jeudi 14 juin 2007

HCM bị Lê Duẩn khống chế? (2006)

Hồ Chí Minh bị Lê Duẩn khống chế?
Minh Võ

Nhiều tác giả ngoại quốc cho đến đến nay hãy còn cho rằng ông Hồ là người ôn hòa “có lòng nhân ái”, hay ít nhất không có xu hướng dùng bạo lực. Chuyện đảng CSVN quyết dùng võ lực “thống nhất” đất nước, đẩy nhân dân vào lò chiến tranh khốc liệt gây thương vong cho hàng chục triệu người, theo những tác giả đó, là do nhóm Lê Duẩn chủ trương, mà ông Hồ không ngăn cản được vì thuộc thiểu số. Nói lên điều này có thể bị nhiều người đã quá hiểu ông Hồ chế riễu là ngây thơ hoặc kết tội “làm lợi cho CS”. Nhưng vì đây là ý kiến của số đông tác giả CS và ngoại quốc đã được ghi lại trong nhiều pho sách lớn, hiện nằm trong các thư viện và đại học ở Mỹ, nên thiết tưởng cũng nên đem ra mổ xẻ để chứng minh sự thực và tìm hiểu lý do của sự sai lầm hay xuyên tạc.

Trước hết hãy xét qua về tính tình và hành động của ông Hồ qua nhận xét của một số người ngoại quốc có dịp gặp ông. Không chỉ có những người Mỹ như Archimedes Patti, Charles Fenn, Gallagher hay anh chàng John nào đó mà cả những tác giả Pháp nổi tiếng như Bernard Fall, Jean Lacouture và Jean Sainteny... đều cho rằng Hồ Chí Minh là con người ôn nhu “ngọt ngào”. Sự việc ông hay khóc, hay ôm hôn nhi đồng, cởi áo khoác của mình tặng một sĩ quan Pháp (*) hay lấy áo len của mình cho một người lính đứng gác với mảnh áo phong phanh trong mùa đông (**) ... cũng được nhắc tới như biểu lộ của lòng nhân ái.

Ngay việc ông ký hiệp định sơ bộ 6/3/1946 với Pháp, việc ông giải tán đảng CS, lập chính phủ liên hiệp với phe đối lập không cộng sản và chống cộng sản, cũng được nhiều nhà báo và sử gia ngoại quốc coi như những bằng chứng về sự ôn hòa.

Thời ông còn sống có hai bản hiến pháp ra đời (1946 và 1959) đều không nói đến chuyên chính vô sản và độc quyền lãnh đạo của đảng CS. Nhiều người coi đó là những bằng chứng về sự ôn hòa của Hồ Chí Minh.

Từ lâu nhiều người đã nói đến tin Hồ Chí Minh gửi tặng Tổng Thống Ngô Đình Diệm cành đào có đính kèm thiệp chúc Xuân vào dịp Tết Quý Mão, 1963 và một loạt cử chỉ, hành động biểu lộ thiện chí muốn thương thuyết để giải quyết vấn đề thống nhất trong hòa bình. Khi giáo sư Francis Winters nhắc lại sự kiện này trong cuốn Năm Con Mèo thì cũng bị nhiều người cho là bịa đặt, hoặc hoài nghi. Cho đến khi luật sư Lâm Lễ Trinh tường thuật trên báo chí Quận Cam vào cuối năm 2005 về cuộc mạn đàm giữa ông và cựu đổng lý văn phòng của tổng Thống Diệm là ông Quách Tịnh Đức, thì chng ta mới biết đích xác đó là sự thực. Vì chính ông Đức đã xác nhận chuyện đó.

Nguyễn Văn Trấn, từng là một trong mấy cán bộ CS cao cấp nhất của miền Nam, sau khi phản tỉnh đã thuật lại trong cuốn “Viết Gửi Mẹ Và Quốc Hội” về thái độ của Hồ Chí Minh đối với Liên Xô và Bắc Kinh. Tác giả cho rằng Hồ Chí Minh theo đường lối “sống chung hòa bình” của Khrushchev, nhưng bị thiểu số, bị Lê Đức Thọ (đàn em của Lê Duẩn) khống chế. Ông trích dẫn lời Bùi Công Trừng tả cảnh ông Hồ chủ trì hội nghị trung ương lần thứ 9 ngày 11/12/1963 (chỉ hơn một tháng sau khi tổng thống Ngô Đình Diệm bị giết). Nguyên văn lời Bùi Công Trừng nói với tác giả:

“Mày coi, coi nó tội nghiệp không. Đồng chí Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu của chúng ta bận đồ lụa gụ, chủ trì hội nghị mà mặt day ra sân. Có lỗ tai tự nhiên nó phải hứng những lời công kích mạt sát Liên Xô. Khi chướng tai quá, quay vô, đưa tay để nói, thì thằng Thọ lễ phép Bắc Hà: “Bác hãy để cho anh em người ta nói đã mà.”

