năm ấy cha tôi không còn đi được Mobylette nữa, dắt xe ra cửa, cái xe kéo ông theo làm ông ngã dúi dụi. Trước đó, khi còn làm ngoại giao có tiêu chuẩn xe hơi ông cũng chỉ đi xe Mobylette của riêng, do bạn bè ở Pháp gửi cho. Ông bảo : "Nước ta còn nghèo, xe cấp cứu cho đồng bào còn chẳng có, mình đi một mình một xe hơi làm gì, phí phạm !". Có hôm tới dự kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga ở đại sứ quán Liên Xô lính gác (Việt Nam) không cho ông vào chỉ vì ông đi Mobylette.

Cha tôi sai tôi chở ông lên đường Cổ Ngư cũ về phía Chèm. Tới dốc lên đê, ông bảo tôi dừng xe. Châm một điếu thuốc, ông chọn chỗ cỏ sạch để ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên ông.
Ráng chiều bắt đầu nhuộm đỏ mặt hồ Tây và một phần hồ Trúc Bạch. Gió nồng ẩm mang theo hương dong nước ngọt bị vứt lên bờ và hương lá mục ngai ngái.
- Con nhớ lấy chỗ này, quãng gốc cây thứ tư và thứ năm từ trên đê đổ xuống - cha tôi chỉ tay về phía trước - Nơi này đã xảy ra một tấn thảm kịch mà rồi đây con phải tìm hiểu để mà viết. Nó là tấn thảm kịch có tính chất tượng trưng cho một sự đổ vỡ lớn của một nền đạo đức và rộng ra, của một thời đại ...
Mắt cha tôi mờ đi. Giọng ông đứt quãng.
- Con không hiểu bố muốn nói gì ...
- Lúc này con không hiểu cũng được. Hiểu bây giờ vừa sớm, vừa nguy hiểm. Việc của bố là đánh động trí nhớ của con, bắt nó ghi lại một lời nói không rõ ràng để đừng quên, sau này ... Thôi, ta về.
Trên đường về nhà cha tôi không nói thêm lời nào nữa. Tôi cũng không dám hỏi. Nếu cha tôi đã không nói, có nghĩa là hỏi cũng vô ích.