“Tao đếm lão Hồ, đưa tay mấy lần, lần nào thằng Thọ cũng kịp ngăn. Cuối cùng ông cũng cho hội nghị nghe, ông nói ca dao bằng tiếng khóc: Khi thương trái ấu cũng tròn. Khi ghét bò hòn cũng méo. Và ông nói xụi lơ: Thấy lợi người ta cho tên lửa vô; thấy bất lợi người ta rút ra mà!” (1).

Kết quả của hội nghị này là nghị quyết số 9, một nghị quyết tối quan trọng, mở màn cho cuộc tấn công miền Nam, sau khi tổng thống Ngô Đình Diệm, rồi tổng thống John F. Kennedy bị giết trong vòng 3 tuần lễ vào tháng trước. Hai vị tổng thống đều có chủ trương rút quân Mỹ khỏi miền Nam VN, mặc dù lúc ấy cũng chỉ mới có 16 ngàn lính Mỹ được tăng cường từ cuối năm 1962.

Có nhiều lý do để cho rằng cái chết bất thình lình của hai vị tổng thống nói trên đã khiến Trung Cộng thay đổi thái độ, thúc đẩy phe thân Trung Cộng trong Cộng Đảng VN phải tốc chiến tốc thắng, để đặt tình hình Nam Việt Nam trước một sự đã rồi, trước khi quân Mỹ chắc chắn sẽ đổ vào VN để Mỹ hóa cuộc chiến tranh này, khiến Trung Cộng sẽ không có cách gì tránh bị lôi vào vòng chiến với siêu cường Mỹ. Trước kia (ngay từ tháng 7 năm 1954) Trung Cộng đã tỏ ý không chống—mà còn có vẻ muốn giao hảo với chính quyền Ngô Đình Diệm (***) — Vì họ biết ông Diệm không phải là người muốn Mỹ hóa cuộc chiến tranh. Và có lẽ cũng vì muốn duy trì 2 nước Việt Nam hòng tránh phải đối phó với một VN thống nhất hùng mạnh và ương ngạnh.

Nay thì tình hình đã khác. Với những tướng lãnh chỉ biết theo lệnh Mỹ mới lên cầm quyền, miền Nam sẽ trở thành căn cứ quân sự của Mỹ trong nay mai. Lợi dụng lúc tình hình bất ổn ra tay trước để chiếm ưu thế là thượng sách. Người ta cho rằng đó là lý do khiến Trung cộng thay đổi chiến lược và những tay thân Trung Cộng, có xu hướng dùng võ lực tấn công Miền Nam chiếm ưu thế trong đảng CSVN.

Tuy nhiên bảo rằng ông Hồ không tán thành chủ trương của Trung Cộng, chỉ vì bị thiểu số mà tuân theo ý đồ hiếu chiến của nhóm Lê Duẩn, thì cũng không đúng. Muốn tìm hiểu ông Hồ có bị nhóm Lê Duẩn khống chế hay lấn át không, tưởng cần phải xem nguồn gốc của Lê Duẩn và trường hợp ông ta được đưa lên lãnh đạo đảng.

Lê Duẩn là người miền Nam, sinh tại Triệu Phong, thuôc tỉnh Quảng Trị liền dưới vĩ tuyến 17. Trong đệ nhị thế chiến, rồi trong kháng chiến từ 19/12/1946 đến 20/07/1954 ông ta đã 2 lần bị tù vì chống Pháp, tổng cộng 10 năm tại Côn Đảo. Đến khi cách mạng tháng 8 thành công, các đồng chí đã quên ông. Mãi mấy tuần sau mới rước ông về cho giữ một chức vụ kém quan trọng mà ông cho là bỉ mặt ông, coi thường thành tích đấu tranh trong quá khứ của ông. Vì vậy ông có vẻ hận những kẻ như Trần Văn Giàu, Nguyễn Bình và cả Võ Nguyên Giáp... Sau hiệp định Genève, Lê Duẩn tình nguyện ở lại nằm vùng để duy trì lực lượng và tiếp tục gây rối miền Nam. Ông được coi là người có óc tổ chức giỏi, mặc dù xuất thân từ một gia đình thợ mộc, học thức mới qua bậc tiểu học, từng làm việc bẻ ghi cho công ty đường sắt, nhưng nhờ chịu học hỏi trong những năm tù ở Côn Đảo, nên có một kiến thức khá sâu rộng về mặt tổ chức cách mạng. Nhờ thế, sau khi trung tướng Nguyễn Bình bị loại, (2) vào năm 1951, ông đã thay ông này lãnh đạo “Cục R”, là tổ chức trung ương của chi nhánh CS tại miền Nam một cách đắc lực.

Sau khi cải cách ruộng đất ở miền Bắc gây bất mãn trong nhân dân và trong nội bộ đảng, vì có quá nhiều đồng chí bị giết oan, tổng bí thư Trường Chinh bị ông Hồ cất chức. Lúc ấy ai cũng nghĩ ông Hồ sẽ cử tướng Võ Nguyên Giáp lên thay vì tướng Giáp là anh hùng Điện Biên, tên tuổi vang lừng chẳng những trong nội bộ đảng và nhân dân miền Bắc, mà trên khắp thế giới. Hơn nữa chính ông Hồ đã phải nhờ tiếng “thơm” của VNG để xoa dịu sự căm phẫn của nhân dân, bằng cách cử VNG đại diện đảng xin lỗi nhân dân vì những sai lầm trong CCRĐ. Nhưng có lẽ cũng vì tiếng tăm đó khiến ông Hồ đắn đo, không muốn để VNG lãnh đạo đảng, sợ rằng uy tín thế lực của VNG sẽ lấn át chủ tịch đảng. Vì thế ông Hồ đã đích thân kiêm nhiệm chức tổng bí thư đảng trong một thời gian.

Năm 1957, sau một thời gian vắn sinh hoạt tại miền Bắc, Lê Duẩn được ông Hồ cho tạm xử lý chức tổng bí thư. Thực ra lúc ấy Lê Duẩn chưa có tiếng tăm gì. Lại là người miền Nam, trong khi ban chấp hành trung ương đảng gồm đa số người Bắc (bắc vĩ tuyến 17). Cho đến đại hội 3 vào năm 1960, Lê Duẩn với sự giới thiệu của ông Hồ, mới được bầu vào chức bí thư thứ nhất của đảng, tương đương với chức tổng bí thư cũ của Trường Chính. Như vậy trong khi điều hành công việc đảng, Lê Duẩn sẽ phải dựa vào uy tín và sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh hơn, và do vậy sẽ phải trung thành hơn. Có người cho rằng đó chính là lý do Lê Duẩn được Hồ Chí Minh chọn. Nhưng cũng có người lại nghỉ, sở dĩ ông Hồ chọn Lê Duẩn vì Lê Duẩn có công và có kinh nghiệm với chiến trường và nhân dân miền Nam. Và, nhất là Lê Duẩn là người quyết tâm thực hiện thống nhất bằng bất cứ giá nào, kể cả cuôc chiến đẫm máu. Xem ra cả hai lý do đều có cơ sở.

Những ai thường nhắc đến chuyện ông Hồ luôn ôm ấp trong lòng chuyện giải phóng miền Nam, coi đó như ước nguyện cả đời ông, chắc phải đồng ý về lý do chọn lựa này. Chính ông Hồ đả chẳng thốt ra trong lúc bệnh nặng ở vùng Việt Bắc, trong cơn mê sảng rằng dù có phải đốt cháy hết dẫy trường sơn, cũng phải đánh đó sao? Ông đã chẳng nhiều lần hứa với nhân dân: dù có phải chiến đấu 5 năm hay mười năm, hai mươi năm hay lâu hơn nữa cũng nhất quyết đánh đó sao? Và như vậy những gì Lê Duẩn làm có thể bảo là đi ngược lại chủ trương đường lối của ông Hồ không?

Tuy nhiên có một sự kiện sau đây khiến phải suy nghĩ, được nhà báo Thành Tín kể lại trong cuốn “Vietnam, la face cachée du régime” và tác giả nói là ông có ghi âm trước nhiều nhân chứng khác. Đó là việc chính Lê Duẩn khoe khoang, cho rằng mình hơn ông Hồ. Lê Duẩn chê Hồ Chí Minh không dám chủ trương chiến tranh, chỉ dám có ảo vọng thống nhất bằng đường lối hòa bình. Đây mời bạn đọc theo dõi lời tường thuật của Bùi Tín mà chúng tôi tạm dịch sau đây:

“Một hôm ông ta (Lê Duẩn) khoe khoang trước những người được chính thức cử viết tiểu sử của ông ta – trong đó có tôi – : “Sau hiệp định Genève bác Hồ vẫn tiếp tục tin rằng tổng tuyển cử sẽ có thể xảy ra được trên toàn quốc. Đó chỉ là ảo tưởng. Tôi nhìn sự việc đúng hơn Bác. Tôi lập tức tiên liệu việc phải dùng tới bạo lực cách mạng. Tôi bảo các đồng chí miền Nam hãy chôn vũ khí. Chính tôi đã bảo họ để lại lực lượng tại miền Nam chứ đừng tập kết hết ra Bắc.” (3)