Ông Nguyễn Tạo đã giải đáp cho tôi câu hỏi đó, nhiều năm về sau :
- Bố anh không muốn kể vì vào thời kỳ câu chuyện xảy ra bố anh không còn làm việc với Bác Hồ nữa, bố anh e mình không nắm rõ, không trực tiếp biết sự việc, không biết chi tiết, kể sẽ không đầy đủ, không khách quan. Hoặc giả, bố anh sợ anh biết câu chuyện quá sớm thì hại cho anh, tôi không rõ ... Nhưng bố anh muốn anh biết để có lúc anh sẽ phải viết ra. Bố anh bảo tôi kể cho anh nghe cũng không ngoài ý đó.
- Bác biết ?
Ông gật đầu :
- Không phải chỉ mình tôi biết. Còn có người khác biết. Số cán bộ công an ở cấp vụ trưởng hồi bấy giờ đều biết cả...
- Vậy chuyện gì đã xảy ra ở dốc Chèm, thưa bác ?
- Một vụ án mạng oan khuất.
- Ở chính nơi bố cháu chỉ cho cháu ?
- Ở đó. Có một người đàn bà bị xe cán chết, hay nói cho đúng hơn, xác của người đó.
- Một hiện trường giả ?
- Chính là như vậy. - ông ngậm ngùi - Người đàn bà này bố anh cũng biết, tên là Xuân, quê ở huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng. Cô Xuân rất xinh gái, da trắng nõn, miệng tươi như hoa, được Ban bảo vệ sức khoẻ Trung ương tuyển vào trông nom sức khoẻ cho Bác Hồ...
- Thời gian nào, thưa bác ?
- Sau khi hòa bình lập lại, khoảng năm 1955...
- Cùng được Trần Ðăng Ninh tuyển một lúc với cô Xuân còn có hai người em gái cô ta, một em ruột, một em họ, cũng là con cái gia đình gốc gác cách mạng cả. Họ được bố trí ở trong một ngôi nhà ở phố Hàng Bông Thợ Nhuộm, sát đường Quang Trung. Thông thường, Trần Quốc Hoàn tự thân đưa cô Xuân vào gặp Bác rồi đưa về...
- Mỗi lần như vậy bà ta ở lại bao lâu ?
- Không chừng. Có khi chỉ một đêm, có khi đôi ba hôm ... Cô Xuân rất được lòng Bác. Họ có với nhau một con trai, được đặt tên là Trung, Nguyễn Tất Trung. Về sau trước khi Bác mất Bác ủy thác thằng Trung cho Vũ Kỳ chăm sóc, coi như con nuôi...
Tôi sững sờ. Lại thêm một bí mật tôi được biết trong những bí mật cung đình được giữ rất kín.
- Như vậy, có thể coi như bà Xuân là bà hoàng hậu cuối cùng trong lịch sử Việt Nam ?
Ông cười chua chát :
- Có thể coi là như vậy. Và là bà hoàng hậu bất hạnh nhất trong lịch sử Việt Nam. Bất hạnh vì không một ngày được thừa nhận là hoàng hậu, vì đẻ ra đứa con không được gọi cha ruột của nó bằng cha... Tất cả diễn ra trong sự lén lút nhục nhã, như thể đó là tội lỗi.
- Ai đã giết bà Xuân ?
- Ðừng vội. Ta hãy ghi nhận sự việc này : vào một buổi sáng mùa xuân năm 1957, người ta thấy có xác một người đàn bà bị xe ô tô đụng chết ở dốc Cổ Ngư lên Chèm(14). Xác chết được đưa vào bệnh viện Việt Ðức, được nhận dạng. Ðó chính là cô Xuân. Nhưng xác không được mổ theo thường lệ, mà bị chôn cất vội vã, theo lệnh của Trần Quốc Hoàn.
- Tại sao lại Trần Quốc Hoàn ?
- Bởi vì cô Xuân là người của cơ quan trực thuộc Trung ương, việc xảy ra phải báo cáo ngay cho Trần Quốc Hoàn biết.
- Rồi sau thì sao ?