Đọc Bùi Tín thì thấy, tuy tác giả cũng có ý nghĩ ông Hồ đỡ hiếu sát hơn mấy đàn em, nhưng xem ra trong trường hợp này ông không tin Lê Duẩn, vì cho rằng Lê Duẩn hiếu danh vào hay khoe mẽ. Vả lại Lê Duẩn chỉ dám khoe sau lưng Hồ Chí Minh. Đúng ra ông Hồ đã chết được 14 năm rồi: Chuyện xảy ra năm 1983, chỉ còn 3 năm nữa đến lượt Lê Duẩn theo “bác” đi gặp Các Mác và Lênin.

Vũ Thu Hiên thì trưng dẫn lời của thân phụ ông là Vũ Đình Huỳnh từng là người rất thân cận của ông Hồ cho rằng ông Hồ không chủ trương dùng bạo lực. Và còn muốn người ta xét ông Hồ một cách công bình (4). Nói về Lê Duẩn, tác giả Đêm Giữa Ban Ngày viết: Không có chiến tranh, Lê Duẩn không còn là Lê Duẩn. Lê Duẩn chẳng ngần ngại chê bai Hồ Chí Minh không dám chủ trương dùng bạo lực giải phóng miền Nam. “Bác còn do dự, chớ khi rời miền Nam tui đã chuẩn bị hết cả rồi. Với tui chỉ có uýnh thôi, uýnh cho tới thắng lợi cuối cùng” (5).

Tôi đã trưng dẫn Nguyễn Văn Trấn, Bùi Tín, Vũ Thư Hiên. Cả ba người đều đã phản tỉnh vì chán ghét chế độ CS. Nhưng cả ba đều xem ra hãy còn nghĩ ông Hồ không chủ trương bạo lực. Như vậy khỏi cần đọc các tác giả CS khác vì họ cũng không nói khác được. Chính vì vậy mà những nhà khoa bảng và học giả Tây Phương khi viết sách về Hồ Chí Minh, phần nhiều chỉ dựa vào những nhận xét tương tự để viết. Không lạ gì hầu hết đều khen ông Hồ khoan hòa, nhân ái và không chủ trương bạo động. Vậy chuyện hiếu chiến, quyết dùng chiến tranh tàn bạo để “thống nhất” phải là chuyện của đàn em ông Hồ đứng đầu là Lê Duẩn, được sự trợ tá đắc lực của Lê Đức Thọ, người Bắc (Nam Định),

Với tất cả những gì được trình bày từ đầu, xem ra lập luận trên có vẻ xác đáng.

Nhưng mổ xẻ kỹ từng vụ việc người đọc sẽ thấy không hẳn như vậy.

Trước hết, xin nhắc lại lời ông Hồ trả lời cho ông Vũ Đình Huỳnh là thân phụ của nhà văn Vũ Thư Hiên hồi mùa thu năm 1946 tại Paris khi ông Huỳnh hỏi ông Hồ tại sao lại có thể khóc một cách dễ dàng như vậy tại nghĩa trang Père Lachaise. Ông Hồ trả lời: “Làm chính trị thì phải biết cười khi cần cười, biết khóc khi cần khóc.” Ông Hồ đã khóc rất nhiều lần. Với ông Nguyễn Hải Thần. Trước nhân dân sau khi ký hiệp định sơ bộ 6-3-1946...Nước mắt của nhà chính trị khác nước mắt người thường ở chỗ nó không chân thật. Nói cách khác là một kịch cảnh. Nhưng nó lại giống hệt như thực lòng.

Cũng tương tự như vậy, khi ông cười nói nhẹ nhàng giản dị đơn sơ có vẻ đầy tình người với những Patti, Fenn, Gallagher, hay Lacouture, Bernard Fall, Sainteny hay Wilfred Burchett, hay Danielle Fitzgerald... hay bất cứ nhà báo nào khác, hoặc khi ông cố tình đi dép ăn mặc sơ sài từ ngoài vào tiếng chân nhẹ nhàng (như lụa, chữ của Lacouture) trong khi nhà báo đang bàn luận nghiêm túc với thủ tướng Phạn Văn Đồng về những vấn đề quan trọng. Rồi điềm nhiên hỏi sang những vấn đề cá nhân của nhà báo tỷ dụ như chân dung của Hồ Chí Minh do phu nhân Bernard Fall vẽ vân vân... Những cử chỉ lời nói tuy thấy rất tự nhiên đó, thực ra đã được xếp đặt trước để gây cảm tình, để “đắc nhân tâm” là điều một chính khách chuyên nghiệp đã thuôc làm lòng và xử sự vô cùng tự nhiên như bản tính tự nhiên. Không phải là chính khách thì khó nhìn ra cách giả tạo của nó. Ông Hồ hơn người ở chỗ ông giả tạo một cách rất tự nhiên. Vì ông đã được học tập và rèn luyện rất kỹ khi bắt đầu làm điệp viên thượng thặng cho Quốc Tế Cộng Sản (Komintern). Ông còn được đào luyện hơn thế nữa. Chẳng những là điệp viên mà ông còn là một nhà chiến lược, am tường cặn kẽ mọi lời dạy của lãnh tụ Lênin. Vì không biết dĩ vãng của ông Hồ trong thời gian học tập và rèn luyện (trong hơn 4 năm) về nghề gián điệp tình báo để hoạt động cách mạng bí mật cho nên những người Tây phương được gặp ông đều lầm.

Về những lời dạy của sư phụ Lênin, ông Hồ đã áp dụng triệt để khi giải tán đảng CS, ký hiệp định sơ bộ, và lập chính phủ liên hiệp.

Về 2 bản hiến pháp được ban hành trong thời gian ông Hồ còn sống. Đúng là chúng không mang tính độc tài, độc đảng, chuyên chính vô sản như hai bản hiến pháp sau này, khi ông đã chết. Nhưng như vậy không phải vì ông dân chủ hơn, vì dân tộc hơn. Mà chỉ vì, theo chiến lược sách lược giai đoạn, chưa toàn thắng thì chưa thể công khai hóa nền chuyên chính vô sản. Hơn nữa với CS hiến pháp chỉ là món đồ trang trí. Nó không có hiệu lực thực tế. Vì có bao giờ họ thực lòng áp dụng hiến pháp đâu.

Về vấn đề ông Hồ tính chuyện cùng với chính quyền miền Nam lập “liên bang Đông Dương” và khỉ sự có những tiếp xúc sơ khởi với ông Ngô Đình Nhu, thì đây là một vấn đề khá phức tạp và còn nhiều bí ẩn. Không có tài liệu chính thức nào từ phía VNDCCH cũng như từ phía Đệ Nhất Cộng Hòa được công bố. Vì vậy không đủ dữ kiện để phán xét. Tuy nhiên chúng tôi cũng xin giả thiết là nó có thực, để bàn thêm cho vui. Vì thực ra rất nhiều người vẫn coi đó là chuyện có thực (6).

Trước hết hãy xét về phía Bắc Việt. Ông Hồ là người Mác Xít, đồ đệ ruột của Lênin, và từng được gọi là “kẻ theo chủ nghĩa Stalin thuần thành”, được chính Khrushchev gọi là “tông đồ” của chủ nghĩa CS. (7) Với tư cách đó, mục tiêu chiến lược tối hậu của đấu tranh cách mạng của ông Hồ phải là tiêu diệt thế giới tư bản, giai cấp tư sản và các giai cấp khác,, theo đúng chủ thuyết Mác-Xít. Nhưng mục tiêu chiến lược giai đoạn của ông (lúc đó) có thể là đánh đổ chế độ đệ nhất Cộng Hòa. Và trước khi đạt mục tiêu chiến lược giai đoạn này, ông có thể áp dụng mục tiêu sách lược giai đoạn tạm thời hòa hoãn với chính quyền Ngô Đình Diệm mà ông biết anh hai Trung Cộng đã từng có lần muốn giao hảo, thiết lập bang giao, và anh cả Liên Xô (1957) từng có lúc đề nghị thu nhập vào Liên Hiệp Quốc, và cũng là chính quyền được nhiều nước trên thế giới công nhận hơn chế độ của ông Hồ, hơn nữa nó lại có ưu thế áp đảo về kinh tế.

Nếu vì cái mục tiêu sách lược vắn hạn này mà ông Hồ tính chuyện (tạm thời) hiệp thương thì cũng không có gì lạ.

Về phía VNCH, có người như sử gia Hoàng Ngọc Thành phê bình ông Ngô Đình Nhu là nuôi ảo tưởng. Nhưng thực ra anh em ông Diệm đã có kinh nghiệm với CS. Họ không lạ gì những mánh lới gian xảo của CS. Vì hiểu biết rõ CS nên ông Diệm ngay từ đầu đã không bị lầm như cụ Huỳnh Thúc Kháng và các đảng phái quốc gia khác hồi năm 1945. Ông đã dứt khoát từ chối hợp tác với Hồ Chí Minh trong một chính phủ liên hiệp. Nhưng đó là vào lúc ông chưa có thế lực gì. Hợp tác với CS sẽ bị CS chi phối hoàn toàn. Còn bây giờ thì khác. Cái thế của ông hơn hẳn ông Hồ, mặc dầu do vụ Phật giáo, và áp lực của Mỹ nó đã có phần kém mấy năm trước.