- Chưa hết. Sau, em ruột của cô Xuân bị điều đi học một lớp y tá ở Thái Nguyên, rồi bị đưa về Cao Bằng điều trị bệnh... thần kinh. ớt lâu sau xác cô nổi lên ở một cây cầu trên sông Bằng Giang... Cô em gái họ cũng biến mất. Như vậy là cùng một thời gian, cùng một sự việc, có tới ba người thiệt mạng.
- Những đầu mối đều bị bịt ?
- Tất nhiên. Nhưng những lý do dẫn tới những cái chết đã bị lọt ra ngoài.
- Về những cái chết này không có ai điều tra hết ?
Ông Tạo cúi mặt xuống.
- Không.
- Tại sao, thưa bác ?
- Tại vì thủ phạm là một nhân vật quá to để có thể đụng tới.
- Trần Quốc Hoàn ?
- Phải. - ông thở dài - Tất cả những người biết việc này đều có lỗi với hương hồn cô Xuân và hai cô em, tất cả đã không dám làm gì để rửa mối hận cho họ. Tất cả đã cúi đầu trước guồng máy, trước uy tín của Ðảng có thể bị mất đi vì vụ bê bối này. Mọi người đều lầm khi nghĩ như vậy...
- Vì sao Trần Quốc Hoàn giết bà Xuân ?
- Ðó là một câu chuyện dài. Khi Bộ Nội Vụ, vì công tác bảo vệ, bố trí cho mấy chị em cô Xuân ở ngôi nhà của Bộ ở phố Hàng Bông Thợ Nhuộm, thì chỉ có vài người biết họ là ai. Trong ngôi nhà này còn hai gia đình cấp vụ khác ở cùng. Thời gian trước khi cô Xuân bị giết ít lâu, Trần Quốc Hoàn thường tới đó. Việc Trần Quốc Hoàn tới thăm rồi cưỡng hiếp cô Xuân, cô em của cô Xuân biết, có nói lại cho người yêu của mình ở quê. Anh này về sau có làm đơn tố cáo gửi Trung ương.
- Và Trung ương im lặng ?
- Không phải anh ta gửi ngay lập tức. Ngay lập tức thì anh ta cũng bị giết ngay, mà mãi về sau này...
- Cụ Hồ không có ý kiến gì về mấy cái chết oan khuất đó ?
Ông Nguyễn Tạo đăm chiêu suy nghĩ.
- Có nhiều điều chúng ta không biết được. - ông nói, giọng bùi ngùi - Tôi nghĩ thân phận Bác lúc ấy cũng tội nghiệp lắm. Biết nói với ai ? Với Lê Duẩn chăng ? Hay Lê Ðức Thọ ? Hay nói thẳng với Trần Quốc Hoàn ? Tôi nghĩ Bác là con người, Bác cũng biết đau khổ. Nhưng cái thế của Bác buộc Bác phải im lặng...
- Nghĩa là, theo bác, ông Hồ không có lỗi ?
- Trong mấy cái chết nói trên ? Không.
- Nhưng sự im lặng trước cái chết của họ ? Ông Hồ cũng không có lỗi ? - tôi gặng - Bỏ ra ngoài mối quan hệ tình cảm, chỉ nói tới cái chết oan khuất của một con người, với tư cách đồng bào ?
- Thế hệ các anh khắc nghiệt trong sự phán xét. - ông thở dài - Tôi hiểu các anh. Các anh vô can. Chúng tôi thì không. Chúng tôi tự đặt mình trong sự ràng buộc với Ðảng, với những quyết định của nó, dù sai dù đúng. Chúng tôi lo lắng cho uy tín của Ðảng. Chúng tôi cảm thấy nhục nhã nếu Ðảng bị phỉ báng. Ðảng là cuộc sống tinh thần của chúng tôi, là danh dự của chúng tôi. Bác cũng vậy. Ông Cụ cũng đau đớn lắm chứ. Ông cũng là con người. Như mọi người. Các anh khác. Các anh chỉ nhìn thấy một lẽ công bằng, đòi phải có nó, đòi mọi sự phải sòng phẳng. Cái đó là phải thôi. Ðúng, chứ không sai. Nhưng có nên như vậy không nhỉ ? Hay là cần phải độ lượng hơn, thông cảm hơn với sự yếu đuối của con người ? Dù họ có là ai đi chăng nữa...