Cứ xét tình hình cả hai phía lúc ấy, chuyện đi đến hiệp thương giữa hai miền có thể thực hiện được, và có thể có lợi cho cả hai bên. Cả hai miền sẽ giảm áp lực của ngoại bang. Ít nhất là trong một thời gian nào đó hai bên sẽ thi đua phát triển về mọi mặt cho đến khi một bên sẽ vượt trội lên để rồi thống nhất đất nước theo chế độ của mình. Và như vậy toàn dân sẽ được hưởng một giai đoạn tương đối an bình, tránh được cuộc chiến ác liệt như nó đã diễn ra hơn một năm sau khi anh em ông Diệm chết.

Nhưng đó là giả thiết áp lực của Liên Xô, Trung Cộng trên miền Bắc và áp lực của Mỹ đối với miền Nam không quá mạnh để phá vỡ kế hoạch hiệp thương đó. Trong thực tế vì quyền lợi các nước lớn, và vì tình hình căng thẳng giữa hai khối Đông, Tây trên thế giới lúc ấy, đó là một chuyện rất khó thực hiện. Tuy nhiên không phải hoàn toàn là ảo tưởng. Và hiệp thương lần này không nhất thiết sẽ thất bại như sự liên hiệp của các đảng phái quốc gia với CS hồi năm 1945-1946. Hơn nữa đồng minh Hoa Kỳ đã dồn ông Diệm vào cái thế phải thương lượng với miền Bắc.

Bây giờ lại xét về phía ông Hồ. Ông có thực lòng muốn sống chung hòa bình với chính quyền miền Nam hay không? Hay đây chỉ là cái bẫy ông giăng ra để anh em ông Diệm sa vào rồi bị giết? Trong thực tế, người Mỹ đã coi việc ông Diệm để em ông tiếp xúc với Bắc Việt như một cái cớ để lật ông. Tuy nhiên nhiều người vẫn cho rằng ông Hồ không cố tình giăng bẫy. Đó chỉ là sự rủi ro về phía ông Diệm.

Dầu sao, có một điều chắc chắn. Đó là sách lược giai đoạn mà ông Hồ luôn áp dụng theo các nguyên lý của chủ nghĩa Lênin. Vì ông là “tông đồ” của chủ nghĩa đó nên tuy “ông sống và làm việc nhưng không phải ông, mà chính Lênin sống và hoạt động trong ông” (8).

Chính vì sống khắng khít với sư tổ như thế nên lúc nào ông cũng uyển chuyển sẵn sàng thay đổi chiến lược sách lược đấu tranh tùy theo tình hình. Cũng theo tinh thần đó và bối cảnh đó, ta có thể giải thích thái độ của ông trong hội nghị trung ương 9 vào trung tuần tháng 12-1963 được Nguyễn Văn Trấn thuật lại trong sách của ông, và chúng tôi vừa trích dẫn một lời vắn tắt của Bùi Công Trừng. Nghe họ Bùi nói thì tội nghiệp cho ông Hồ thật. Chủ trì buổi họp mà bị anh chàng Lê Đức Thọ, cánh tay mặt của Lê Duẩn o ép, không cho nói. Chuyện có vẻ khôi hài khó tin. Nhưng có thật. Vì chả nhẽ ông già chợ đệm nỡ đặt điều nói dối mẹ ông. Đây là thư viết gửi mẹ... mà.

Quả tình sau cái chết của ông Diệm, tình hình đột biến ngoài sự chờ đợi của ông Hồ. Nước cờ ông định đi bỗng khựng lại. Những kẻ chủ chiến từ Bắc Kinh và từ nội bộ đảng của ông ào ào tiến lên như vũ bão. Là chủ tịch đảng, chủ tịch nước, hơn nữa là một chính trị gia già dặn, ông chẳng khác nào người chủ ghe đang lái con thuyền buồm bỗng thấy cảnh “trái gió cho nên phải lộn lèo” (9). Người lái thuyền buồm phải nương theo gió, theo dòng nước mà điều khiển “tay lái tay lèo” là thế. Hãy cứ giả vờ như mình bị nhóm hiếu chiến áp đảo đi. Vì lúc này đây trong bụng mình cũng đã thuận theo chiều gió ấy rồi. Giơ tay mà đàn em không cho nói càng hay. Vì nếu nó để cho nói đâm ra lại khó nói. Đó là cái khôn khéo trí trá của một chính khách xảo quyệt, lâm lúc khó xử. Chứ với cương vị của ông, và với sự thần phục tôn thờ của lũ đàn em chung thủy, nếu ông cương quyết dùng quyền chủ tịch, chủ tọa hội nghị, nhất định bắt hội nghị lắng nghe, thì bố anh chàng Lê Đức Thọ cũng chẳng dám cản ngăn. Nguyễn Văn Trấn, Bùi Công Trừng, Ung Văn Khiêm toàn là những người miền Nam thẳng ruột ngựa khó mà hiểu nổi thâm ý lắt léo của ông Hồ. Chả trách những nhà báo tây phương trẻ măng lúc ấy.

Cũng chính trong hội nghị 9, đẻ ra nghị quyết 9 sặc mùi hiếu chiến này, ông Hồ đã “đánh lừa” cả tướng Lê Liêm. Theo Vũ Thư Hiên thì ông Hồ đã khuyến khích Lê Liêm phát biểu chống dùng võ lực, và hứa ông sẽ ủng hộ. Nhưng khi Lê Liêm phát biểu bị nhóm Lê Duẩn Lê Đức Thọ khiền, thì chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn im lặng. Có phải vì Hồ Chí Minh sợ đàn em hiếu chiến không? Hay đây là kế hoạch dùng Lê Liêm làm con mồi để dụ những tay “phản chiến” ra mặt? Ai mà biết được mưu sâu của “cáo già”! Cũng trong hội nghị này, trong giờ giải lao Dương Bạch Mai, một trí thức miền Nam, có xu hướng đệ tứ, sắp đọc một tham luận quyết liệt chống thống nhất bằng võ lực, thì đột tử. Căn cứ vào những sự việc xảy ra trước và liền sau khi Dương Bạch Mai chết được Vũ Thư Hiên thuật lại tỷ mỷ trong “Đêm Giữa Ban Ngày” thì phải kết luận: chắc chắn ông bị đầu độc. Nhưng ngoài ông Hồ, ai dám quyết định và hạ lệnh thi hành tội ác đó với một ủy viên trung ương đảng, phó chủ tịch quốc hội?

Muốn xét ông Hồ có bị đàn em lấn quyền hay không, cũng cần phải xét đến những lời ca tụng, tôn thờ của toàn thể bộ chính trị và các cây viết của đảng dành cho ông Hồ, từ khi ông còn sống cho đến khi đã chết. Có ai dám công khai nói hay viết câu nào phê bình Hồ Chí Minh không? Ai đã xây lăng tốn phí để thờ Hồ Chí Minh? Ai đã đặt tên Saigon là thành phố Hồ Chí Minh? Ai đã đưa ra tư tưởng Hồ Chí Minh? Ai đã cho sưu tập tất cả những lời nói bài viết của Hồ Chí Minh làm thành bộ “Hồ Chí Minh toàn tập” giống hệt những bộ Lênin, Stalin, Mao Trạch Đông Toàn Tập, coi như sách thánh? Nếu ông Hồ yếu kém, không dám chỉ huy cuộc chiến xâm chiếm miền Nam, nếu ông Hồ nhu nhược để đàn em qua mặt trong những quyết định quan trọng của đảng, liệu đàn em có dành cho ông những vinh dự đó không? Vả lại, những vinh dự đó do chính Lê Duẩn, trong lúc phụ tá cho Hồ Chí Minh đã chủ xướng cả đấy.

Trước khi kết thúc, để thêm chút “gia vị”, tôi xin nhắc lại câu chuyện do nhà báo Việt Thường, từng sống nhiều thập kỷ trong chế độ miền Bắc, kể.

Theo báo Nhân Dân của đảng thì vài tháng trước tết Mậu Thân (1968), ông Hồ sang sân bay Gia Lâm thăm đơn vị tên lửa và không quân để động viên… Tháp tùng ông có nhiều cán bộ cao cấp kể cả Võ Nguyên Giáp và Tố Hữu. Câu chuyện bên lề được Việt Thường kể sau đây, theo ông tuy không đăng trên báo nào cả, nhưng nó lại được kể ở hầu hết các tòa soạn báo, đài và cả ở quán cà phê, quán bia hơi ở Hànội:

“Khi nghe tin Hồ đến thăm đơn vị, lính ngụy (10) trong binh chủng phòng không, không quân, vừa đi học ở Nga Xô về, ào ào chạy ra chẳng có hàng ngũ gì cả. Từ tư lệnh binh chủng cho đến tụi bảo vệ, cho đến Tố Hữu, Văn Tiến Dũng đều vây quanh Hồ để bảo vệ, trong khi Võ Nguyên Giáp cầm loa điện cầm tay gào lên: “Yêu cầu trật tự”, mà lính ngụy cứ lờ đi. Hồ bèn giật lấy loa trên tay Giáp và hô: “Nghiêm”. Theo “phản xạ lính”, tất cả đứng nghiêm. Hồ lại hô:“Tất cả xếp hàng, 5 hàng dọc”! Bọn lính vội xếp hàng. Hồ hô tiếp “Nghiêm”! rồi lại hô “Nghỉ”; và cuối cùng hô: “Nghiêm! Đằng sau quay! Đều bước!” Bọn lính ngụy răm rắp làm theo. Bấy giờ Hồ cười cười quay lại bảo Giáp: “Chú là đại tướng vậy mà không biết điều khiển lính!”