(1) Beria Lavrenti Pavlovich (1899-1953), đồng hương với Stalin, năm 1938 được Stalin giao cho phụ trách NKVD (tiền thân của KGB, Nha An Ninh Quốc Gia), phó chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Liên Xô năm 1941, vào Bộ Chính trị năm 1946. Tháng 12.1953 bị hành quyết vì tội phản bội tổ quốc.
(2) Bộ Nội vụ hiện nay. Khi mới thành lập ngành công an Việt Nam cơ quan này mang tên Nha Công an Việt Nam. Sau năm 1954, nó được đổi thành Thứ bộ Công an, rồi Bộ Công an.
(3) Một nhà cách mạng lão thành. Trong kháng chiến chống Pháp ông làm chủ tịch ẹy ban kháng chiến hành chính tỉnh Ninh Bình, sau 1954 làm tại Tòa án tối cao.
(4) "Kiếm và mộc" là biểu tượng của ngành công an Liên Xô.
(5) Tạ Ðình Ðề, chỉ huy trưởng Ðội Biệt động thành Hà Nội, nhân vật huyền thoại trong cuộc kháng chiến chống Pháp ở Liên khu 3. Sau chiến tranh ông làm giám đốc xưởng sản xuất vợt bóng bàn ngành đường sắt. Bị đưa ra tòa xử vì tội "chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa". Chưa bao giờ trong chế độ xã hội chủ nghĩa lại có một cuộc xử án mà quần chúng ủng hộ bị can kéo tới làm áp lực với Tòa đông đảo như trong vụ xử án Tạ Ðình Ðề. Ông được xử trắng án. Khi không buộc tội được Tạ Ðình Ðề "tham ô", Tòa hỏi Tạ Ðình Ðề tại sao lại thu nạp nhiều kẻ có tiền án tiền sự (tù được tha) vào xưởng của ông, Tạ Ðình Ðề thản nhiên trả lời :"Họ là những người đáng thương. Ai còn có tình người thì phải giúp đỡ họ".
(6) Lớp 2, hệ tiểu học thời Pháp thuộc, còn gọi là lớp dự bị, trên lớp Ðồng ấu (enfantin).
(7) Từ tiếng Pháp surveillant = giám thị.
(8) Hai quần đảo ở Nam Thái Bình Dương. Nouvelle Calédonie bị Pháp chiếm năm 1853, nay còn là lãnh thổ hải ngoại của Pháp. Nouvelle Hébrides bị Bồ Ðào Nha chiếm năm 1606, sang tay Anh và Pháp năm 1906, năm 1980 tuyên bố độc lập, đổi tên là Cộng hòa Vanuatu.
(9) Tiếng lóng của lưu manh : lính đú = loại lưu manh không chuyên nghiệp, đàn đúm theo đuôi); vét đĩa, lính vét đĩa, lính vét = loại lưu manh ở hàng cuối cùng, không đáng được tôn trọng.
(10) Từ tiếng Pháp police = cảnh sát.
(11) Như công ty dịch vụ mai táng ngày nay.
(12) Từ tiếng Pháp musique = âm nhạc.
(13) Khuôn, do chữ forme tiếng Pháp.
(14) Ông Nguyễn Minh Cần, vào thời gian đó là phó chủ tịch ỷy ban hành chính Hà Nội, phụ trách Văn giáo và Ngoại thành nhớ lại : " Hôm đó (vào mùa xuân năm 1957) tôi đang thường trực thì anh Nguyễn Quốc Hùng, thành ủy viên, tới báo cáo có vụ xe cán chết người trên đường Nhật Tân, công an báo cáo người bị cán đã là một xác chết. Anh em công an nói chiếc xe mang biển số của Phủ Chủ tịch... Mấy hôm sau tôi có hỏi anh Trần Danh Tuyên, bí thư thành ủy, về vụ này (theo phân công, anh Tuyên bí thư phụ trách công an), thì anh ta nói "Vụ đó giải quyết xong rồi ". Anh Nguyễn Quốc Hùng là cán bộ công an thời ông Lê Giản, sau bị Trần Quốc Hoàn đẩy ra ngoài. Theo anh Hùng cái chết này có uẩn khúc, anh nói cần phải tìm hiểu".




Đêm giữa ban ngày, Tự Bạch - VN thu quan
Bài viết Đêm giữa ban ngày Số lần đọc: 260796। Mục Lục ... Vũ Thư Hiên. Đêm giữa ban ngày. Tự Bạch. Tôi tặng cuốn sách này cho : ...vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n4nqntn31n343tq83a3q3m3237nvn - 65k

Đêm giữa ban ngày, Chương 28 - VN thu quan
Trong đêm giữa ban ngày Vũ khí trong tay Chỉ một ngọn bút cùn thay lưỡi mác Tôi ngã xuống trong lốc bụi chiến trường, Phút hấp hối còn mang mang nghe tiếng ...vnthuquan।net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n4nqntn31n343tq83a3q3m3237n1nmn&cochu= - 89k

Đêm giữa ban ngày - Vũ Thư Hiên - Diễn đàn X-cafe
Diễn đàn X-Cafe, chuyên thảo luận những vấn đề xã hội nóng hổi ở Việt Nam.www.x-cafevn.org/?q=node/51 - ३८क्

Ðặc Trưng
:::Vũ Thư Hiên:::. Ðêm giữa ban ngày Tự Bạch. Tôi tặng cuốn sách này cho : Những người con của nước Việt đã cống hiến đời mình ...dactrung.net/truyen/noidung.aspx?BaiID=BksGc76fRf4HtMCmh9ZmPg%3D%3D - ५८क्

RFA: Tập truyện ngắn "Trắng Trên Đen" do Vũ Thư Hiên chuyển ngữ
Nhà văn Vũ Thư Hiên tác giả Đêm Giữa Ban Ngày, tác phẩm được chú ý nhiều trong những .... Phạm Điền: Trở về với dịch giả, sau tác phẩm Đêm Giữa Ban Ngày, ...www।rfa.org/vietnamese/in_depth/2005/03/29/literature_VuThuHien_TrangTrenDenPDien/ - 27k

Doan Thanh Nien Hon Viet
Nhà văn Vũ thư Hiên đã từng có những nhận định vô cùng sắc sảo về bối cảnh "Đêm Giữa Ban Ngày" này, đó là: "Sinh ra là người Việt Nam, dù muốn, dù không, ...www।vietsoul.com/home/news/?forum=33&topic=7028

Do Manh Tri
Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên là một tác phẩm nặng ký về chất cũng như về lượng। Với gần 800 trang sách, tác giả cống hiến cho người đọc vô số những sự ...www.dunglac.net/domanhtri/ - 123k

Blog » Hồ Chí Minh Quan Hệ Tình Dục Với Nông Thị Xuân Như Thế Nào ...
... Trong cuốn sách “Đêm giữa ban ngày” của Vũ Thư Hiên, tác giả cho biết ông Hồ còn có quan hệ với một phụ nữ tên là Nông Thị Xuân, và sau này bị Trần Hoàn ...mynetshaq.com/blog/view/id_204/ - ४५क्

Nguyen Minh Can
Trường Chinh là con dê tế thần cho sai lầm của ông Hồ” (xem “Đêm Giữa Ban Ngày” của nhà văn Vũ Thư Hiên). Theo tôi, đúng là ông Hồ phải chịu trách nhiệm ...www.quocgiahanhchanh.com/xindungquen.htm - १०३क्

Xin Đừng Quên
Trường Chinh làcon dê tế thần cho sai lầm của ông Hồ" (xem "Đêm Giữa Ban Ngày" của nhàvăn Vũ Thư Hiên). Theo tôi, đúng làông Hồ phải chịu trách nhiệm chính, ...tuoitrendt.de/toiachcm.html - १०३क्

talawas Sophie Quinn-Judge - Cuộc đấu tranh hệ tư tưởng ngay ...
Được xuất bản ở Đức vào năm 1997 dưới tiêu đề Đêm giữa ban ngày, hồi ức của ông về vụ bắt ..... [14]Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày, nhất là đoạn từ 271-279। ...www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=6937&rb=0401 - 63k

HCM & dang CSVN: Tai hoa & ke thu lon nhat cua dan toc VN
Và vụ nhà văn Vũ Thư Hiên, tác giả “Đêm Giữa Ban Ngày – quyển sách gối đầu giường của tôi từ nhiều năm nay, cùng với quyển “Dắt Tay Nhau Đi Dưới Tấm Biển ...www.thienlybuutoa.org/Misc/HCM-CSVN-TaiHoaLonNhatChoNhanDanVN.htm - ११०क्