Sau khi thuật chuyện đó, tác giả hỏi: “Một tên gián điệp lão luyện, phản ứng rất nhanh như Hồ, ăn nói với phó thủ tướng, bộ trưởng, đại tướng như nói với thằng nhỏ, con sen như vậy, liệu có thể là kẻ để cho Lê Duẩn khống chế không??

Xin lưu ý bạn đọc lúc ấy là thời gian Hồ Chí Minh thường hay sang Trung Quốc “chữa bệnh” và cũng chỉ còn hơn một năm nữa là “đi theo các cụ Mác Lê”.

Nam Cali 1-3-2006

Nguồn: Việt Báo



--------------------------------------------------------------------------------
Chú thích:

(*) Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch của Trần Dân Tiên, nhà xb Văn Học, Hànội, 2001, tr. 129.
(**) Những năm tháng không thể nào quên của Võ Nguyên Giáp, nhà xb quân đội nhân dân, in lần thứ 5 tại Hànội, tr 46.
(1) “Viết Gửi Mẹ Và Quốc Hội”, Nguyễn Văn Trấn, trang 328. (***) Nhiều tài liệu đã nói đến việc thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai trong một bữa tiệc khoản đãi các phái đoàn CS tại Genève vào tháng 7 năm 1954, đã đề nghị với ông Ngô Đình Luyện bào đệ của thủ tướng Ngô Đình Diệm nên mở một tòa đại sứ tại Bắc Kinh. Sau này ông ta lại nhắc lại đề nghị ấy với ngoại trưởng Trần Văn Đỗ. Chính ông Ngô Đình Luyện cũng đã xác nhận việc này, trong dịp ông viếng Nam Cali vài năm trước khi ông mất.
(2) Nhiều người nghi có bàn tay Lê Duẩn trong việc tướng NB bị Pháp giết vào năm 1951, khi ông ta bị gọi ra Bắc. Lộ trình của ông đã bị một kẻ nào đó mật báo cho Pháp.
(3) VIETNAM La face cachée du régime Editions Kergour - Paris. 1999, của Bùi Tín trang 71. Dưới cước chú, tác giả ghi là câu chuyện xảy ra vào năm 1983, trong khi tác giả ghi âm trước sự chứng kiến của nhiều người trong đó có cả Hoàng Tùng, ủy viên ủy ban tư tưởng của đảng, Đông Ngạc, phụ tá tổng bí thư đảng và Nguyễn Cần.
(4) Đêm Giữa Ban Ngày, Vũ Thư Hiên, Văn Nghệ, Nam Cali, 1997, trang 228.
(5) SĐD trang 229. Trong cuốn “Thời Thắng Mỹ” của Lê Duẩn do Bút Thép chấp bút, Lê Duẩn cũng khoe khoang hơi lớn lối và viết không đúng sự thật, khi tự tâng bốc và làm lu mờ vai trò của những kẻ khác trong bộ chính trị kể cả Hồ Chí Minh.
(6) Xin xem Ngô Đình Diệm Lời Khen Tiếng Chê của Minh Võ, Thông Vũ in lần thứ 3, 2002, trang 308-313. Và “Tâm Sự Nước Non” Ai Giết Hồ Chí Minh? tủ sách Tiếng Quê Hương, Virginia xuất bản tháng 3 năm 2002, trang 312-314.
(7) Khrushchev Remembers Little Brown and Company, Boston, 1970, tập I, trang 480.
(8) Nhân hai chữ “tông đồ” mà Khutshchev tặng ông Hồ, chúng tôi liên tưởng tới lời St. Paul là đại tông đồ của chúa Giêsu Kitô: “Vivo, jam non ego. Vivit vero in me Christus”(Tôi sống, song không phải tôi sống, mà là đấng Kitô sống trong tôi.)
(9) Hồ Xuân Hương, thi sĩ nổi tiếng trong văn học sử VN với những bài thơ “lời thanh ý tục” vừa trào lộng, vừa thâm thúy. Trong trường hợp này xin đừng nói lái.
(10) Việt Thường luôn dùng chữ “ngụy” để gọi CS, xin đừng lầm với chữ ngụy mà CS gán cho người miền Nam.

Aucun commentaire: