Xin Đừng Quên! Nửa Thế Kỷ Trước...
Mở Hồ Sơ Tội Ác Hồ Chí Minh: Vấy Máu Cải Cách Ruộng Đất
Nguyễn Minh Cần
Có thể bạn đọc sẽ trách tôi: trong dịp đầu năm mà nhắc đến chuyện quá buồn. Xin các bạn lượng thứ cho! Nhưng chuyện này không thể không nói đến! Nó cũng khủng khiếp không kém gì chuyện Tết Mậu Thân (1968). Vậy mà chuyện Tết Mậu Thân chúng ta vẫn phải đành lòng nhắc đến trong dịp Tết cơ mà!
Cần phải nhắc đến các tấn bi kịch, các thảm hoạ dân tộc đã qua và hiện đang còn đang tiếp diễn dưới nền chuyên chính của Đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), để mọi người yêu nước thương dân thắp một nén hương cho vong linh biết bao người vô tội đã ngã xuống, để tưởng nhớ đến bao nhiêu người oan ức đã chịu những cực hình man rợ phải ngậm hờn mãi mãi, để nhớ lại biết bao bạo hành của một đảng độc tài đã gây ra trong quá khứ và trong hiện tại, để mọi người hun đúc ý chí đấu tranh cho công cuộc dân chủ hoá đất nước. Âu cũng là việc cần lắm thay! Hơn nữa, ngày nay tập đoàn cầm quyền đang cố xuyên tạc lịch sử, cố làm mọi cách để dân tộc ta quên đi các tội ác tày trời của họ, nhất là để các thế hệ mới lớn lên không hề hay biết gì đến các tội ác đó và những kẻ tội phạm chính danh!
Chuyện tôi muốn nói đến hôm nay là cuộc CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT (CCRĐ) đầy kinh hoàng ở miền Bắc Việt Nam, thảm hoạ khủng khiếp chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Cuộc CCRĐ đã thực tế bắt đầu diễn ra từ năm 1953, đúng 50 năm trước đây, và kết thúc năm 1956. Nhưng dư âm và hậu hoạ của nó vẫn còn mãi cho đến tận ngày nay. Hồi đó, CCRĐ chẳng khác nào một trận bão táp ác liệt đổ ập xuống miền Bắc Việt Nam gây ra biết bao tàn phá khủng khiếp, biết bao đảo lộn kinh người, biết bao tang tóc, đau thương cho người dân lương thiện.
Xuất phát từ đâu mà trận bão táp ghê rợn đó đã tràn đến cái xứ sở đau thương này ? Số là trong chuyến đi bí mật của ông Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc (hồi cuối năm 1950) đến Moskva (đầu năm 1951), ông đã gặp Stalin và Mao Trạch Đông (lúc đó đang có mặt tại Moskva). Hai ông này đã nhận xét là Đảng Việt Nam coi nhẹ nhiệm vụ phản phong (ý nói hữu khuynh), và chỉ thị phải tiến hành cách mạng phản phong để "bồi dưỡng động lực cách mạng là nông dân lao động", nói cụ thể là phải làm CCRĐ ở các vùng gọi là "giải phóng". Sau khi về nước, ông Hồ đã cùng Thường vụ Trung ương (Bộ chính trị sau này) ĐCS trong hai năm trời bí mật và tích cực chuẩn bị tiến hành CCRĐ. Chuẩn bị cả về mặt tư tưởng, cả về mặt chính sách, đường lối, lẫn về mặt tổ chức. Theo sự phân công của Stalin, Trung Quốc sẽ giúp đỡ cho Việt Nam, nên ông Hồ đã mời các đoàn cố vấn Trung Quốc đến miền Bắc Việt Nam - tổng cố vấn là La Quý Ba đồng thời là đại sứ Bắc Kinh tại Việt Nam dân chủ cộng hoà (VNDCCH). Vi Quốc Thanh đứng đầu đoàn cố vấn quân sự, còn đứng đầu đoàn cố vấn CCRĐ là Kiều Hiểu Quang, vốn là phó bí thư tỉnh uỷ Quảng Tây. Đó là chưa kể đủ loại cố vấn khác, như cố vấn chỉnh huấn, cố vấn công an, cố vấn tổ chức, cố vấn tuyên truyền ...
Để chuẩn bị về mặt tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và quân đội, năm 1952, Bộ chính trị (BCT) trung ương (TW) Đảng thực hiện "cuộc chỉnh huấn" trong Đảng và "cuộc chỉnh quân" trong quân đội, theo đúng mẫu mã "cuộc chỉnh phong" của ĐCS Trung Quốc, chỉ có cái tên hơi khác một chút mà thôi. Chuẩn bị về mặt tổ chức, BCT TW đã thành lập Uỷ ban CCRĐ Trung ương (UBCCRĐTW), gồm có Trường Chinh, Tổng bí thư ĐLĐVN làm chủ nhiệm, hai phó chủ nhiệm là Hoàng Quốc Việt, uỷ viên BCT và Lê Văn Lương, uỷ viên BCT, còn uỷ viên thường trực là Hồ Viết Thắng, uỷ viên TW Đảng. Dưới UBCCRĐTW là các đoàn CCRĐ, dưới các đoàn là các đội CCRĐ. Cả một đạo quân hùng hậu để làm "chiến dịch" đánh phong kiến!
ĐCS coi CCRĐ là "một cuộc cách mạng long trời lở đất", cho nên cần phải "phóng tay phát động quần chúng" để thực hiện, có nghĩa là phải làm hết sức mãnh liệt, thẳng tay, không khoan nhượng, không thương xót, cho dù có những hành động quá trớn, quá tả cũng không đáng sợ. Nhiều lãnh tụ cộng sản thường nhận mình, ĐCS là đảng cách mạng thì nhất định phải làm CCRĐ theo tinh thần "cách mạng", "cách mạng long trời lở đất" ! Họ cao ngạo phê phán các cuộc CCRĐ hoà bình ở nhiều nước là cải lương chủ nghĩa, tư sản và phản cách mạng: vì tại các nước đó, chính quyền hạn định mức ruộng đất tối đa cho điền chủ được có, còn phần thừa thì nhà nước mua lại để chia cho người ít hay không có ruộng đất. Còn khi giải thích cho cán bộ mấy chữ "phóng tay phát động quần chúng" khó hiểu này, ông Hồ đã dùng hình ảnh dễ hiểu sau: khi uốn thanh tre cong cho nó thẳng ra, phải uốn quá đi một tí và giữ lâu lâu, rồi thả tay ra thì nó mới thẳng được. Hình như ông cũng khoái cái lối giải thích hóm hỉnh ấy, không nghĩ rằng cái tinh thần "quá đi một tí" sau này chính là mối hoạ lớn cho dân! Các đội, các đoàn CCRĐ được tung về nông thôn. Họ tung hoành gần như với quyền hạn không hạn chế, họ cảm thấy mình nắm trong tay quyền sinh quyền sát. Cấp trên đã "phóng tay" cho họ và họ cũng tự "phóng tay" ... Vì thế trong dân gian thường nói "nhất Đội, nhì Trời", và các "anh đội" cũng khoái tai khi nghe như thế! Tôi còn nhớ một lần, thiếu tướng Vương Thừa Vũ, chủ tịch uỷ ban quân quản thành phố Hà Nội, về quê thăm nhà ở làng Tó (Thanh Oai) thuộc ngoại thành Hà Nội. Ông bị đội CCRĐ bắt giữ cùng với anh cần vụ (lính hầu) và xe ô tô, van xin gì cũng không được thả ra. Về sau do một sự tình cờ, chính quyền Hà Nội biết được mới cho người đến nhận ông về. Đại thần của chế độ mà còn bị như thế huống hồ dân đen!
Trong năm 1952, BCT TW Đảng lao động Việt Nam (ĐLĐVN), tức là ĐCS khoác tên mới từ năm 1951, cho làm thí điểm CCRĐ ở sáu xã thuộc huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên. Trong lần thí điểm này có một sự kiện "động trời": toà án CCRĐ xử tử hình bà Nguyễn Thị Năm, tức là Cát Thành Long, người mà thời trước cách mạng đã từng che giấu, nuôi ăn, giúp đỡ các ông Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Lê Thanh Nghị, Lê Giản ... Còn trong Tuần lễ Vàng, gia đình bà đã hiến 100 lạng vàng cho chính quyền mới. Bà đã hoạt động trong Hội Phụ nữ, lại có con trai đi bộ đội làm trung đoàn trưởng. Thế mà bà đã bị quy là địa chủ cường hào ác bá, bị đoàn CCRĐ xử án tử hình, UBCCRĐ TW duyệt y và BCT TW ĐLĐVN cũng chuẩn y!. Những người lãnh đạo cộng sản trong BCT và đứng đầu chính phủ đã từng được bà che giấu, nuôi ăn, tặng vàng, nay đang làm Chủ tịch nước, Tổng bí thư, uỷ viên BCT, Thủ tướng, phó thủ tướng đã lạnh lùng chuẩn y một cái án tử hình như vậy!. Phát súng đầu tiên của CCRĐ nổ vào đầu một người phụ nữ yêu nước đã từng giúp đỡ cho những người cộng sản!. Phát súng đó tự nó đã nói lên nhiều điều về các lãnh tụ cộng sản!. Nó báo hiệu trước những tai hoạ khôn lường cho toàn dân tộc!.
Năm 1953, thực tế là năm bắt đầu tiến hành CCRĐ, năm ĐCS chuẩn bị toàn bộ đường lối, chính sách và "luật pháp hoá" các chính sách của Đảng bằng quyết nghị của Quốc hội, sắc lệnh và nghị định của Chính phủ, thông tư của các bộ. Dựa trên tài liệu chính thức của ĐCS, tôi xin ghi lại những cái mốc lịch sử đau thương của dân tộc ta trong cuộc CCRĐ đẵm máu và nước mắt này:
cuối tháng 01.1953 - hội nghị lần thứ tư của TW ĐLĐVN để thông qua bản Dự thảo cương lĩnh Đảng về chính sách ruộng đất. Tại hội nghị, ông Hồ đọc báo cáo đề ra nhiệm vụ triệt để giảm tô, tiến tới CCRĐ.
đầu tháng 03.1953 - Hội đồng Chính phủ họp thảo luận báo cáo của Phó thủ tướng Phạm Văn Đồng về mục đích, phương châm, kế hoạch phát động quần chúng. Hội đồng Chính phủ đã thông qua các văn bản về chính sách ruộng đất và phát động quần chúng, tức là đã "luật pháp hoá" nghị quyết của TW Đảng.
01 - 05.03.1953 - báo Nhân Dân đăng tải bài "Chỉnh đốn chi bộ" của uỷ viên Bộ chính trị ĐLĐVN, trưởng ban tổ chức TW Lê Văn Lương, người trực tiếp phụ trách cuộc Chỉnh đốn tổ chức trong CCRĐ, và ngày 16.03.1953 - Chính phủ VNDCCH ra thông tư về việc chỉnh đốn chính quyền cấp xã qua việc phát động quần chúng. Đây là những hướng dẫn cho việc gắn liền cuộc Chỉnh đốn tổ chức với CCRĐ, với tinh thần "không dựa vào (thực tế là đánh vào - Người viết) tổ chức cũ mà lập nên tổ chức mới" ở nông thôn!
12.04.1953 - Chính phủ VNDCCH ra ba sắc lệnh: 1/ sắc lệnh quy định chính sách ruộng đất, trong đó có việc tịch thu, trưng thu, trưng mua ruộng đất chia cho nông dân; 2/ sắc lệnh quy định việc thành lập Toà án nhân dân ở những nơi phát động quần chúng; 3/ sắc lệnh quy định việc trừng trị những địa chủ ở những nơi phát động quần chúng tiến hành CCRĐ.
01.06.1953 - báo Nhân Dân đăng bài về Chương trình CCRĐ.
tháng 06.1953 - ĐLĐVN tổ chức cái gọi là "đợt chỉnh huấn chính trị" để nâng cao lập trường giai cấp cho cán bộ đảng viên trong cuộc đấu tranh CCRĐ.
14.11.1953 - hội nghị lần thứ năm TW và Hội nghị toàn quốc của ĐLĐVN để quyết định tiến hành CCRĐ. Ông Hồ đã phát biểu ý kiến tại hội nghị nhấn mạnh phải "phóng tay phát động quần chúng tiến hành CCRĐ".
01-04.12.1953 - kỳ họp thứ ba của Quốc hội khoá 1, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc báo cáo "Tình hình trước mắt và nhiệm vụ CCRĐ" và ngày 04.12.1953 - Quốc hội nhất trí thông qua Luật CCRĐ. Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra sắc lệnh ban hành Luật CCRĐ do Quốc hội thông qua.
Từ đó, bắt đầu các đợt CCRĐ, mà đợt đầu tiến hành ở 47 xã tỉnh Thái Nguyên và 6 xã tỉnh Thanh Hoá, sau đó lan tràn trên khắp miền Bắc, trừ các vùng miền núi. Đợt năm là đợt cuối cùng, phần lớn diễn ra ở các xã đồng bằng Bắc bộ và các vùng bị Pháp chiếm trước đây. May mắn cho đồng bào miền núi, vì ĐLĐVN chủ trương sau khi hoàn thành CCRĐ ở vùng đồng bằng mới làm ở miền núi. Do sự phẫn nộ của quần chúng đã bùng lên dữ dội, nhiều cuộc nổi dậy của nông dân đã nổ ra ở Quỳnh Lưu, Phát Diệm, nên về sau, TW ĐLĐVN chỉ tiến hành cái gọi là "cải cách dân chủ" ở miền núi, nghĩa là dẹp bỏ phong kiến địa phương (tức là các phìa tạo) mà không dùng bạo lực quá mạnh vì sợ dân chúng chạy sang Trung Quốc, Lào ... Còn ở huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị, vì nằm sát giới tuyến, tiếp giáp Việt Nam Cộng hoà, nên cũng được chiếu cố, nghĩa là dùng bạo lực vừa phải "để không gây ảnh hưởng xấu đến miền Nam".
tháng 09.1956 - hội nghị lần thứ 10 của TW ĐLĐVN kiểm điểm tình hình CCRĐ. Do ảnh hưởng của đại hội lần thứ 20 ĐCS Liên Xô vạch trần những tội ác của Stalin, do sự bất mãn trong dân chúng, cộng thêm sự phản ứng khá mạnh của cán bộ, TW Đảng buộc phải thừa nhận những sai lầm nghiêm trọng trong CCRĐ và chủ trương sửa sai. Tại hội nghị, TW đã thi hành kỷ luật như sau: Trường Chinh mất chức Tổng bí thư, chỉ còn làm uỷ viên BCT, còn Hoàng Quốc Việt và Lê Văn Lương mất chức uỷ viên BCT, Hồ Viết Thắng bị đưa ra khỏi TW ĐLĐVN. Ông Hồ Chí Minh kiêm nhiệm Tổng bí thư, còn Lê Duẩn làm bí thư TW, thường trực BCT.
29.10.1956 - mít tinh lớn tại Nhà Hát Nhân dân Hà Nội, uỷ viên BCT đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh và TW ĐLĐVN chính thức công nhận những sai lầm nghiêm trọng trong CCRĐ. Nhân đây, xin nói rõ: một vài người viết không đúng là cuộc mít tinh tổ chức tại sân vận động Hàng Đẫy và ông Hồ đã đến dự và khóc trước dân chúng. Hà Nội được giao cho việc tổ chức mít tinh nên tôi biết rõ. Hồi đó, chúng tôi được giải thích: "Bác đến không tiện", nhưng chúng tôi đều hiểu là ông Hồ muốn đưa ông Giáp ra "chịu trận" thay mình, nên không hề có việc ông Hồ khóc trước dân chúng.
*
Ở hải ngoại, cho đến nay cũng đã có một số tài liệu nói đến những bạo hành, những tội ác trong CCRĐ, cuốn sách nói về đề tài này khá kỹ ra mắt sớm nhất (1964, bằng tiếng Anh) là cuốn "Từ Thực Dân Đến Cộng Sản" của ông Hoàng Văn Chí. Còn ở trong nước thì đến nay, chưa có một công trình nghiêm túc nào nghiên cứu, chưa ra một tiểu thuyết nào viết riêng về đề tài CCRĐ. Tại sao ? Dễ hiểu là sau khi bị bắt buộc phải thừa nhận những sai lầm trong CCRĐ, BCT TW Đảng ra lệnh miệng tuyệt đối cấm không được nói đến đề tài này. Người đầu tiên "vi phạm" tabou thiêng liêng đó là nhà văn Hà Minh Tuân - anh đã viết lướt qua rất nhẹ nhàng đến đề tài cấm kỵ đó trong tác phẩm "Vào Đời". Tức thì Nguyễn Chí Thanh hô hoán lên là "tư tưởng địa chủ ngóc đầu dậy", và anh bị hành hạ hết nước. Từ đó mọi người ai cũng im re, "lo giữ cái đội nón của mình" (nhóm từ thông dụng hồi đó có nghĩa là giữ đầu mình) ... Mãi sau này, chỉ có vài nhà văn rụt rè mon men đến đề tài đó mà thôi. Hy vọng rồi đây sẽ có nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu trong nước vượt qua nỗi sợ "truyền kiếp", dám đề cập đến đề tài đau thương này một cách nghiêm túc và toàn diện.
Nếu nói về những tội ác trong CCRĐ, theo tôi, cần nêu bật mấy loại chính sau đây.
Thứ nhất. Tội tàn sát thường dân vô tội - tội ác chống nhân loại. Người nông dân Việt Nam hiền hoà, chất phác đang làm ăn sinh sống và hết lòng đóng góp vào cuộc kháng chiến chống Pháp, bỗng dưng ĐCS giáng cho họ một đòn chí mạng. ĐCS nói rằng CCRĐ là một cuộc cách mạng để thực hiện ước mơ muôn đời của nông dân: "người cày có ruộng" - nhưng thực tế thì không phải như vậy, thực tế là nông dân bị đánh đòn chí mạng! Tầng lớp năng nổ, giỏi giang biết làm ăn nhất ở nông thôn thì bị quy là địa chủ, phú nông, thậm chí cường hào ác bá, bị triệt hạ hết đường sinh sống, còn một loạt cán bộ ở nông thôn đã từng chịu đựng gian khổ làm nhiệm vụ lãnh đạo kháng chiến, sản xuất thì bỗng nhiên bị quy là phản động, gián điệp, Việt gian, v.v ... bị trừng trị, nhiều người bị bắn giết vô cùng man rợ. Ngay cả nhiều người trung nông, thậm chí một số bần nông cũng "bị kích lên" làm địa chủ cho đủ cái tỷ lệ quái gở 5% địa chủ (so với dân số thôn xã!) và họ phải cam chịu cái số phận mà ĐCS dành cho địa chủ. Cái tỷ lệ quái gở 5% đó lại kèm thêm những "kết luận" quái đản khác: đã có địa chủ, tất phải có cường hào ác bá! Thế là người dân chịu chết! Biết bao nỗi oan khuất không thể nào kể hết. Cái phương châm "thà sai hơn là bỏ sót", cộng thêm với việc "thi đua lập thành tích đánh phong kiến" đã gây ra tình trạng "kích thanh phần", "nống thành tích" cố tìm ra nhiều địa chủ, phản động, xử tử nhiều ác bá ... để có được bằng khen, huân chương, để ngoi lên địa vị cao hơn ... càng làm cho nỗi khổ đau của người dân tăng lên nhiều gấp bội! Chỉ xin dẫn vài chuyện mà thôi.
Một anh bạn đi làm CCRĐ ở Khu Bốn kể lại. Ở Khu Bốn, hồi đó ai cũng biết danh Chu Văn Biên, bí thư Khu uỷ, và Đặng Thí, phó bí thư khu uỷ, khét tiếng hiếu sát trong CCRĐ, họ đều là trưởng và phó đoàn CCRĐ. Thậm chí trong dân gian lưu truyền bài vè có câu "Giết người nổi tiếng gã Chu Biên". Anh bạn tôi kể chuyện Đặng Thí ký hai án tử hình trên ghi đông (guidon) xe đạp! Chuyện như sau: một đội tới làm CCRĐ ở một xã nghèo ở Nghệ An, quê hương của ông Hồ Chí Minh và Hồ Viết Thắng, tìm mãi mà không thể quy ai là địa chủ được (những ai đã từng đến tỉnh này đều biết cảnh nghèo chung của dân chúng ở đây). Đặng Thí "đả thông tư tưởng" là cố vấn Trung Quốc dạy rồi phải có 5% địa chủ. Đội sợ trên "đì", tính ra cả làng từng này hộ, từng ấy nhân khẩu, thôi thì cũng buộc phải kiếm ra năm địa chủ. Tưởng thế là xong, nào ngờ khi báo cáo lại cho Đặng Thí thì ... Liếc mắt qua không thấy có danh sách "lên thớt", bực mình Thí mới xạc cho "anh đội" một trận: "Có địa chủ mà không bắn thằng nào cả à ?" và ném cả tập giấy vào mặt đội trưởng. Cuối cùng thì đội cũng lọc ra được "hai địa chủ để bắn" vội chạy lên đoàn báo cáo. Giữa đường gặp Đặng Thí đang đi xe đạp, tay đội trưởng đưa báo cáo và danh sách bắn hai người. Thí còn đang vội, vẫn ngồi trên yên xe, chẳng thèm xem hết nội dung, đặt "đơn đề nghị bắn hai người" lên ghi đông xe đạp, mở vội xà cột (sacoche), rút bút ký toẹt vào. Xong rồi Thí đạp xe đi thẳng.
Một ông bạn làm việc ở Viện Khoa học Việt Nam đã đi làm CCRĐ kể lại chuyện thương tâm này. Đội mà ông bạn có chân về một làng nghèo ở Thái Bình, không thể nào tìm đâu ra đủ số địa chủ, và cũng không thể nào tìm ra địa chủ ác bá để bắn. Họ lo lắm. Thế là họ đưa một ông chăn vịt vào danh sách bị bắn!. Làng nào cũng thế thôi, mấy ông "gột vịt" (ấp trứng nuôi vịt con) chẳng bao giờ được dân làng ưa cả, vì lùa vịt con xơi thóc lúa của dân, thế mà lại hay to mồm cãi lại, gây gổ. Thế là "đủ yếu tố cấu thành tội", trong đó có tội "bị dân làng ghét cay ghét đắng". Địa chủ bóc lột thóc của nông dân, vịt cũng ăn cướp thóc của nông dân, vịt không thể bắn được thì chủ nó phải chịu thay! Ai cũng vui vẻ cả. Ông bạn biết là sai nhưng không dám mở miệng khi "cổ máy nghiền thịt" của Đảng đã khởi động rồi!
Cho đến nay, không ai biết số người bị quy oan, bị tù oan và bị giết oan là bao nhiêu vì ĐCS giấu tịt. Những con số mà nhiều người đưa ra chỉ là ước đoán. Hồi cuối năm 1956, khi tôi được Thành uỷ Hà Nội giao cho trách nhiệm sửa sai CCRĐ ở ngoại thành Hà Nội. Vì tính chất quan trọng của việc đó ở thủ đô, nên ông Võ Nguyên Giáp được BCT phân công giúp đỡ việc sửa sai ở Hà Nội. Vì thế, thỉnh thoảng tôi đến nhà ông Giáp làm việc. Đôi khi chúng tôi cũng nói chuyện với nhau về những vấn đề chung. Một hôm tôi hỏi thẳng ông: trong CCRĐ có bao nhiêu người bị oan. Ông Giáp nói hai vạn. Lúc đó tôi không dám hỏi thêm cụ thể hơn - thế thì bao nhiêu người bị chết oan, vì tôi biết là mình đã đụng đến vấn đề cấm kỵ nhất của Đảng. Cho đến nay, tôi không biết con số mà ông Giáp nói với tôi có thật hay không, nhưng hôm đó ông trả lời tôi tức thì, không nghĩ ngợi gì, nên tôi cũng có phần tin. Còn số người bị hành quyết trong CCRĐ và Chỉnh đốn tổ chức thì tôi ước đoán là chừng năm-sáu nghìn người. Đó là chưa kể nhiều người bị chết vì các lý do khác, như tự tử trước khi xét xử, chết khi bị tra của hay bị giam cầm ở xã, chết trong tù, người nhà địa chủ chết đói do bị bao vây, v.v ... Tại cuộc mít tinh tối 29.10.1956, ông Võ Nguyên Giáp chỉ cho biết con số 12 nghìn cán bộ và đảng viên đã được trả tự do mà thôi! Con số đó đúng hay không, ai mà biết được! Tóm lại, những con số về người bị thiệt mạng trong CCRĐ vẫn chưa xác định được. Dù thế chăng nữa, với những con số ước tính đã cho thấy đây là một tội ác tày trời. Tội ác này chính là tội ác chống nhân loại!
Còn chuyện "sửa sai" thì cũng chỉ là một lối "tung hoả mù" chủ yếu để làm dịu đi phần nào nỗi công phẫn dữ dội của dân chúng, tránh những cuộc bùng nổ bất lợi cho Đảng mà thôi. Chúng tôi đã từng đi làm sửa sai nên biết khá rõ. Có nhiều cái sai không thể nào "sửa" được. Bắn giết người ta, làm què quặt thân thể, làm tổn hại tâm thần người ta (có không ít người bị điên, bị mất trí, bị lẩn thẩn), làm gia đình người ta tan vỡ ... thì chỉ có Trời mới sửa được! Ngay cả những việc tưởng chừng không khó sửa lắm, nhưng cũng không thể sửa nổi, chẳng hạn, gia đình bị quy là địa chủ, nhà cửa bị tịch thu chia cho mấy hộ nông dân, khi được xét là quy oan phải trả lại nhà cho người chủ cũ. Nhưng, khi biết là phải trả lại nhà, các ông bà nông dân bèn cạy gạch, cạy cửa, dở ngói, rút rui mè, cất giấu hết, phá phách gần như tan nát cả ngôi nhà họ đang ở. Nên cái nhà được trả lại đâu còn nguyên vẹn như trước. Còn các "quả thực" khác khi đã chia rồi thì sửa sai làm sao được! Thóc lúa, nông dân ăn hết, bán hết rồi (hoặc khai như thế), nông cụ bị tiêu tán hết (hoặc khai hư hỏng rồi), thì lấy gì mà trả lại cho người ta. Đó là không nói đến những quan hệ tình cảm đã bị tổn thương, giữa vợ chồng, giữa anh em, giữa họ hàng, giữa thầy trò, giữa hàng xóm, láng giềng thì chẳng làm gì được, ngoài việc khuyên nhủ chung chung. Trong sửa sai chỉ có việc này làm được là trả tự do cho những người bị tù oan. Còn việc khôi phục lại chức vụ cho một số cán bộ đã bị đấu tố cũng đã thực hiện, nhưng cũng không giản đơn vì quan hệ khá phức tạp giữa cán bộ mới với cán bộ cũ.
Nhân thể cũng xin nói thêm, khi hội nghị lần thứ 10 của TW ĐLĐVN hồi tháng 09.1956, TW buộc phải thừa nhận những sai lầm nghiêm trọng trong CCRĐ, người ta cũng đổ lỗi một phần cho cấp dưới đã thi hành sai, chứ TW Đảng không nghiêm khắc tự phê phán mình, họ vẫn coi "đường lối của TW về cơ bản là đúng", chỉ có "việc tổ chức thực hiện không đúng" mà thôi. Họ vẫn khư khư khẳng định: CCRĐ dù có sai lầm "nhưng về cơ bản vẫn giành được thắng lợi lớn". Điều đó nói lên sự giả dối, nguỵ biện, sự không thực lòng hối hận của họ. Thế thì làm sao mà Đảng sửa sai được ?! Còn cái gọi là thi hành kỷ luật với các ông lãnh đạo CCRĐ cũng chỉ là trò hề "giơ cao đánh khẽ" để lừa dối dư luận mà thôi. Trường Chinh mất ghế Tổng bí thư, nhưng lại vẫn là uỷ viên BCT, chuyển sang ngồi ghế Chủ tịch Quốc hội, lại phụ trách công tác tư tưởng, rồi chính ông ta đã cùng Tố Hữu bày ra vụ Nhân Văn - Giai Phẩm đàn áp quyết liệt anh chị em trí thức ưu tú, khao khát tự do, làm bao văn nghệ sĩ tài ba bị tù dày, bị đàn áp, bị treo bút trong hàng mấy chục năm trời, đánh một đòn nặng nề vào nền văn học miền Bắc, làm nó bị thui chột trong nhiều thập niên.
Hoàng Quốc Việt (một người nổi tiếng "ác liệt nhất" chẳng những trong CCRĐ mà trong nhiều vụ trước nữa, chẳng hạn, vụ H122 xảy ra trong kháng chiến chống Pháp, ông phụ trách xét vụ này, đã bắt giam nhiều cán bộ, phần đông là cán bộ quân đội, và làm chết oan nhiều người), bị đưa ra khỏi BCT thì lại trao chức vụ Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao là chức vụ nắm quyền sinh quyền sát con người.
Lê Văn Lương chịu trách nhiệm về Chỉnh đốn tổ chức đã làm cho nhiều cán bộ đảng viên ở xã bị bắn giết, bị tù đày, phải ra khỏi BCT thì sau này lại được đưa về làm bí thư Thành uỷ Hà Nội, còn Hồ Viết Thắng bị đưa ra khỏi TW Đảng thì lại cho làm uỷ viên thường trực Uỷ ban Kế hoạch nhà nước!
Trái lại, người ngoài Đảng mà dám thẳng thắn phát biểu ý kiến với ĐCS, cho dù nhẹ nhàng chăng nữa, như trường hợp luật sư Nguyễn Mạnh Tường đọc bài tham luận tại hội nghị Mặt trận Tổ quốc phê phán cuộc CCRĐ và đưa ra những đề nghị hợp lý thì Đảng trù dập ông, dồn ông vào cảnh khốn cùng cho đến chết! Và thử hỏi có bao giờ TW Đảng thành thực sám hối về những sai lầm, những tội ác của mình hay không ?
Chẳng những không sám hối mà cả cho đến ngày nay, ĐCS vẫn cứ nói lấy được là CCRĐ đã giành được thắng lợi lớn: "thực hiện ước mơ nghìn đời" của nông dân - đem lại ruộng đất cho người cÃ?y. Đây là một sự dối trá trắng trợn. Vì ruộng đất nông dân được chia thì một phần đáng kể là của những người bị quy oan, khi sửa sai cuối cùng phải trả lại. Phần ruộng đất chia còn trong tay nông dân, họ chưa kịp được hưởng gì trên mảnh đất được chia đó thì năm 1957-1958, ĐCS đã bắt đầu lùa họ vào hợp tác xã để tập thể hoá nông nghiệp, nghĩa là họ không còn làm chủ ruộng đất của họ!. Vả lại, xét cho cùng, "đem lại ruộng đất cho người cày" đâu có phải là mối quan tâm chính yếu hay là mục đích tối hậu của Đảng ?
Cho nên đến khi sửa đổi Hiến pháp sau ngày thống nhất đất nước, bằng một điều khoản mới trong Hiến pháp, Đảng đã nhẹ nhàng quốc hữu hoá toàn bộ ruộng đất trong cả nước!. Thế thì làm sao có thể nói là Đảng "đem lại ruộng đất cho người cày" được ?! Quả thật là người nông dân chịu bao nhiêu đau thương tang tóc cuối cùng chẳng được gì cả!
Thứ hai. Tội phá hoại truyền thống tốt đẹp mấy nghìn năm của dân tộc. Truyền thống hiếu hoà, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau ở nông thôn Việt Nam được dân tộc ta xây dựng hàng nghìn năm đã bị ĐCS phá vỡ trong vòng ba-bốn năm CCRĐ. Nếu ai đã từng sống ở nông thôn Việt Nam trước "cách mạng", trước CCRĐ đều cảm nhận cái tinh thần "đùm bọc nhau", "lá lành đùm lá rách" còn khá đậm đà trong mối quan hệ giữa người với người. Cố nhiên, không ai nói là ở các làng quê không có những kẻ bóc lột, nhưng tinh thần chung ở nông thôn ta là như vậy. Với cái chính sách "phân định thành phần giai cấp", ĐCS chia cư dân nông thôn thành cố nông, bần nông, trung nông (có ba loại, trung nông yếu, trung nông vừa, trung nông cứng), phú nông (có hai loại, phú nông thường, phú nông ngấp nghé địa chủ - đây là "sáng kiến" của người chấp hành để khi cần thì dễ "kích" họ lên địa chủ, chứ trong chính sách thì không chia ra), địa chủ (có mấy loại, địa chủ yêu nước và kháng chiến, địa chủ thường, địa chủ cường hào ác bá, địa chủ phản động). Sự phân chia có vẻ "khoa học" lắm, nhưng khi thực hiện thì tất cả đều do cảm tính chủ quan, do nhu cầu của "đội" (khi trên bắt phải đủ 5% địa chủ, bắt phải có ác bá, phản động để bắn, thì cứ phải "kích" lên cho đủ số), do ý muốn chủ quan của "ông đội" (nhiều khi ý muốn đó rất quái đản, thấy thái độ của đương sự có vẻ ngang bướng thì cứ "kích" lên cho bõ ghét). Về nguyên tắc, muốn phân định thành phần thì phải "tố khổ", phải "tố" nhau, vạch nhau ra để "xếp" thành phần. Với lối xúi giục, cưỡng ép người dân tố giác lẫn nhau rất phổ biến trong CCRĐ, nên từ đó họ chia rẽ nhau, thù ghét nhau.
Cũng có nhiều người lúc đầu không muốn "tố" ai hết vì không muốn làm trái lương tâm, nhưng ai không chịu "tố" thì bị đội CCRĐ coi là chưa "dứt khoát", "có liên quan", v.v ... cuối cùng thì ai cũng tham gia vào cuộc "tố" lẫn nhau để giữ mạng mình. Đây là số đông.
Nhưng cũng có không ít những kẻ hoặc vì tư thù, hoặc vì muốn trục lợi, "tố điêu", "tố láo" để ngoi lên làm "rễ", làm "cốt cán", làm cán bộ, để được chia "quả thực" nhiều hơn. Mà thường cái đám người này nghèo túng vì lười biếng, vì rượu chè, cờ bạc, có khi là những phần tử lưu manh, nhưng thường lại được đội coi như là bần cố nông để dựa, o bế, sử dụng nhằm ... hoàn thành nhiệm vụ của đội. Một điều kỳ quái cần nói nữa là: mọi lời "tố" của nông dân đều không cần bằng chứng, hơn nữa mọi lời "tố" của họ đều được coi là bằng chứng, đều được ghi vào hồ sơ tội trạng!. Không cần có bất cứ một sự kiểm chứng nào hết! "Lý luận" chung hồi đó là "phải tin tưởng ở quần chúng", "nông dân lao động đã nói là đúng". Thế là không còn ai cãi được nữa!
Chính vì thế, khi đội cần "đánh vào" bí thư hay chủ tịch uỷ ban kháng chiến trước ở vùng tạm bị chiếm, nay bị coi là tổ chức cũ, mà có một ai đó "tố" là "chúng nó họp Quốc Dân Đảng" thì bị "lên hồ sơ" ngay là "bí thư Quốc Dân Đảng", và anh ta khó tránh khỏi cái án tử hình!. Một nông dân "tố" một người bị "kích" lên địa chủ là "hồi kháng chiến, khi máy bay địch tới, tôi thấy hắn nhìn lên trời và chỉ chỏ cái gì đó", tức thì bị quy ngay là "gián điệp" và số phận anh ta coi như là "đi đứt"! Có thể là thế hệ mới lớn lên, nhất là những người đang sống ở các nước dân chủ tiên tiến, thì khó mà tin là đã có những chuyện như thế. Khốn thay đó lại là sự thật đắng cay đã từng xảy ra trong lịch sử nước nhà!
Tóm lại, CCRĐ làm cho nội bộ nông dân chia rẽ trầm trọng, làng xóm đảo lộn lung tung! Đến khi ĐCS tuyên bố sửa sai thì tình hình nông thôn lại cực kỳ hỗn loạn: những vụ ẩu đả, đâm chém, trả thù nhau giữa những người bị "tố oan" với những kẻ "tố điêu", giữa những người bị tước đoạt tài sản với những người được hưởng "quả thực", giữa cán bộ cũ bị quy kết phản động và bị tù tội với cán bộ mới "ngoi lên" trong CCRĐ ... Di sản nghìn năm rất đáng quý mà cha ông ta đã để lại là tinh thần đùm bọc, hoà hiếu nhau của người dân nông thôn miền Bắc đã bị phá huỷ từ ngày CCRĐ. Lẽ nào đó không phải là một tội ác ?
Thứ ba. Tội phá hoại đạo lý, luân thường của dân tộc. Trong lịch sử dân tộc Việt Nam chưa bao giờ đạo lý làm người bị đảo điên một cách quái đản như trong CCRĐ. Các đội CCRĐ không từ một cách nào hết để "tìm ra địa chủ", "tìm ra phản động", "tìm ra của chìm", họ ép buộc con cái "đấu tố" cha mẹ, con dâu "đấu tố" bố mẹ chồng, con rể "đấu tố" bố mẹ vợ, vợ "đấu tố" chồng, anh em "đấu tố" lẫn nhau, trò "đấu tố" thầy, kẻ hàm ơn "đấu tố" người đã làm ơn, láng giềng hàng xóm "đấu tố" lẫn nhau! (Cũng có trường hợp cha mẹ bấm bụng khuyên con cái "đấu tố" mình để mong cứu mạng cho con cái). Thật là một tấn bi kịch hãi hùng!
Những người bị quy là địa chủ ngay lập tức bị tước mọi quyền làm người, bị hạ nhục, bị chà đạp, ngay lập tức phải thay đổi cách xưng hô trước nông dân, phải cúi đầu lễ phép "thưa các ông, các bà nông dân", phải xưng "con" trước mặt nông dân, dù đó chỉ là một đứa trẻ con. Còn nông dân thì tha hồ gọi người kia là "thằng kia", "mụ kia", "con kia", là "mày", "chúng bay" và tự xưng là "tao", "chúng tao", thậm chí có thể chửi mắng, xỉ vả. Chẳng ai dám làm trái lại cái "lệ mới" đó - đội tuyên bố phải đối xử như thế mới "nâng cao uy thế nông dân", mới "đánh gục giai cấp địa chủ" được! Không làm thế là "bênh địa chủ", "mất lập trường giai cấp", thậm chí "có liên quan với địa chủ"! Ngay cả đứa bé con cũng có thể mắng mỏ, sỉ nhục người lớn đã bị quy là địa chủ. Những người này, dù là thứ bậc thế nào trong họ tộc cũng đều bị bà con họ tộc xa lánh, để không "bị liên quan". Còn khi hành quyết người bị án tử hình thì những người thân thích, ruột thịt của người ấy, từ già cả cho đến trẻ con, đều bắt buộc phải có mặt để chứng kiến tận mắt cảnh tượng đó! Đúng là sự khủng bố tinh thần cực kỳ vô nhân đạo!
Một tình trạng thương tâm nữa là nhiều gia đình ở nông thôn (và cả ở thành phố có liên hệ với nông thôn) đã tan vỡ, con cái bơ vơ, vì khi một trong hai người có gia đình bị quy (hoặc bị kích lên) thành phần địa chủ, bị gán tội phản động, thì bên kia, tức là vợ hay chồng, sợ liên luỵ phải bỏ nhau. Nhiều người đi lập gia đình khác, có con hoặc chưa có con với chồng hay vợ mới. Đến sau này thấy sai, người bị bắt đi tù nay được trở về, thế là bao nhiêu chuyện rắc rối xảy ra đến nỗi Bộ tư pháp VNDCCH phải ra thông tư ngày 19.04.1956 để "giải quyết những vụ vợ chồng bỏ nhau". Thật là mỉa mai, người ta cho rằng có thể hàn gắn được tình cảm yêu thương trong gia đình đã bị thương tổn nặng nề bằng một tờ thông tư vô hồn của Bộ tư pháp! Tình yêu của nam nữ cũng bị xâm phạm nghiêm trọng giống hệt như thế - để giữ lập trường giai cấp ai cũng phải cắt đứt với người yêu thuộc thành phần địa chủ, phản động!
Đây cũng là một nét về đạo đức nữa cần phải nói đến. Chưa bao giờ sự giả dối trắng trợn được đề cao như trong CCRĐ. Chẳng cần phải nói tới việc các "anh đội", "chị đội" báo cáo láo cho đoàn, vì nó quá thường, mà cái cần vạch ra ở đây chính là người ta ép buộc, khuyến khích người nông dân nói dối, làm láo. Dần dà rồi người nông dân cũng thấy cần phải nói dối, làm láo để "qua khỏi cái đận CCRĐ", họ cũng "tố bậy", "tố điêu" dù trong thâm tâm biết mình đang nói dối, vu khống. Cũng có người cố giữ lương tâm trong sạch, nhưng thường họ phải trả giá đắt cho điều đó. Cho nên cơn dịch dối trá cứ lan tràn. Đội cũng dạy thêm cho nông dân quen làm những việc giả dối, chẳng hạn như dặn họ: khi thấy trên màn ảnh xuất hiện hình địa chủ thì phải hô "đả đảo", hay vừa hô vừa ném đá vào hình địa chủ để tỏ lòng uất hận của mình. Thế là nông dân cũng làm theo. Tất nhiên, cũng không loại trừ cái hiện tượng gọi là "tâm lý đám đông", khi người ta hành động như trong một cơn lên đồng tập thể. Chẳng hạn, mỗi lần chiếu phim "Bạch Mao Nữ" củaTrung Quốc, thì có nhiều người khóc nức nở, và khi xuất hiện hình địa chủ là bên dưới ào ào ném đá vào màn ảnh. Chính vì thế, các diễn viên kịch thường từ chối lên sân khấu đóng vai địa chủ vì sợ vỡ đầu sứt trán.
Chủ trương của UBCCRĐTW là trong các cuộc đấu địa chủ, nhất là địa chủ cường hào ác bá đều phải chuẩn bị rất chu đáo để ra "đấu trường" không được vấp váp. Thế là trước ngày đấu, mọi "rễ", "chuỗi", dân quân, công an, toà án, chủ tịch đoàn ... đều phải "diễn tập" như thật, ai lên "đấu" trước, ai lên "đấu" sau, "tố" thế nào, xỉa xói ra sao, nói gì, khi nào người "tố" phải cảm động khóc lóc, khi nào người dân phải hô "đả đảo" (khi người bị "tố" không nhận tội ...), lúc nào thì bắt địa chủ quỳ (quỳ là biểu hiện của sự "bị đánh gục"!), lúc nào thì "hoan hô" (khi toà tuyên án tử hình, tịch thu tài sản ...).
Chủ tịch đoàn những cuộc đấu lớn đều là "rễ", "chuỗi", cốt cán mới đào tạo trong vài tháng, nói năng ngượng nghịu, lúng ta lúng túng, điều khiển thế nào nổi, nên khi ra "đấu trường", thường "anh đội", "chị đội" phải ngồi sau lưng nhắc, như người nhắc tuồng (souffleur) ở rạp hát! Cũng có khi nhắc mãi không được, chủ tịch đoàn cuống lên, thì "anh đội" giật micro và điều khiển luôn. Tóm lại, một sự diễn kịch, một trò giả dối lố bịch, trắng trợn, mà không hề không biết ngượng! Nhưng cái nguy hại chính là sự giả dối đó cứ thấm dần vào tiềm thức cán bộ và người dân, tạo nên một nếp sống giả dối vô đạo đức của nhiều người!
Thứ tư. Tội phá huỷ truyền thống tâm linh và văn hoá của dân tộc. Bằng cuộc CCRĐ, ĐCS cố tình triệt hạ các tôn giáo và truyền thống tâm linh của dân tộc. Trước CCRĐ, các nhà thờ Thiên chúa giáo, các tu viện, nhà cô nhi ... đều có ruộng đất riêng, các chùa có ruộng hậu do tín chủ cúng cho chùa, các nhà thờ họ có ruộng họ, các đình có ruộng làng ... để lo việc sửa sang, tu bổ nhà thờ, chùa, đình, cúng tế hàng năm, việc từ thiện, v.v ... và để nuôi sống các linh mục, tu sĩ, tăng ni và những người chuyên lo việc trông nom, thờ phụng ... Nhờ thế hoạt động tôn giáo, tâm linh, từ thiện được tiến hành bình thường không có trở ngại. Nhưng với chính sách CCRĐ của ĐCS, tất cả các ruộng đất đó đều nhất loạt bị coi là ruộng đất phong kiến và bị trưng thu để chia cho nông dân.
Với cái đòn độc địa đó, tất cả các nhà thờ, tu viện, nhà cô nhi, chùa chiền, điện thờ, miếu mạo, nhà thờ họ, đình ... đều trở nên điêu đứng và đần dần tàn tạ. Riêng đối với nhà thờ Thiên chúa giáo, do phong trào giáo dân ồ ạt di cư vào Nam, nên về sau Đảng đã phải để lại cho các nhà thờ một ít ruộng đất. Người ta công nhiên dùng các cơ sở thờ cúng vào việc họp hành, đóng quân, làm hội trường, làm kho hợp tác xã mua bán, kho hợp tác xã sản xuất, v.v ... Có nơi thậm chí người ta cho các tượng Phật trôi sông. Nhiều nơi bà con tín đồ bí mật cứu các tượng Phật, đem chôn, đem giấu hầm kín, sau này phần lớn các tượng gỗ đều mục nát, thế nhưng cũng có ít tượng còn giữ được, vào thập niên 80 bà con mới đưa lại vào chùa. Tóm lại, cuộc sống tâm linh hoàn toàn bị xoá bỏ. Chữ "thiện", chữ "nhân" một thời gian dài chẳng ai dám nói đến, vì giữa lúc cái ác tràn đầy mà nói đến chữ "thiện", chữ "nhân" thì có thể bị coi là biểu hiện sự phản đối!
Trong lúc đó, người ta lại đề cao bạo lực, cổ vũ đấu tranh giai cấp, khuyến khích điều ác, điều bất nhân, điều vô đạo. Một điều rất quái dị trong CCRĐ mà ĐCS lại coi là tự nhiên hoặc là cần thiết: người ta thường xuyên huy động các cháu thiếu niên từ 9-10 tuổi trở lên tham gia CCRĐ. Bắt chúng mang trống ếch đi cổ động, đi "đả đảo", "hoan hô", tham dự các cuộc đấu tố, các phiên toà CCRĐ, các buổi hành quyết công khai. Nhiều cháu, nhất là các cháu gái, vốn có tâm lý hiền lành bị bắt buộc phải tham gia, đã không chịu nổi, run sợ, khiếp đảm, có cháu ngất xỉu trước cảnh hãi hùng, súng bắn, máu đổ ... Còn các cháu vốn có tâm lý hung dữ thì lại thích thú hoan hô, thậm chí sau khi "được" tham dự những cảnh tượng đó, có nơi chúng lại bày trò chơi "đấu tố", bắt con cái địa chủ quỳ để con cái nông dân lên đấu, cũng xỉa xói vào mặt, cũng xỉ vả, vạch tội ... Chẳng biết có ai xúi giục không, nhưng nhiều nơi đã xảy ra những "trò chơi" quái đản đó! Khi cái thiện bị nén xuống mà cái ác được cổ vũ, thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên là đạo đức bị suy đồi, băng hoại dưới chế độ của những người cộng sản. Tôi còn nhớ trong thời kỳ "cởi trói", đã được đọc truyện ngắn "Bước Qua Lời Nguyền" của Tạ Duyên Anh đăng trên tuần báo "Văn Nghệ" (1989) ở Hà Nội, truyện đó phản ánh phần nào tấn bi kịch của giới trẻ nông thôn đã lớn lên trong và sau cuộc CCRĐ đầy kinh hoàng. Không những CCRĐ đánh một đòn rất mạnh vào nền đạo lý và truyền thống nhân bản, mà nền văn hoá dân tộc cũng vì nó mà bị tổn hại rất nặng nề. Nhiều miếu đền uy nghiêm bề thế, nhiều bia đá là những di tích văn hoá lâu đời của dân tộc đã bị huỷ hoại trong CCRĐ. ĐCS giấu kín những chuyện này, nhưng cũng có thể nêu ra vài trường hợp. Mong rằng các bạn xa gần trong và ngoài nước sưu tầm và bổ sung thêm.
Chẳng hạn, cụ Nguyễn Mai (1876-1954) là hậu duệ đời thứ 14 của dòng họ Nguyễn Tiên Điền, gọi thi hào Nguyễn Du (1765-1820) đời thứ 11 là bác. Đầu năm 1954, lúc 78 tuổi cụ bị đội và đoàn CCRĐ quy là địa chủ (vì có vài mẫu cho phát canh để sống) lại bị "kích" lên thành phần phong kiến cường hào (vì cụ từng đỗ cử nhân khoa Canh Tý (1900) lúc 24 tuổi, lại đỗ Tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1904) lúc 28 tuổi), mà thật ra cụ không hề nhận chức tước, phẩm hàm gì, chỉ cam phận sống thanh nhàn ẩn dật.
Cụ bị đấu ba đêm liền, bị kết án 15 năm tù khổ sai, bị giam ở trại Đâng, tỉnh Hà Tĩnh, là nơi nước rất độc, nên ngay mùa thu năm ấy, cụ bị phù thũng chết trong trại tù, vùi xác ở ven rừng.
Cụ Nghè Nguyễn Mai từ trần trong uất hận là nỗi đau lớn, nhưng nỗi đau còn lớn hơn nữa cho dân tộc là do cụ bị quy oan như vậy, mà đội CCRĐ đã phá huỷ nhiều đền đài, bia, miếu thờ của các danh nhân họ Nguyễn Tiên Điền và nghiêm trọng hơn nữa đã đốt cháy ngôi nhà năm gian chứa đầy thư tịch quý giá của dòng họ Nguyễn Tiên Điền, trong đó có di cảo của thi hào Nguyễn Du. Một sự mất mát lớn lao về văn hoá không có gì bù lại được! (Xem sách "Bể Dâu Trong Dòng Họ Nguyễn Du" của Đặng Cao Ruyện, NXB Miền Đông Hoa Kỳ, 2002, tr. 200, 201).
Còn một chuyện này nữa. Trong cuộc hội nghị cán bộ do TW Đảng triệu tập sau khi có nghị quyết sửa sai trong CCRĐ hồi tháng 09.1956, tôi được nghe ông Cù Huy Cận, lúc đó là thứ trưởng Bộ văn hoá, nói ở cuộc họp tổ là tấm bia đá của Lê Lợi đã bị đội CCRĐ phá huỷ. Bộ văn hoá phải cấp tốc thuê làm bia khác giống hệt bia cũ rồi đặt vào chỗ cũ và phải tuyệt đối giữ bí mật để không ai biết là bia mới! Tôi không có điều kiện kiểm chứng, nhưng chẳng lẽ ông thứ trưởng văn hoá lại nói sai?!
*
Như trên tôi đã viết, tuy là chuyện CCRĐ đã qua từ lâu rồi, nhưng ngày nay, vẫn cần phải nói đến, vì ngày nay tập đoàn lãnh đạo ĐCS đang cố viết lại lịch sử, đang cho bọn bồi bút xuyên tạc lịch sử để chạy tội cho ông Hồ Chí Minh và cho ĐCSVN trong CCRĐ và cả trong nhiều việc khác nữa.
Cần phải nói công bằng là trước năm 1950, ông Hồ và ĐCSVN không nói đến CCRĐ, chỉ nói đến giảm tô, mà cũng chỉ trên giấy tờ và rất coi nhẹ việc thực hiện. Chỉ từ năm 1952, vấn đề giảm tô và CCRĐ mới đặt ra một cách gắt gao. Như vậy có thể nói là việc CCRĐ là do sức ép của Stalin và Mao Trạch Đông. Nhưng khi ông Hồ đã nhận làm CCRĐ là ông và ĐCSVN đã làm một cách tin tưởng và tích cực. Cũng có thể do yếu tố tâm lý của một người trước đây đã từng bị Stalin và Quốc tế Cộng sản coi là hữu khuynh, thậm chí bị nghi ngờ, không giao việc trong thời hạn dài, nay lại bị nhận xét là coi nhẹ nhiệm vụ phản phong, thì ông càng phải cố tỏ rõ tinh thần mẫn cán, kiên quyết của mình.
Quả là hồi đó, ông Hồ và ĐCSVN cũng thật tình rất tin tưởng vào Stalin và Mao Trạch Đông. Chẳng thế mà ông đã công khai nói trước hội nghị cán bộ (1950) tại chiến khu Việt Bắc để chuẩn bị cho đại hội 2 của ĐCS sẽ họp năm sau là: "Các cô các chú nên biết rằng: ai đó thì có thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Đông thì không thể nào sai được". Chính tôi có mặt trong cuộc hội nghị đó, tôi nghe rõ, nhiều người khác cũng nghe rõ như thế, có điều bây giờ họ không muốn hay không dám nhắc lại mà thôi.
Đến đại hội 2 của Đảng (tháng 03.1951), ông Hồ lại cũng nói đúng như thế, và cụ Nguyễn Văn Trấn cũng đã kể lại chuyện đó trong sách của cụ "Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội". Cho nên ông Hồ làm CCRĐ rõ ràng với sự tin tưởng và tích cực. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà cụ Vũ Đình Huỳnh, người gần gũi ông nhất thời gian đó sau này đã "khẳng định người chịu trách nhiệm chính trong sự gây ra những sai lầm trong CCRĐ là ông Hồ Chí Minh, chứ không phải ông Trường Chinh, như đã có sự ngộ nhận kéo dài nhiều năm. Trường Chinh là con dê tế thần cho sai lầm của ông Hồ" (xem "Đêm Giữa Ban Ngày" của nhà văn Vũ Thư Hiên).
Theo tôi, đúng là ông Hồ phải chịu trách nhiệm chính, như cụ Vũ đã nói, nhưng Trường Chinh chẳng phải là "con dê tế thần" với cái nghĩa "oan dương" đâu, vì ông ta vừa là Tổng bí thư, vừa là chủ nhiệm UBCCRĐTW, ông ta là người điều hành mọi việc CCRĐ hồi đó, cho nên, nếu Trường Chinh không phải là thủ phạm số một thì cũng phải là thủ phạm số hai. Cái ý của cụ Vũ, theo tôi hiểu, là TW Đảng trong hội nghị lần thứ (09.1956) đã không đả động gì đến Hồ Chí Minh, đã không dám nói đến trách nhiệm của ông Hồ (vì thi hành kỷ luật Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước thì ... ôi thôi, ĐCS còn gì nữa!) mà chỉ đưa Trường Chinh và các ông khác ra "chịu trận" mà thôi.
Sau này, trong giới thân cận với giai cấp cầm quyền, có những người hay tung ra những câu chuyện về Hồ Chí Minh không tán thành chủ trương CCRĐ, không tán thành việc xử tử bà Nguyễn Thị Năm, không tán thành làm Chỉnh đốn tổ chức trong CCRRĐ, v.v ... Nhưng, xét cho cùng, loại chuyện đó chỉ là những huyền thoại không hơn không kém. Những huyền thoại ấy nhằm đánh lừa những người không biết tình hình thực tế hồi thập niên 50 ở miền Bắc và những thế hệ trẻ hậu sinh, nhằm chạy tội cho ông Hồ để vớt vát cái gọi là "tư tưởng Hồ Chí Minh" làm phao cứu mạng cho tập đoàn thống trị cộng sản.
Hoàng Tùng, nguyên tổng biên tập báo Nhân Dân, nguyên bí thư TW ĐCSVN, nhiều năm làm tuyên huấn, v.v ... là một trong số những "chuyên gia" sáng tác huyền thoại kiểu đó. Trong hồi ký "Những Kỷ Niệm Về Bác Hồ", ông ta có kể lại về thái độ của ông Hồ đối với án tử hình bà Nguyễn Thị Năm như sau: "Họp Bộ chính trị Bác nói: "Tôi đồng ý người có tội thì phải xử thôi, nhưng tôi cho là không phải đạo nếu phát súng đầu tiên lại nổ vào người đàn bà, mà người ấy cũng giúp đỡ cho cách mạng. Người Pháp nói không nên đánh đàn bà, dù chỉ đánh bằng một cành hoa". Sau cố vấn Trung Quốc La Quý Ba đề nghị mãi, Bác nói: "Thôi tôi theo đa số, chứ tôi vẫn cứ cho là không phải". Và họ cứ thế làm" (xem đoạn trích, đăng trên tờ "Diễn Đàn Forum" ở Paris, số 123/11.2002, tr.15).
Khi kể chuyện này, Hoàng Tùng đã cố lờ đi mấy điều thực tế lịch sử rất quan trọng: 1/ vào thời điểm nửa đầu thập niên 50, uy thế của ông Hồ trong Đảng là tuyệt đối, một lời của ông đã nói ra thì không một ai, kể cả các ông trong BCT, dám làm trái ý ông hết; 2/ tất cả các ông trong BCT TW, không trừ một ai hết, đều răm rắp giữ đúng tư cách một người học trò khiêm tốn, không bao giờ được phép quyết định những chủ trương lớn mà không có ý kiến ông, huống hồ là việc làm trái ý ông. Hồi 1952-1953 thì không thể nào có chuyện "Thôi tôi theo đa số" và "Và họ cứ thế làm" được! Nếu thật sự ý thức được là "không nên đánh đàn bà, dù chỉ đánh bằng một cành hoa", mà ông Hồ chỉ lắc đầu một cái thôi, chứ không cần phải nói nhiều lời như Hoàng Tùng kể, thì chắc chắn là ông đã cứu được bà Nguyễn Thị Năm! Mà không chỉ một mình bà Năm! Thêm nữa, cái chữ "họ" trong câu của Hoàng Tùng "Và họ cứ thế làm" rất mập mờ: "họ" là ai? Các ông trong BCT hay các cố vấn ?. Các ông trong BCT thì chắc chắn là không. Còn các ông cố vấn có thể họ trái ý với ông Chủ tịch nước, Chủ tịch Đảng của Việt Nam, nhưng họ không thể bắt ép ông được, họ chỉ là cố vấn, chứ không có quyền biểu quyết, quyết định. Những cơ quan nào đã từng làm việc với cố vấn Trung Quốc hồi đó đều biết cái nguyên tắc đó. Cho nên có thể khẳng định rằng: Trong vụ án Nguyễn Thị Năm, đúng là ông Hồ đã không cứu bà Năm. Cũng như sau này, trong vụ án Xét lại - chống Đảng, ông đã không cứu ông Vũ Đình Huỳnh. Dù rằng ông biết rõ về họ.
Hơn nữa, một câu hỏi hoàn toàn chính đáng được đặt ra: trong suốt ba-bốn năm đằng đẵng lẽ nào ông Hồ và BCT không hề hay biết gì hết đến những thảm hoạ của người dân ở nông thôn mà họ cai trị hay sao ? Lẽ nào ông Hồ, Trường Chinh và các ông khác trong BCT không biết rằng ở quê hương mình những người đồng hương của họ đang khốn khổ ra sao ? Lẽ nào trong giới thân cận của ông Hồ và các uỷ viên BCT không có một ai dám phản ánh tình trạng bi đát của người dân cho họ biết hay sao ? Câu trả lời dứt khoát là: các ông ấy đều có biết, nhưng các ông đều im lặng!. Im lặng đến nỗi ông Vũ Đình Huỳnh một lần đang ốm cũng cố chống gậy lên Chủ tịch phủ gặp ông Hồ và nói toạc vào mặt ông: "Máu đồng bào, đồng chí đã đổ mà Bác ngồi yên được à ? Chúng ta tuy không có học, chúng ta dốt, chúng ta phải vừa làm vừa xây dựng chính quyền, vì dốt nát chúng ta mắc mọi sai lầm, nhưng chúng ta không có quyền để tay chúng ta nhuốm máu đồng bào, đồng chí!" (Xem "Đêm Giữa Ban Ngày").
Hoàng Tùng cũng đã lờ tịt cái thực tế lịch sử phũ phàng này: Trong suốt thời gian CCRĐ, ông Hồ, với tư cách là Chủ tịch nước, chưa hề ký một lệnh ân xá nào cho một ai bị án tử hình. Chỉ từ sau Đại hội lần thứ 20 ĐCS Liên Xô và nhất là sau hội nghị cán bộ cao cấp và trung cấp của Đảng (từ 28.04 đến 03.05.1956), do phản ứng rất mạnh của cán bộ thì mới có lệnh tạm thời chưa thi hành các án tử hình. Nhưng, than ôi, lúc đó thì ... CCRĐ về cơ bản đã gần xong rồi! Lúc đó các đoàn và UBCCRĐTW đang bắt tay làm báo cáo tổng kết để chuẩn bị cho hội nghị TW Đảng kiểm điểm CCRĐ (tháng 09.1956).
Ngay cả việc Chỉnh đốn tổ chức trong CCRĐ, Hoàng Tùng cũng cố tình đổ lỗi cho cố vấn Trung Quốc là chính, chứ không phải lỗi của ông Hồ và ĐCSVN. Ông Tùng viết: "Thuyết của họ là không dựa vào tổ chức cũ mà tổ chức lại một số tổ chức của Đảng, họ phủ nhận hết các tổ chức khác, như chính quyền, các đoàn thể. Ai lãnh đạo cách mạng tháng tám thành công, ai lãnh đạo cuộc kháng chiến từ năm 1945 đến năm 1953. Thế mà họ thẳng tay bỏ hết, trong đó có mấy ngàn người bị xử tử. Mục đích của họ không phải là CCRĐ mà là đánh vào Đảng ta. May mà dến năm 1956 ta kịp dừng lại (bao nhiêu đầu rơi, máu đổ và CCRĐ cũng đã gần xong, thế mà bảo là "kịp"! - Người viết), nếu không thì taan nát hết". Một đoạn khác: "Đánh thuế công thương nghiệp, cải tạo tư sản cũng là do Trung Quốc đề ra. Hậu quả là hơn một triệu người di cư vào Nam. Ta đổ tội cho Pháp, Mỹ, điều đó chỉ đúng phần nào, còn là do ta vội, làm ẩu, đánh tràn hết. Không phải địa chủ mà phú nông, thậm chí trung nông cũng đánh. Đảng viên tốt cũng bị đánh. Kết quả của những chính sách, cải cách lúc đó là như thế" (xem tờ "Diễn Đàn Forum" nói trên). Đúng là các cố vấn Trung Quốc chỉ biết có kinh nghiệm CCRĐ ở Hoa Nam, khi Hồng quân tiến xuống phía Nam, hầu như không có cơ sở tổ chức của ĐCS, nên có nhiều người không phải cộng sản cũng đã đứng ra lập tổ chức, lập chính quyền, vì thế khi làm CCRĐ thì ĐCS Trung Quốc cố tình nhân cơ hội ấy quét sạch các tổ chức đó đi lập những tổ chức mới của họ. Còn ở miền Bắc Việt Nam, tình hình hoàn toàn khác hẳn. Không thể làm rập khuôn theo kinh nghiệm Hoa Nam được. Tôi cũng chẳng thích gì các cố vấn Trung Quốc, nhưng tôi nghĩ rằng cần phải xét vấn đề khách quan theo đúng sự thật lịch sử, chứ không thể đổ lỗi, đổ tội tùm lum cho họ tất cả được. Ông Hồ và BCT TW ĐLĐVN sống và làm việc ở Việt Nam, có phải là trẻ con đâu mà bảo các ông cố vấn Trung Quốc xúi gì là làm nấy ? Chẳng qua chỉ vì khi đã say men "lập trường giai cấp đấu tranh", say men Marxisme-Leninisme, Stalinisme, Maoisme ... trong cuộc lên đồng tập thể, thì chính các ông lãnh tụ cộng sản Việt Nam cũng "hăng hái" không kém gì người ta. Tôi còn nhớ, có lần đọc bài nói chuyện của ông Hồ với cán bộ CCRĐ đăng trên tờ nội san "Cải cách Ruộng đất" (tạp chí lưu hành trong nội bộ), trong đó ông giải thích rất mộc mạc chủ trương không được dựa vào tổ chức cũ như sau: "Tổ chức cũ là "tổ kén", các cô, các chú không được dựa vào ...". Lại cũng cái lối dùng hình ảnh như việc uốn tre đã nói trên! Năm 1962, khi nói chuyện về Tuyển tập Hồ Chí Minh với anh Nguyễn Kiến Giang, lúc đó là phó giám đốc Nhà xuất bản Sự Thật, anh kể rằng: "Làm tuyển tập đó chúng tôi mệt lắm, phải rà soát lại cả, bao nhiêu bài nói của ông cụ trong CCRĐ phải loại bỏ hay thu gọn lại". Tôi hỏi anh có nhớ bài ông cụ nói "Tổ chức cũ là "tổ kén" không ? Anh trả lời: "Có chứ! Bài đó phải loại bỏ. Cán bộ đảng viên nông thôn người ta đang oán giận đùng đùng, đưa vào tuyển tập thế nào được!". Nếu ông Hồ không tán thành chủ trương của các cố vấn đối với tổ chức cũ ở nông thôn thì có ai bắt ông phải nói thế đâu ?
Tôi kể lại những chuyện đó chỉ để đi đến kết luận này: ĐCSVN chớ nên đổ lỗi, đổ tội cho ai cả, mà cần thấy hết cái trách nhiệm lớn lao của mình trong CCRĐ. Chừng nào ĐCSVN chưa sám hối được về những tội ác đã gây ra, thì người dân chớ có hy vọng là Đảng sẽ sửa đổi, sẽ đổi mới và sẽ không tái diễn lại những tội ác trước đây.
Cũng xin mọi người đừng quên: CCRĐ không phải là thảm hoạ đầu tiên, cũng chẳng phải là thảm hoạ cuối cùng mà tập đoàn thống trị cộng sản Việt Nam đã gây ra cho dân tộc ta!. Tôi không kể những thảm hoạ trước CCRĐ, mà chỉ nói ngay liền sau CCRĐ là vụ án Nhân Văn - Giai Phẩm, vụ án Xét lại - chống Đảng, rồi Cải tạo công thương nghiệp, đánh đổ tư sản ở miền Bắc, rồi cái nghị quyết số 49/NQ/TVQH của Thường vụ Quốc hội do Trường Chinh ký ngày 20.06.1961, nhốt hàng chục vạn người vô tội ở miền Bắc vào các trại tập trung khủng khiếp, rồi Tết Mậu Thân, v.v ... và v.v ... Nếu kể hết thì ta thấy cả một chuỗi dài tội ác khủng khiếp đã qua và đang tiếp tục mãi cho đến tận ngày nay. Cố nhiên, ngày nay người ta dùng thủ đoạn tinh vi hơn, nhưng bản chất tội ác vẫn thế.
Tội ác mới gần đây nhất là vụ án Lê Chí Quang, xử một nhà yêu nước chân thành, một chí sĩ đáng kính dù chỉ mới ngoài ba mươi tuổi! Cái "tội" của anh là đã dũng cảm dấn thân vì nước, đã dám kêu gọi đám cầm quyền hiện nay hãy cảnh giác kẻo mang tội bán nước cho Bắc triều, đã dám đứng chân vào "Hội Nhân Dân Chống Tham Nhũng" những mong trừ được quốc nạn cho dân tộc. Tập đoàn thống trị cộng sản Việt Nam đã trắng trợn bày trò xử án để tống người thanh niên yêu nước vào tù, người thanh niên đã từng tuyên bố đanh thép chí hướng của anh trong bài tiểu luận nổi tiếng "Hãy Cảnh Giác Với Bắc Triều": "Tôi viết bài này khi đang bị kìm kẹp trong vòng nghiệt ngã của các lực lượng bảo thủ và tay sai cho Bắc Triều. Biết rằng, bài viết này không làm cho hào quang lấp lánh trên đầu tôi mà trái lại, càng đẩy tôi sâu thêm vào vòng nguy hiểm. Ngay như đối với một công thần của cách mạng, mà họ còn ngang nhiên tuyên bố xanh rờn: "...Sẵn sàng hy sinh Hoàng Minh Chính để bảo vệ chế độ". Huống chi tôi chỉ là con tốt đen dễ dàng bị biến thành vật tế thần cho bàn thờ Bắc Triều. Dẫu sao trước hiểm hoạ khôn lường của tồn vong đất nước, tôi đâu dám nề hà xả thân, bởi tôi tâm niệm câu nói của Hàn Phi Tử: "Nước mất, mà không biết là bất tri. Biết mà không lo liệu, là bất trung. Lo liệu, mà không liều chết là bất dũng". Chỉ mong sao tấc lòng nhỏ mọn này, được lương tri dân tộc trong và ngoài nước soi thấu, và hết lòng, hết sức chỉ giáo" (01.10.2001).
Rất mong rằng trong dịp nhớ lại thảm hoạ CCRĐ, "lương tri dân tộc trong và ngoài nước", nhất là lương tri giới trẻ nhận thức rõ rằng chế độ độc tài đảng trị mà còn thì những thảm hoạ tương tự vẫn sẽ còn tiếp tục, vì tập đoàn thống trị cộng sản không tôn trọng con người, không tôn trọng sinh mạng và quyền tự do của con người, không tôn trọng luật pháp mà chỉ coi trọng quyền lực của họ là tối thượng mà thôi. Nhắc lại thảm hoạ CCRĐ, chúng tôi rất mong mọi người, nhất là giới trẻ noi gương Lê Chí Quang, thêm quyết tâm tranh đấu sớm xoá bỏ chế độ độc tài nhằm chuyển hoá đất nước ta thành một xã hội dân chủ đích thực, tạo điều kiện cho sự phát triển và phồn vinh của Tổ quốc chúng ta.
15.12.2002
Nguyễn Minh Cần
--------------------------------------------------------------------------------
Giới thiệu về tác giả
Ông Nguyễn Minh Cần sinh năm 1928 tại Huế. Ông vào đảng Cộng sản Ðông Dương năm 1928;
Từ năm 1954 đến 1962 ông làm Ủy viên thường vụ Thành ủy Hà Nội, Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội, chủ nhiệm báo Thủ đô Hà Nội.
Năm 1962 ông Nguyễn Minh Cần được đảng Lao động Việt Nam (nay là đảng CSViệt Nam) cử đi học trường Ðảng Cao cấp tại Liên Xô.
Trong thời gian này, phe Lê Duẩn và Lê Ðức Thọ, lúc đó ngả theo đường lối chống Liên Xô của đảng CS Trung Quốc, đã mở một chiến dịch truy bức quy mô nhằm thanh toán những người mà họ cho là có tư tưởng theo chủ nghĩa xét lại của Liên Xô. Nhiều đảng viên và ngay cả những trí thức không dính dáng gì đến đảng Lao động Việt Nam cũng bị hãm hại một cách đê tiện. Trước tình hình đó, ông Nguyễn Minh Cần và một số đảng viên cao cấp khác của đảng Lao động Việt Nam đã quyết định xin cư trú chính trị tại Liên Xô. Mặc dù Liên Xô đã từ chối lời yêu cầu của Việt Nam và không giao trả ông cho Việt Nam nhưng đã bắt ông không được phép hoạt động chính trị nữa và phải đổi cả tên họ (thành tên Nga) để bảo toàn an ninh. Vợ và các con của ông ở Việt Nam bỗng nhiên trở thành nạn nhân của chính sách trả thù hèn hạ của tập đoàn thống trị CS Việt Nam.
Từ năm 1989 ông Nguyễn Minh Cần đã tham gia tích cực vào "Phong trào nước Nga Dân chủ", một phong trào vận động dân chủ lớn tại Nga. Cùng với người vợ Nga, ông Nguyễn Minh Cần đã tham gia vào chiến dịch bảo vệ Tòa Nhà trắng của Phong trào và phá vỡ cuộc đảo chánh của phe nhóm CS tại Nga vào tháng 8 năm 1991. Ông Nguyện Minh Cần hiện đã về hưu. Phần lớn thời giờ ông dành để nghiên cứu Phật học và viết các bài nghiên cứu chính trị. Ông hiện là một nhân sĩ và là một cây bút quen thuộc và được quí mến ở Mỹ và Âu Châu. Quyển sách "Công lý đòi hỏi" (nhà xuất bản Văn Nghệ, California, 1998) là tập hợp những bài viết của ông từ 1992 đến 1998.
Tác phẩm thứ hai sắp được xuất bản tác giả Nguyễn Minh cần là quyển sách "Ðảng Cộng sản Việt Nam qua những biến động trong phong trào cộng sản quốc tế". Ðiểm đặc biệt là quyển sách được viết dựa trên những nhận thức mới, nhờ tác giả được vào tham khảo tại Kho Lưu trữ của Quốc tế Cộng sản tại Moskva, nay là Trung tâm Lưu trữ Văn kiện Lịch sử Hiện đại (RSKHIDNI).
(Nguồn: http://canhsatquocgia.com/toiac1.htm)
mercredi 13 juin 2007
Phỏng Vấn Nhân Vật Trực Tiếp Tham Gia Hai Cuộc Cách Mạng Tháng Tám
Phỏng Vấn Nhân Vật Trực Tiếp Tham Gia Hai Cuộc Cách Mạng Tháng Tám
Bảo Vũ
“Trong cuộc Cách Mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam lúc bấy giờ tôi còn rất trẻ, 17, 18 tuổi thôi; cho nên ý thức chính trị cũng không rõ ràng lắm. Vì thế, khi tham gia cuộc cách mạng đó, tôi đã vô tình đưa Đảng Cộng Sản lên nắm chính quyền. Còn đến cuộc Cách Mạng Tháng Tám ở Nga, ngày 19 tháng 8 năm 1991, tôi tham gia cách mạng lúc bấy giờ với ý thức rất rõ ràng là để hạ bệ Đảng Cộng Sản xuống; vì tôi ý thức được rất rõ ràng sự thống trị của Đảng Cộng Sản gây ra bao nhiêu tai họa cho người dân.”
LỜI DẪN: Thưa quý thính giả, ông Nguyễn Minh Cần, người nói câu vừa rồi có lẽ là người Việt duy nhất từng trực tiếp tham gia hai cuộc cách mạng tại hai phương trời khác nhau: Việt Nam và Liên Sô.
Sau khi Việt Nam bị chia cắt thành hai miền Nam Bắc, người “vô tình đưa Đảng Cộng Sản lên nắm chính quyền” vừa đề cập, đã nắm giữ một số chức vụ trong chính quyền ở miền Bắc, trong đó có chức Ủy Viên Thường Vụ Thành Ủy Hà Nội, Phó Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chính Thành Phố Hà Nội và Chủ Nhiệm báo Thủ Đô Hà Nội.
Trong mục Thời Sự Quốc Tế Chủ Nhật tuần này và tuần tới, Bảo Vũ sẽ mời quý vị nghe quan điểm của nhân vật độc đáo này.
Tuy nhiên, trước hết chúng tôi xin nói qua về ông:
Ông Nguyễn Minh Cần sinh năm 1928 tại Huế, gia nhập Đảng Cộng Sản vào tháng Năm năm 1946.
Tuy nhiên, đến năm 1962, khi được gởi đi du học tại Liên Sô, vì bất đồng quan điểm với giới lãnh đạo Đảng, ông đã xin tỵ nạn chính trị.
Ông Nguyễn Minh Cần hiện cư ngụ tại thủ đô Mas Cơ Va của Nga.
Ông cho biết tiếp:
NGUYỄN MINH CẦN: Thực ra thì vai trò của tôi trong Cuộc Cách Mạng Tháng Tám ở Việt Nam cũng rất nhỏ. Lúc bấy giờ tôi vẫn chưa phải là đảng viên Cộng Sản.
Lúc đó tôi còn là một thanh niên 17 tuổi tham gia vào phong trào cách mạng vào thời kỳ đó. Tôi tham gia vào hồi sau tháng Ba năm 1945 tức là trước Cuộc Cách Mạng Tháng Tám. Cho nên vai trò của tôi rất nhỏ nhoi.
Nhưng thời buổi lúc bấy giờ thì cờ đến tay phải phất. Cơ hội nghìn năm có một để cho đất nước mình được giải phóng.
Vì thế những anh em học sinh, bạn trẻ của chúng tôi, 17,18 tuổi, tập hợp lại với nhau theo tiếng gọi nổi dậy để đi cướp chính quyền.
Lúc bấy giờ chúng tôi cướp chính quyền trong khu vực Thành Phố Huế; đồng thời tiến ra các vùng phụ cận của Thành Phố Huế.
Thời kỳ đó vai trò của tôi nó nhỏ nhoi như vậy.
Chúng tôi làm việc đó với tất cả tấm lòng của tuổi trẻ.
BẢO VŨ: Thưa ông, ông tham gia Cuộc Cách Mạng Tháng Tám là ông tham gia theo lời kêu gọi của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Phải vậy không ạ ?
NGUYỄN MINH CẦN: Phải nói thật với anh rằng lúc bấy giờ Đảng Cộng Sản không hề ra mặt. Không hề ra mặt.
Lúc bấy giờ chúng tôi được tin ở ngoài Hà Nội đã vùng lên khởi nghĩa rồi. Trong Huế đồng bào rất sôi sục. Chính quyền lúc bấy giờ hầu như không còn nữa. Phải nói rằng tình thế lúc bấy giờ chính quyền cũ như là một trái cây chín muồi nó rụng xuống, ai muốn lượm thì lượm.
Thế cho nên chúng tôi hăng hái đứng ra làm việc ấy.
Tất nhiên cái đó cũng có sự liên quan và ảnh hưởng của những người cộng sản; vì lúc bấy giờ, tôi còn nhớ những người cộng sản có tìm cách liên hệ với chúng tôi.
Chúng tôi cũng tìm cách liên hệ với họ để hỏi ý kiến, trao đổi nhau. Chứ chúng tôi làm là làm với tinh thần như vậy.
Lúc bấy giờ rất nhiều người không hề biết có Đảng Cộng Sản lãnh đạo, hay có ai lãnh đạo hết.
Tình thế nó đến thì dân chúng nổi dậy.
Đấy là tinh thần chung của thời kỳ 45 nó như vậy.
BẢO VŨ: Thưa ông, ông vừa nói là Đảng Cộng Sản không hề ra mặt. Thế nhưng các tài liệu tại Việt Nam thì nói rằng Đảng Cộng Sản đã lãnh đạo nhân dân để đứng lên lật đổ … để đứng lên làm cuộc cách mạng. Thưa ông như vậy thì vấn đề nó như thế nào ạ? Ong có thể vui lòng giải thích thêm ?
NGUYỄN MINH CẦN: Phải nói rằng Đảng Cộng Sản họ có vai trò của họ. Nhưng tình thế lúc bấy giờ ở nhiều địa phương chưa có Đảng Cộng Sản đâu ….
BẢO VŨ: Ở Huế thì sao ạ ?
NGUYỄN MINH CẦN: … Bây giờ mọi người cần phải biết là Đảng Cộng Sản lúc bấy giờ không đông.
Bây giờ trên sách báo (tại Việt Nam) người ta bảo rằng có 4.000 người trong Đảng.
Nhưng thực ra, sau này chúng tôi tìm hiểu và hỏi những người lãnh đạo Đảng Cộng Sản hồi bấy giơ, thì họ bảo rằng thực tế chỉ độ năm, sáu trăm người trong cả toàn quốc.
Đảng Cộng Sản lãnh đạo ở phía miền Bắc thì có. Ở miền Trung rất là ít. Còn ở miền Nam thì tôi không biết.
Vấn đề ảnh hưởng của Đảng lúc bấy giờ thì chắc có lẽ là ảnh hưởng về mặt đường lối, chủ trương thế nào đấy.
Chứ còn người dân họ không biết, họ không nghe nói là cộng sản hay không cộng sản gì cả.
Cần nổi dậy là nổi dậy để cướp chính quyền. Cái tâm của người dân lúc bấy giờ nó như thế.
Còn bây giờ, tất nhiên người ta phải tuyên truyền vai trò của Đảng, phải nói rất mạnh mẽ, đầy đủ dẫn chứng này nọ.
Nhưng mà lúc bấy giờ Đảng Cộng Sản dấu mặt . Dấu mặt cho đến năm 1946 thậm chí Đảng Cộng Sản tuyên bố giải tán và lấy tên là Hội Nghiên Cưú Chủ Nghĩa Mác.
BẢO VŨ: Thưa ông, ông nghĩ thế nào về chủ nghĩa cộng sản ?
NGUYỄN MINH CẦN: Tôi nghĩ rằng chủ nghĩa cộng sản là một tư tưởng. Nó đã xuất hiện trong ý niệm của con người từ xưa và dần dần cho đến nay vẫn còn.
Đó là ý niệm có tính chất không tưởng.
Người ta ước mơ có một xã hội tốt đẹp không còn giai cấp, không còn bóc lột, không còn giàu nghèo, tất cả đều giống nhau hết, v.v.
Trước đây, ngày xưa trong tâm trí của những người nghèo khổ họ đều mơ ước như vậy.
Nhưng mà nói về chủ nghĩa cộng sản của ông Mác, ông Lê Nin, của ông Hồ Chí Minh, của ông Mao Trạch Đông thì phải nói rằng đó là một chủ nghĩa đầy ảo tưởng.
Người ta tưởng rằng có thể tạo ra một xã hội tốt đẹp tốt đẹp như thế trên quả đất này bằng … Bằng cái gì?
Bằng xương, bằng máu, bằng đấu tranh giai cấp, bằng bạo hành, tức là bạo lực.
Nhưng mà kết quả cho ta thấy họ không đạt được xã hội tốt đẹp mà họ mong muốn.
Mà trái lại người dân phải tiếp nhận một xã hội đầy đau thương, đầy đau khổ, đầy nước mắt, đầy máu. Đấy là một thực tế.
Một thực tế khác nữa là: ở Liên Sô, ở nước Nga cũ đã chứng minh trong hơn 70 năm trời. Ở Việt Nam, ở Trung Quốc, ở Bắc Triều Tiên, ở Cuba thực tế cũng đã chứng minh rất rõ rệt những điều như thế.
Cho nên về chủ nghĩa cộng sản thì phải nói hai mặt: một ước mơ rất tốt đẹp của con người. Nhưng mặt khác, vấn đề thực hiện, áp dụng vào thực tế của ông Mác, ông Lê Nin, của ông Mao Trạch Đông, của ông Kim Nhật Thành, của ông Hồ Chí Minh, của ông Fidel Castro thì chúng ta thấy rằng nó chỉ đem lại xương máu cho đồng bào, đau khổ cho đồng bào mà thôi.
BẢO VŨ: Ông vừa nói chủ nghĩa cộng sản là thứ chủ nghĩa không tưởng. Bây giờ xin hỏi ông như sau: ông nhận xét như thế nào về người lãnh đạo cuộc Cách Mạng Tháng Tám năm 1945 tại Việt Nam, tức là ông Hồ Chí Minh ạ ?
NGUYỄN MINH CẦN: Ong Hồ Chí Minh là một nhân vật lịch sử. Tôi nghĩ rằng đã là nhân vật lịch sử thì để cho lịch sử, để cho nhân dân khách quan nhận xét. Tôi không phải là nhà sử học cho nên tôi không muốn đi sâu vào việc nhận xét ông Hồ Chí Minh.
Nhưng mà tôi muốn nói mấy điều:
Trước hết mình phải biết ông Hồ Chí Minh vẫn là một con người như tất cả những con người khác.
Người ta muốn huyền thoại hóa ông Hồ Chí Minh; và chính bản thân ông Hồ Chí Minh cũng muốn huyền thoại hóa mình.
Tôi nói điều đó để cho thấy là những điều về ông Hồ Chí Minh mà người ta nói ra chưa chắc đã thật, mà đó là huyền thoại.
Tôi nói “ông Hồ Chí Minh tự huyền thoại hóa mình” thì điều đó tôi nói có sách mách có chứng:
Chính ông Hồ Chí Minh tự nhận mình là nhà báo ký tên Trần Dân Tiên để viết về tiểu sử của mình, để tô đẹp cho mình, để tự coi mình là Cha Già Của Dân Tộc.
Đấy, điều đó cho thấy chính ông tự huyền hoặc mình.
Vì thế cho nên tôi muốn nói rằng phải nhìn vào con người Hồ Chí Minh như nhìn vào con người thật, tức là có mặt tốt, mặt xấu.
Bây giờ lịch sử càng ngày càng gỡ ra những mặt mà trước đây người ta huyền thoại hóa. Nào là ông ra đi để cứu nước cứu nhà.
Nhưng cho tới nay, bao nhiêu tài liệu lịch sử cho thấy những điều huyền thoại hóa đúng sai ra sao ? Sự thật lịch sử cho thấy những điều đó chẳng qua chỉ là huyền thoại thôi.
Nào là ông không vợ không con, một lòng một dạ, toàn tâm toàn ý, chỉ để cho cách mạng mà thôi. Nhưng bây giờ càng ngày người ta càng gỡ ra những việc trong đời tư của ông, v.v. và v.v. Tôi không nói hết.
Đó là một điểm. Điểm thứ hai nữa là những lời ông nói và những việc ông thực hiện khác nhau.
Chẳng hạn như trước khi làm cuộc Cách Mạng Tháng Tám, ông kêu gọi và ông nói rất nhiều, đồng thời hứa hẹn rất nhiều: nào là tự do, nào là dân chủ, nào là tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, v.v.
Nhưng đến khi cầm quyền rồi thì những điều đó không được thực hiện. Không được thực hiện dưới thời của ông mà còn cả dưới thời những nguời kế tục ông nữa.
Cho đến bây giờ đất nước vẫn không có dân chủ.
Cho nên nhận xét về ông Hồ Chí Minh thì mình phải nhận xét khách quan trên tinh thần như vậy. Không nên huyền thoại hóa mà nên coi ông như con người, con người trong lịch sử và để cho lịch sử nhận xét.
Nói một từ cho thật xứng đáng là: hãy để cho lịch sử phán xét và đặt vị trí của ông đúng vào cái thực tế của lịch sử.
BẢO VŨ: Thưa ông, đất nước Việt Nam trong suốt hơn nửa thế kỷ qua đã trải qua rất nhiều biến động. Và một trong những biến động lớn nhất là cuộc Cách Mạng Tháng Tám năm 1945. Thưa ông các thế hệ sau này tại Việt Nam, tức là những thành phần sinh sau năm 1945, đặc biệt giới trẻ hiện nay tại Việt Nam có thể rút ra được bài học gì cuộc cách mạng đó ?
NGUYỄN MINH CẦN: Cuộc Cách Mạng Tháng Tám là một biến động rất lớn, nó thay đổi lịch sử của Việt Nam.
Biến động đó chứng tỏ lòng yêu nước của người dân Việt Nam. Tuy bị đô hộ trong suốt gần một thế kỷ; thế nhưng người dân vẫn nung nấu lòng yêu nước và chờ khi có cơ hội là vùng lên.
Điểm thứ hai là lòng thiết tha đối với dân chủ.
Không những người ta muốn thoát khỏi chế độ nô lệ, chế độ thuộc địa mà người ta còn muốn trở thành một con người thật, con người có quyền.
Tiếc thay, khi Cách Mạng Tháng Tám thành công, người dân vẫn chưa có quyền thực sự; và cho đến nay người dân vẫn chưa có quyền thực sự.
Cho nên bài học Cách Mạng Tháng Tám là để cho giới trẻ ở đất nước ta thấy rằng, họ phải có phần đóng góp vào công cuộc chung để tiếp tục cuộc cách mạng đó.
Tức là làm sao để cho người dân có quyền, để cho người dân được hưởng dân chủ, được hưởng nhân quyền.
Nghĩa là nguời dân là một con nguời thực sự; được ăn nói tự do, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp.
Tự do thực sự chứ không phải sống dưới sự kìm kẹp của một đảng độc tôn nắm quyền.
Cho nên bài học lớn là: cuộc cách mạng chưa thành công đâu mà phải tiến tới hoàn thành nhiệm vụ dân chủ hóa nước nhà.
Trong vấn đề này, thanh niên phải có phần đóng góp rất quan trọng chứ không phải thờ ơ lãnh đạm đối với công cuộc của đất nước.
BẢO VŨ: Ông nói là cuộc cách mạng chưa thành công. Vậy theo ông liệu Việt Nam có cần một cuộc cách mạng nữa hay không, thưa ông ?
NGUYỄN MINH CẦN: Theo tôi không cần một cuộc cách mạng nữa, mà phải làm thế nào chuyển biến từ chế độ độc tài toàn trị của một đảng độc tôn …
BẢO VŨ: Làm thế nào để làm điều đó ?
NGUYỄN MINH CẦN: … trở thành ra một xã hội dân chủ. Tức là phải làm thế nào chuyển biến hòa bình sang một xã hội dân chủ. Sang một xã hội công dân thực sự.
Không cần phải làm cách mạng mới thực hiện được điều vừa đề cập.
Điều đó có thể thành tựu qua sự đấu tranh của dân chúng, bằng sự giác ngộ của dân chúng. Dân chúng đòi hỏi thay đổi.
Việc này rất khó, nhưng vẫn còn có thể làm được. Hiện nay tình hình càng cho chúng ta thấy rằng có thể làm được.
Vì sao ?
Vì Việt Nam bây giờ đã gắn mình vào trong thế giới chung; mà thế giới đó đang toàn cầu hóa.
Các cơ chế, các định chế quốc tế càng ngày càng áp lực vào xã hội Việt Nam, vào những nguời cầm quyền ở Việt Nam.
Giới cầm quyền Việt Nam muốn cố thủ vào vị trí lãnh đạo của họ, vào đường lối của họ.
Nhưng bây giờ, như chúng ta đang thấy, sức ép càng ngày càng mạnh và họ cứ lùi. Họ lùi một cách thủ đoạn. Nhưng mà thủ đoạn gì thủ đoạn; dần dần sức ép bên ngoài cộng với sức ép bên trong cũng sẽ làm cho họ thay đổi, và sự thay đổi đó có thể dẫn đến những sự thay đổi khác.
Cái đấy người ta gọi là chuyển biến hòa bình.
Diễn tiến hòa bình là điều mà giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay sợ nhất. Họ chống lại điều đó. Nhưng họ sẽ không chống lại được đâu, vì đó là quy luật chung trong tiến trình toàn cầu hóa hiện nay.
KẾT: Thưa quý thính giả, vừa rồi là quan điểm của ông Nguyễn Minh Cần. Trong phần thứ nhì, sẽ được phát vào Chủ Nhật tuần tới, ông sẽ đề cập tới những vấn đề như cuộc Cách Mạng Tháng Tám, nổ ra vào ngày 19 tháng 8 năm 1991 tại Liên Sô, vai trò của giới trí thức Việt Nam và Nga, v.v.
Mục Thời Sự Quốc Tế Chủ Nhật tới đây chấm dứt, Bảo Vũ xin kính chào và hẹn quý vị vào tuần tới.
XIN LƯU Ý: Vì thời lượng phát thanh dành cho cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Minh Cần có giới hạn; do đó phần âm thanh quý vị đang nghe ngắn hơn phần văn bản quý vị đang xem.
(Nguồn: http://www.doi-thoai.com/) Monday, 18 August 2003
Bảo Vũ
“Trong cuộc Cách Mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam lúc bấy giờ tôi còn rất trẻ, 17, 18 tuổi thôi; cho nên ý thức chính trị cũng không rõ ràng lắm. Vì thế, khi tham gia cuộc cách mạng đó, tôi đã vô tình đưa Đảng Cộng Sản lên nắm chính quyền. Còn đến cuộc Cách Mạng Tháng Tám ở Nga, ngày 19 tháng 8 năm 1991, tôi tham gia cách mạng lúc bấy giờ với ý thức rất rõ ràng là để hạ bệ Đảng Cộng Sản xuống; vì tôi ý thức được rất rõ ràng sự thống trị của Đảng Cộng Sản gây ra bao nhiêu tai họa cho người dân.”
LỜI DẪN: Thưa quý thính giả, ông Nguyễn Minh Cần, người nói câu vừa rồi có lẽ là người Việt duy nhất từng trực tiếp tham gia hai cuộc cách mạng tại hai phương trời khác nhau: Việt Nam và Liên Sô.
Sau khi Việt Nam bị chia cắt thành hai miền Nam Bắc, người “vô tình đưa Đảng Cộng Sản lên nắm chính quyền” vừa đề cập, đã nắm giữ một số chức vụ trong chính quyền ở miền Bắc, trong đó có chức Ủy Viên Thường Vụ Thành Ủy Hà Nội, Phó Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chính Thành Phố Hà Nội và Chủ Nhiệm báo Thủ Đô Hà Nội.
Trong mục Thời Sự Quốc Tế Chủ Nhật tuần này và tuần tới, Bảo Vũ sẽ mời quý vị nghe quan điểm của nhân vật độc đáo này.
Tuy nhiên, trước hết chúng tôi xin nói qua về ông:
Ông Nguyễn Minh Cần sinh năm 1928 tại Huế, gia nhập Đảng Cộng Sản vào tháng Năm năm 1946.
Tuy nhiên, đến năm 1962, khi được gởi đi du học tại Liên Sô, vì bất đồng quan điểm với giới lãnh đạo Đảng, ông đã xin tỵ nạn chính trị.
Ông Nguyễn Minh Cần hiện cư ngụ tại thủ đô Mas Cơ Va của Nga.
Ông cho biết tiếp:
NGUYỄN MINH CẦN: Thực ra thì vai trò của tôi trong Cuộc Cách Mạng Tháng Tám ở Việt Nam cũng rất nhỏ. Lúc bấy giờ tôi vẫn chưa phải là đảng viên Cộng Sản.
Lúc đó tôi còn là một thanh niên 17 tuổi tham gia vào phong trào cách mạng vào thời kỳ đó. Tôi tham gia vào hồi sau tháng Ba năm 1945 tức là trước Cuộc Cách Mạng Tháng Tám. Cho nên vai trò của tôi rất nhỏ nhoi.
Nhưng thời buổi lúc bấy giờ thì cờ đến tay phải phất. Cơ hội nghìn năm có một để cho đất nước mình được giải phóng.
Vì thế những anh em học sinh, bạn trẻ của chúng tôi, 17,18 tuổi, tập hợp lại với nhau theo tiếng gọi nổi dậy để đi cướp chính quyền.
Lúc bấy giờ chúng tôi cướp chính quyền trong khu vực Thành Phố Huế; đồng thời tiến ra các vùng phụ cận của Thành Phố Huế.
Thời kỳ đó vai trò của tôi nó nhỏ nhoi như vậy.
Chúng tôi làm việc đó với tất cả tấm lòng của tuổi trẻ.
BẢO VŨ: Thưa ông, ông tham gia Cuộc Cách Mạng Tháng Tám là ông tham gia theo lời kêu gọi của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Phải vậy không ạ ?
NGUYỄN MINH CẦN: Phải nói thật với anh rằng lúc bấy giờ Đảng Cộng Sản không hề ra mặt. Không hề ra mặt.
Lúc bấy giờ chúng tôi được tin ở ngoài Hà Nội đã vùng lên khởi nghĩa rồi. Trong Huế đồng bào rất sôi sục. Chính quyền lúc bấy giờ hầu như không còn nữa. Phải nói rằng tình thế lúc bấy giờ chính quyền cũ như là một trái cây chín muồi nó rụng xuống, ai muốn lượm thì lượm.
Thế cho nên chúng tôi hăng hái đứng ra làm việc ấy.
Tất nhiên cái đó cũng có sự liên quan và ảnh hưởng của những người cộng sản; vì lúc bấy giờ, tôi còn nhớ những người cộng sản có tìm cách liên hệ với chúng tôi.
Chúng tôi cũng tìm cách liên hệ với họ để hỏi ý kiến, trao đổi nhau. Chứ chúng tôi làm là làm với tinh thần như vậy.
Lúc bấy giờ rất nhiều người không hề biết có Đảng Cộng Sản lãnh đạo, hay có ai lãnh đạo hết.
Tình thế nó đến thì dân chúng nổi dậy.
Đấy là tinh thần chung của thời kỳ 45 nó như vậy.
BẢO VŨ: Thưa ông, ông vừa nói là Đảng Cộng Sản không hề ra mặt. Thế nhưng các tài liệu tại Việt Nam thì nói rằng Đảng Cộng Sản đã lãnh đạo nhân dân để đứng lên lật đổ … để đứng lên làm cuộc cách mạng. Thưa ông như vậy thì vấn đề nó như thế nào ạ? Ong có thể vui lòng giải thích thêm ?
NGUYỄN MINH CẦN: Phải nói rằng Đảng Cộng Sản họ có vai trò của họ. Nhưng tình thế lúc bấy giờ ở nhiều địa phương chưa có Đảng Cộng Sản đâu ….
BẢO VŨ: Ở Huế thì sao ạ ?
NGUYỄN MINH CẦN: … Bây giờ mọi người cần phải biết là Đảng Cộng Sản lúc bấy giờ không đông.
Bây giờ trên sách báo (tại Việt Nam) người ta bảo rằng có 4.000 người trong Đảng.
Nhưng thực ra, sau này chúng tôi tìm hiểu và hỏi những người lãnh đạo Đảng Cộng Sản hồi bấy giơ, thì họ bảo rằng thực tế chỉ độ năm, sáu trăm người trong cả toàn quốc.
Đảng Cộng Sản lãnh đạo ở phía miền Bắc thì có. Ở miền Trung rất là ít. Còn ở miền Nam thì tôi không biết.
Vấn đề ảnh hưởng của Đảng lúc bấy giờ thì chắc có lẽ là ảnh hưởng về mặt đường lối, chủ trương thế nào đấy.
Chứ còn người dân họ không biết, họ không nghe nói là cộng sản hay không cộng sản gì cả.
Cần nổi dậy là nổi dậy để cướp chính quyền. Cái tâm của người dân lúc bấy giờ nó như thế.
Còn bây giờ, tất nhiên người ta phải tuyên truyền vai trò của Đảng, phải nói rất mạnh mẽ, đầy đủ dẫn chứng này nọ.
Nhưng mà lúc bấy giờ Đảng Cộng Sản dấu mặt . Dấu mặt cho đến năm 1946 thậm chí Đảng Cộng Sản tuyên bố giải tán và lấy tên là Hội Nghiên Cưú Chủ Nghĩa Mác.
BẢO VŨ: Thưa ông, ông nghĩ thế nào về chủ nghĩa cộng sản ?
NGUYỄN MINH CẦN: Tôi nghĩ rằng chủ nghĩa cộng sản là một tư tưởng. Nó đã xuất hiện trong ý niệm của con người từ xưa và dần dần cho đến nay vẫn còn.
Đó là ý niệm có tính chất không tưởng.
Người ta ước mơ có một xã hội tốt đẹp không còn giai cấp, không còn bóc lột, không còn giàu nghèo, tất cả đều giống nhau hết, v.v.
Trước đây, ngày xưa trong tâm trí của những người nghèo khổ họ đều mơ ước như vậy.
Nhưng mà nói về chủ nghĩa cộng sản của ông Mác, ông Lê Nin, của ông Hồ Chí Minh, của ông Mao Trạch Đông thì phải nói rằng đó là một chủ nghĩa đầy ảo tưởng.
Người ta tưởng rằng có thể tạo ra một xã hội tốt đẹp tốt đẹp như thế trên quả đất này bằng … Bằng cái gì?
Bằng xương, bằng máu, bằng đấu tranh giai cấp, bằng bạo hành, tức là bạo lực.
Nhưng mà kết quả cho ta thấy họ không đạt được xã hội tốt đẹp mà họ mong muốn.
Mà trái lại người dân phải tiếp nhận một xã hội đầy đau thương, đầy đau khổ, đầy nước mắt, đầy máu. Đấy là một thực tế.
Một thực tế khác nữa là: ở Liên Sô, ở nước Nga cũ đã chứng minh trong hơn 70 năm trời. Ở Việt Nam, ở Trung Quốc, ở Bắc Triều Tiên, ở Cuba thực tế cũng đã chứng minh rất rõ rệt những điều như thế.
Cho nên về chủ nghĩa cộng sản thì phải nói hai mặt: một ước mơ rất tốt đẹp của con người. Nhưng mặt khác, vấn đề thực hiện, áp dụng vào thực tế của ông Mác, ông Lê Nin, của ông Mao Trạch Đông, của ông Kim Nhật Thành, của ông Hồ Chí Minh, của ông Fidel Castro thì chúng ta thấy rằng nó chỉ đem lại xương máu cho đồng bào, đau khổ cho đồng bào mà thôi.
BẢO VŨ: Ông vừa nói chủ nghĩa cộng sản là thứ chủ nghĩa không tưởng. Bây giờ xin hỏi ông như sau: ông nhận xét như thế nào về người lãnh đạo cuộc Cách Mạng Tháng Tám năm 1945 tại Việt Nam, tức là ông Hồ Chí Minh ạ ?
NGUYỄN MINH CẦN: Ong Hồ Chí Minh là một nhân vật lịch sử. Tôi nghĩ rằng đã là nhân vật lịch sử thì để cho lịch sử, để cho nhân dân khách quan nhận xét. Tôi không phải là nhà sử học cho nên tôi không muốn đi sâu vào việc nhận xét ông Hồ Chí Minh.
Nhưng mà tôi muốn nói mấy điều:
Trước hết mình phải biết ông Hồ Chí Minh vẫn là một con người như tất cả những con người khác.
Người ta muốn huyền thoại hóa ông Hồ Chí Minh; và chính bản thân ông Hồ Chí Minh cũng muốn huyền thoại hóa mình.
Tôi nói điều đó để cho thấy là những điều về ông Hồ Chí Minh mà người ta nói ra chưa chắc đã thật, mà đó là huyền thoại.
Tôi nói “ông Hồ Chí Minh tự huyền thoại hóa mình” thì điều đó tôi nói có sách mách có chứng:
Chính ông Hồ Chí Minh tự nhận mình là nhà báo ký tên Trần Dân Tiên để viết về tiểu sử của mình, để tô đẹp cho mình, để tự coi mình là Cha Già Của Dân Tộc.
Đấy, điều đó cho thấy chính ông tự huyền hoặc mình.
Vì thế cho nên tôi muốn nói rằng phải nhìn vào con người Hồ Chí Minh như nhìn vào con người thật, tức là có mặt tốt, mặt xấu.
Bây giờ lịch sử càng ngày càng gỡ ra những mặt mà trước đây người ta huyền thoại hóa. Nào là ông ra đi để cứu nước cứu nhà.
Nhưng cho tới nay, bao nhiêu tài liệu lịch sử cho thấy những điều huyền thoại hóa đúng sai ra sao ? Sự thật lịch sử cho thấy những điều đó chẳng qua chỉ là huyền thoại thôi.
Nào là ông không vợ không con, một lòng một dạ, toàn tâm toàn ý, chỉ để cho cách mạng mà thôi. Nhưng bây giờ càng ngày người ta càng gỡ ra những việc trong đời tư của ông, v.v. và v.v. Tôi không nói hết.
Đó là một điểm. Điểm thứ hai nữa là những lời ông nói và những việc ông thực hiện khác nhau.
Chẳng hạn như trước khi làm cuộc Cách Mạng Tháng Tám, ông kêu gọi và ông nói rất nhiều, đồng thời hứa hẹn rất nhiều: nào là tự do, nào là dân chủ, nào là tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, v.v.
Nhưng đến khi cầm quyền rồi thì những điều đó không được thực hiện. Không được thực hiện dưới thời của ông mà còn cả dưới thời những nguời kế tục ông nữa.
Cho đến bây giờ đất nước vẫn không có dân chủ.
Cho nên nhận xét về ông Hồ Chí Minh thì mình phải nhận xét khách quan trên tinh thần như vậy. Không nên huyền thoại hóa mà nên coi ông như con người, con người trong lịch sử và để cho lịch sử nhận xét.
Nói một từ cho thật xứng đáng là: hãy để cho lịch sử phán xét và đặt vị trí của ông đúng vào cái thực tế của lịch sử.
BẢO VŨ: Thưa ông, đất nước Việt Nam trong suốt hơn nửa thế kỷ qua đã trải qua rất nhiều biến động. Và một trong những biến động lớn nhất là cuộc Cách Mạng Tháng Tám năm 1945. Thưa ông các thế hệ sau này tại Việt Nam, tức là những thành phần sinh sau năm 1945, đặc biệt giới trẻ hiện nay tại Việt Nam có thể rút ra được bài học gì cuộc cách mạng đó ?
NGUYỄN MINH CẦN: Cuộc Cách Mạng Tháng Tám là một biến động rất lớn, nó thay đổi lịch sử của Việt Nam.
Biến động đó chứng tỏ lòng yêu nước của người dân Việt Nam. Tuy bị đô hộ trong suốt gần một thế kỷ; thế nhưng người dân vẫn nung nấu lòng yêu nước và chờ khi có cơ hội là vùng lên.
Điểm thứ hai là lòng thiết tha đối với dân chủ.
Không những người ta muốn thoát khỏi chế độ nô lệ, chế độ thuộc địa mà người ta còn muốn trở thành một con người thật, con người có quyền.
Tiếc thay, khi Cách Mạng Tháng Tám thành công, người dân vẫn chưa có quyền thực sự; và cho đến nay người dân vẫn chưa có quyền thực sự.
Cho nên bài học Cách Mạng Tháng Tám là để cho giới trẻ ở đất nước ta thấy rằng, họ phải có phần đóng góp vào công cuộc chung để tiếp tục cuộc cách mạng đó.
Tức là làm sao để cho người dân có quyền, để cho người dân được hưởng dân chủ, được hưởng nhân quyền.
Nghĩa là nguời dân là một con nguời thực sự; được ăn nói tự do, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp.
Tự do thực sự chứ không phải sống dưới sự kìm kẹp của một đảng độc tôn nắm quyền.
Cho nên bài học lớn là: cuộc cách mạng chưa thành công đâu mà phải tiến tới hoàn thành nhiệm vụ dân chủ hóa nước nhà.
Trong vấn đề này, thanh niên phải có phần đóng góp rất quan trọng chứ không phải thờ ơ lãnh đạm đối với công cuộc của đất nước.
BẢO VŨ: Ông nói là cuộc cách mạng chưa thành công. Vậy theo ông liệu Việt Nam có cần một cuộc cách mạng nữa hay không, thưa ông ?
NGUYỄN MINH CẦN: Theo tôi không cần một cuộc cách mạng nữa, mà phải làm thế nào chuyển biến từ chế độ độc tài toàn trị của một đảng độc tôn …
BẢO VŨ: Làm thế nào để làm điều đó ?
NGUYỄN MINH CẦN: … trở thành ra một xã hội dân chủ. Tức là phải làm thế nào chuyển biến hòa bình sang một xã hội dân chủ. Sang một xã hội công dân thực sự.
Không cần phải làm cách mạng mới thực hiện được điều vừa đề cập.
Điều đó có thể thành tựu qua sự đấu tranh của dân chúng, bằng sự giác ngộ của dân chúng. Dân chúng đòi hỏi thay đổi.
Việc này rất khó, nhưng vẫn còn có thể làm được. Hiện nay tình hình càng cho chúng ta thấy rằng có thể làm được.
Vì sao ?
Vì Việt Nam bây giờ đã gắn mình vào trong thế giới chung; mà thế giới đó đang toàn cầu hóa.
Các cơ chế, các định chế quốc tế càng ngày càng áp lực vào xã hội Việt Nam, vào những nguời cầm quyền ở Việt Nam.
Giới cầm quyền Việt Nam muốn cố thủ vào vị trí lãnh đạo của họ, vào đường lối của họ.
Nhưng bây giờ, như chúng ta đang thấy, sức ép càng ngày càng mạnh và họ cứ lùi. Họ lùi một cách thủ đoạn. Nhưng mà thủ đoạn gì thủ đoạn; dần dần sức ép bên ngoài cộng với sức ép bên trong cũng sẽ làm cho họ thay đổi, và sự thay đổi đó có thể dẫn đến những sự thay đổi khác.
Cái đấy người ta gọi là chuyển biến hòa bình.
Diễn tiến hòa bình là điều mà giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay sợ nhất. Họ chống lại điều đó. Nhưng họ sẽ không chống lại được đâu, vì đó là quy luật chung trong tiến trình toàn cầu hóa hiện nay.
KẾT: Thưa quý thính giả, vừa rồi là quan điểm của ông Nguyễn Minh Cần. Trong phần thứ nhì, sẽ được phát vào Chủ Nhật tuần tới, ông sẽ đề cập tới những vấn đề như cuộc Cách Mạng Tháng Tám, nổ ra vào ngày 19 tháng 8 năm 1991 tại Liên Sô, vai trò của giới trí thức Việt Nam và Nga, v.v.
Mục Thời Sự Quốc Tế Chủ Nhật tới đây chấm dứt, Bảo Vũ xin kính chào và hẹn quý vị vào tuần tới.
XIN LƯU Ý: Vì thời lượng phát thanh dành cho cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Minh Cần có giới hạn; do đó phần âm thanh quý vị đang nghe ngắn hơn phần văn bản quý vị đang xem.
(Nguồn: http://www.doi-thoai.com/) Monday, 18 August 2003
Tâm tình Mobay
Tâm tình Mobay
Caubay
Đã gần nửa đêm mà Caubay vẫn còn cặm cụi tham gia diễn đàn, khi nhăn mặt nhíu mày, khi đăm chiêu suy nghĩ, khi cười mỉm, khi cười khì. Hỉ nộ ái ố coi mòi gồm đủ. Mobay xức dầu thơm nực, lượn tới lượn lui vài ba vòng mà hổng thấy ép phê, bèn lên tiếng nhắc khéo:
-Anh đi ngủ sớm cho khoẻ, việc nhà lo trước việc nước lo sau. Chuyện nhà còn bề bộn mà anh cứ ôm cái computer mãi em rầu quá. Hơn nữa hổm rày ba chú Mễ mần eo, đình công để phản đối ông Bush đưa vệ binh tới biên giới. Mai anh lại cày mình ênh đó nghen!
Caubay dỗ dành:
- Em ráng một chút. Anh đang đọcc ông Bùi Tín, Tâm tình với tuổi trẻ về Hồ Chí Minh đó.
Mobay, sắc mặt hơi ngạc nhiên, sốt sắng hỏi:
- Ủa, ổng còn sống hả anh? Hồ?i trước ổng ở gần nhà em bên Phú Nhuận đó. Thọ dữ nghen! Anh hỏi thử ổng còn mần dầu khuynh diệp không, để lại em vài chai. Cái loại dầu đó hay hơn dầu gió xanh nhiều lắm. Hồi nhỏ cả nhà em ai bị đau bụng, nhức đầu, sổ mũi, nghẹt mũi là... dùng được. Trúng gió, ăn không tiêu, ợ chua, táo bón là.. dùng được. Đau lưng, nhức mỏi, bong gân, trật khớp là dùng được…
Caubay vội vàng đưa tay ngăn lại phân trần:
-Em lầm rồi, không phải bác sĩ Bùi Kiến Tín chuyên chế dầu khuynh diệp. Ông bác sĩ này nghe nói qua đời đã lâu và cái Viện bào chế của ổng thì ổng vinh dự hiến cho nhà nước ngay từ ngày đầu. Bây giờ nếu ổng còn sống thì giỏi lắm người ta cho ổng sản xuất dầu khuynh… tả chớ khuynh diệp gì nữa em ơi. Anh nói đây là nói ông Bùi Tín, cựu đại tá Cộng sản, đã phản tỉnh, đang góp phần tranh đấu cho dân chủ cho nước ta. Ông này nguyên là nhà báo nên viết lách hay lắm. Anh đang đọc bài viết của ổng gởi các bạn trẻ nói về ông Hồ. Nhiều điểm rất đáng lưu ý.
Mobay hơi... quê độ, bèn làm mặt giận mà rằng:
- Em đã dặn anh hễ lên diễn đÃ?n có bài nào hay thì đọc cho em nghe với. Em cũng gần đến tuổi... hồi xuân, thì cũng coi như là bạn trẻ; sao anh lại không đọc bài ấy của ổng cho em nghe để em học hỏi.
Caubay thấy tuồng khó ở, bèn xuống nước vỗ về:
-Thì anh thấy em mê chú Ngạn, ch? Kỳ Duyên, lại bận học tiếng Hồng Kông với tiếng Đại Hàn nên anh giả lơ, chớ đọc mấy bài viết trên diễn đàn thì có tốn tiền tốn gạo gì mà giấu. Thôi nếu em thích thì ngồi xuống đây anh đọc cho nghe. Nếu em có lòng thì góp vài cái cao kiến cho bạn đọc coi chơi.
Mobay vốn tính xuề xòa, giận đó vui đó, nên nũng nịu rằng:
-Ừa, thôi mình đọc cho tui nghe ccoi.
Và như thường lệ, Caubay lại làm cái màn đọc báo giùm. Mobay nghe xong mới phán rằng:
- Bác Bùi quả là học cao hiểu rrộng, nhiều điều ông ấy viết nghe rất thông. Tuy vậy có chỗ em coi cũng còn nghẹt.
- Viết báo mà em làm như thông ỻ?ng cống. Chỗ nào thông, chỗ nào nghẹt em nói anh nghe thử.
- Nói thì nói nhưng anh đừng chê? nghen; vì em luận theo cái lối tay ngang của người bình dân ít học.
- Em khách sáo làm chi. Quan điểm của người bình dân mới là đáng chú ý vì họ là đa số. Chắc mấy ông chính trị gia, mấy nhà lý luận cũng cần am hiểu người dân thường nghĩ gì mà đáp ứng cái nhu cầu, cái ước vọng của họ; chớ nói chuyện sâu xa trên trời thì hổng mấy gì thiết thực đâu em.
- Ừa, anh nói nghe cũng phải. Theoo em trong bài này ông Bùi Tín nói trúng khỏang 80%, còn lại 20 % thì cần coi lại cái đã. Cái phần 80% thì em xin phép anh khỏi bàn vì đó là phần nêu ra những sự thật về cuộc đời ông Hồ. Sự thật về cuộc đời ông Hồ là một sự kiện khách quan và do vậy nó không thể thay đổi đựợc theo cảm tính của người viết. Sự thật về ông Hồ dù được che giấu, bóp méo trong thời gian qua đã lần lần được đưa ra ánh sáng. Người ta không thể che giấu mãi sự thật và bác Bùi Tín đã trung thực trình bày lại cho bạn trẻ biết những gì ông tìm hiểu, sưu tập được về cái sự thực đó. Đại khái cái phần thực này là phơi ra cái xấu xa của ông Hồ mà từ bấy lâu nay chính ông ta và đảng Cộng sản đã che giấu, sửa đổi, tô hồng. Bây giờ em có bình luận thêm cũng hơi nhàm. Vì vậy em chỉ mong chia sẻ với anh cái phần 20% mà em không đồng ý với ông Bùi Tín; cái phần mà em cho rằng ông Bùi Tín… bị nghẹt đó.
- Ừ thì em làm ơn giúp khai cái ttrí cắt cỏ của anh. Theo anh thì thế hệ đàn anh lúc nào cũng nợ thế hệ trẻ kế tiếp một món nợ rất lớn. Đó là sự minh bạch của lịch sử. Mình không được vì quan hệ bản thân hay bất cứ tình cảm nào để bóp méo sự thật. Đã nói với bạn trẻ thì cần rõ ràng, nếu không thì dễ gây hiểu lầm lắm. Tuổi trẻ đầy nhiệt huyết nhưng thiếu sự từng trải chín chắn, lại dễ tin. Hơn nữa hình tượng về ông Hồ đã bị tập đoàn Cộng sản lợi dụng để làm chiêu bài mị dân hàng nửa thế kỷ nay, nó ăn sâu vào suy nghĩ của người mình lắm. Mình phải hết sức cẩn thận đó em.
- Em nhứt trí với anh về điểm đó thành ra mới vô phép mà lạm bàn như vầy. Theo em thì trong bài đó, ông Bùi Tín nói nhiều điều không thật. Em không dùng chữ "không đúng" vì tin rằng với trình độ của ông Bùi, ông không thể không thấy được để viết sai. Ông Bùi thấy nhưng…né nên gọi là không thật.
- Rắc rối dữ nha!
- Để em trở lại bài viết củaa ông Bùi mà giảng cho từng điểm một. Ổng viết: “...Mặt tích cực của ông Hồ không phải là nhỏ." Nói rằng ông Hồ lãnh đạo cuộc Cách mạng tháng Tám và 9 năm kháng chiến để đuổi người Pháp là mặt tích cực là sai. Khi cho rằng một người làm điều tích cực thì phải xét cái động cơ của hành động. Cái động cơ có trong sáng thì việc làm mới được gọi là tích cực. Ngay từ đầu cái động cơ của ông Hồ là đuổi Pháp để áp đặt chủ nghĩa Cộng sản. Ông Hồ không có cái tâm vì dân tộc Việt Nam khi đánh Pháp. Vì sao em dám nói như vậy? Vì khi còn nhỏ thì ông xin làm tay sai cho Pháp mà không được. Việc ông theo Cộng sản biết đâu không vì cay cú bởi việc này. Nếu ông đậu vào trường thuộc địa của Pháp thì sao? Biết đâu ổng trở thành một kẻ tay sai đắc lực cho Pháp? Thế rồi khi có thế lực ông ta quay qua giết hại những người yêu nước khác. Ông Hồ giết người yêu nước tức là ổng không vì quyền lợi của dân Việt mà vì ý đồ cá nhân của ổng, vì chủ của ông, tức là vì Quốc tế Cộng sản. Nói cách khác ông dùng người Việt để đánh Pháp cho Quốc tế Cộng sản thì không nên gọi đó là tích cực. Lợi dụng xương máu người Việt để tháo cái gông này mà tròng vào cái gông khác thì không thế gọi là tích cực. Ông Hồ đánh Pháp với cái tâm vì (Stalin) không giống như cái tâm (vì dân) của các nhà cách mạng khác. Cái ý tưởng hy sinh đến người Việt cuối cùng cũng phải đánh để thực hiện cho đươc việc "giải phóng" để áp đặt chủ nghĩa Cộng sản đã có ngay từ đầu. Đó là tham vọng xấu xa, không thể gọi là tích cực.
- Em nói nghe có lý sự lắm.
- Chớ còn gì nữa. Rồi ông Bùi Tín viết: "Đáng chú ý là hai thành tựu tích cực trên đây gắn liền với lãnh tụ Hồ Chí Minh không dính dáng trực tiếp gì đến học thuyết cộng sản, thậm chí chính vì không dính dáng trực tiếp với học thuyết cộng sản mà mới có thắng lợi; ông Hồ phải tuyên bố giải tán đảng vào tháng 11/1945, và một mực thanh minh rằng: không! Tôi không phải là người cộng sản. Sự khôn ngoan của ông là ở đó." Cho rằng thành công của Cách mạng tháng Tám và chiến thắng Điện Biên Phủ là "thành tựu tích cực" của ông Hồ là sai. Nếu hiểu nghĩa thành tựu là đạt được kết quả thì được chớ không có gì tích cực qua hai kết quả đó bởi vì đối với ông Hồ đó chỉ là thành quả của hai giai đoạn trong một chuỗi dài các giai đoạn để đạt được mục đích tối hậu là áp đặt chế độ Cộng sản tại Việt Nam. Đó là mục tiêu cuối cùng mà ông Hồ đã cố đạt được bằng mọi giá. Khi thực hiện hai mục đích trên, ông Hồ không đặt quyền lợi của dân tộc Việt Nam lên trên hết. Lập lờ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa cộng sản, yêu nước và yêu chủ nghĩa Mác Lênin chỉ là mánh khóe mị dân của ông Hồ mà thôi. Nhìn xa hơn chút nữa, 76 năm qua từ ngày có đảng CSVN, ông Hồ và cái đảng đó chưa mang một thành tựu nào cho dân tộc Việt Nam. Chưa có gì là thành tựu cả. Độc lập ai nói có, em nói chưa. Liên Xô, Tàu kêu đâu dạ đó, sai đâu làm đó sao gọi là độc lập. Hơn nữa, "Tự do không có, Độc lập quí gì". Cái "thành tựu" của ông Hồ chính là tai hoạ bởi không có nó thì chúng ta, theo trào lưu của thời đại, chắc chằn đã có cuộc cách mạng khác cũng đuổi được Tây mà không điêu tàn như hiện tại. Anh nhìn qua các lân bang mà xem.
- Nhìn làm chi cho thêm buồn em. Đ?ến như nước Campuchia nhỏ bé mà coi bộ cũng muốn khá hơn ta. Cũng bởi họ chỉ có ông Pôn Pốt mà không có ông Hồ chi Minh.
- Em cũng cho rằng ông Bùi Tín có? lẽ vì "quá thương" hay sơ ý mà cho ông Hồ “khôn ngoan”. Khôn ngoan khác với điêu xảo, điếm đàng, lừa dối, tráo trở. Anh nghĩ coi. Cộng sản rặt mà xưng tôi không là Cộng sản để rồi thừa cơ đâm sau lưng các phe phái Quốc gia là đồ bất nhơn, không phải khôn mà là bá đạo, lưu manh. Mong các bạn trẻ đừng cho như vậy là khôn, là ngoan.
- Lời dặn dò của em nghe rất chhí tình.
- Còn cái chuyện sai lầm của ônng Hồ khi đi theo chủ nghĩa Mác Lênin thì ông Bùi Tín viết: "Lầm lẫn - mà không phải cố tình phạm sai lầm, vì lúc 30 tuổi, anh Nguyễn Tất Thành sau khi có ý định gần mười năm trước vào học trường thuộc địa để thành đạt trong cuộc đời vẫn có thể đổi ý trong môi trường chính trị tự do Pháp để chân thành chọn con đường của Lê-nin như không ít thanh niên và trí thức Pháp hồi ấy." Phần này thì em cũng không có gì phản bác ông Bùi Tín, nhưng cũng em không dám võ đoán kết luận vì sao ông Hồ chọn con đường bất nhơn đó. Bởi vì ai thì không nói chớ với "anh Ba" (trợn) thì phải coi lại cái "lầm lẫn không cố tình" này cái đã! Muốn như vậy ta hãy xét lại cái bản chất ông Hồ từ trẻ tới già. Một người với bản chất lương thiện có thể phạm sai lầm một vài lần, tất nhiên là không cố tình, rồi sau đó thấy sai thì ăn lăn hối cải, làm lành chuộc tội. Ông Hồ thì ngược lại. Cuộc đời ông Hồ cho thấy ông không phải là người lương thiện. Bao nhiêu sách vở, nhân chứng trong và ngoài nước đã cho thấy. Trong bài này của ông Bùi Tín chúng ta cũng dễ dàng tìm thấy chi tiết hậu thuẫn cho nhận xét đó. Từ việc phụ nghĩa (lấy vợ đồng chí), phụ tình (lơ đẹp vợ cũ Tăng tuyết Minh), giết nàng hầu (Nông thị Xuân), bỏ con rơi (Nguyễn Tất Trung), vô tình với anh chị em, vắt chanh bỏ vỏ với người cộng sự (LS Nguyễn Mạnh Tường...), bất nghĩa với người ơn (bà Nguyễn Thị Năm). Từ suy nghĩ đó, em cho rằng ông Hồ sẵn sàng đi theo bất cứ thế lực nào để thoả mãn tham vọng cá nhân. Không thể kết luận rằng vì thấy lý thuyết của chủ nghĩa Cộng sản hay đẹp (vào thời điểm đó) mà ông Hồ theo. Cái gì đáp ứng tham vọng của ông thì ông theo. Thực dân hay Cộng sản không quan trọng. Cái bản chất ác độc của ông Hồ còn có thể được suy diễn khi đọc đoạn này của ông Bùi Tín: "...ta có thể trách ông Hồ là ông từng sống ở Moscow suốt từ 1924 đến 1938, giữa những năm khủng bố đỏ rùng rợn nhất của Staline,- khi mỗi ngày báo đảng Pravda đăng tin xử bắn hết uỷ viên bộ chính trị này đến ủy viên trung ương khác, và hàng xâu “tên phản động”, vậy mà ông vẫn sùng bái “trùm tội ác của các thời đại” đến tuyệt đối, sùng bái chuyên chính vô sản và đấu tranh giai cấp đến tuyệt đối, thì cái “tâm” và cái “trí” ông ở đâu?" Ông Hồ thấy cái ác mà vẫn theo thì ông còn ác hơn gấp bội. Lịch sử cho thấy ông Hồ không bao giờ biết nghĩ đến cái nỗi đau của nguời dân. Từ cải cách ruộng đất với bao nhiêu oan nghiệt mà ông vẫn dửng dưng; nếu có khóc chỉ là nước mắt cá sấu, bịp bợm bởi vì liền sau đó ông lại khởi xướng xâm lăng miền Nam để gieo bao tang tóc, phân ly cho dân lành. "Còn cái lai quần cũng đánh" chính là tư tưởng ông Hồ. Hãy mường tượng một dân tộc xác xơ như cái lai quần rách thì ai mà không thương cảm. Họa chăng là kẻ vô tâm.
Caubay vốn là anh học trò lười, ham chơi nhiều hơn ham học, nghe bấy nhiêu đã muốn ngáp; bèn lựa lời nói khéo như vầy:
- Em luận như vậy thì thiệt là hết sức thông, thiên hạ hiếm có, nhưng cũng đã hơi dài. Anh học cho thuộc chừng ấy cũng bả hơi tai. Chuyện ông Hồ thì nói chừng nào cho hết. Anh đồ rằng đến thế kỷ sau cũng còn. Thôi em tóm gọn gọn một chút để nhắn gởi các bạn trẻ vài lời được không?
Mobay nghe khen nịnh lấy làm khoái chí nhưng cũng nói khiêm như vầy:
- Cái trí em nhỏ như hột cỏ. M?t là anh thương, hai là anh dốt mà khen chớ chắc gì đã trúng. Tuy vậy em cũng có vài lời chia sẻ, không riêng gì với các bạn trẻ mà ngay cả…bạn già em cũng xin nhắn luôn một thể. Lời em nhắn không nhiều mà cũng cũ rích. Đó là cái chữ “ta” nó tai hại lắm, nó làm mờ đi cái nhìn trung thực khách quan. Hơn nữa cái chữ "ta" đôi khi nó rất nhập nhằng. Vậy thì từ nay về sau cố gắng bỏ bớt giùm em cái chữ “ta”; nhất là cái chữ "ta” trong câu biểu ngữ này: “Hồ chủ tịch vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”.
Mobay nói xong ngoe nguẩy đi, phần như vội vã, nửa như giận hờn. Caubay nhìn theo và chợt hiểu câu phải tề gia rồi mới trị quốc. Đứng dậy bước theo, tinh thần hớn hở, lòng dạ thông thoáng, nhưng nghĩ lại vẫn còn giận ông Hồ, lại vốn sính thơ, Caubay bèn ngâm nga mấy câu Kiều tân thời như vầy:
Cho hay muôn sự tại Người
Người kia vốn dĩ là phường bất nhân…
Caubay
San Diego, May 21, 2006
(Copyright @ DCVonline)
Caubay
Đã gần nửa đêm mà Caubay vẫn còn cặm cụi tham gia diễn đàn, khi nhăn mặt nhíu mày, khi đăm chiêu suy nghĩ, khi cười mỉm, khi cười khì. Hỉ nộ ái ố coi mòi gồm đủ. Mobay xức dầu thơm nực, lượn tới lượn lui vài ba vòng mà hổng thấy ép phê, bèn lên tiếng nhắc khéo:
-Anh đi ngủ sớm cho khoẻ, việc nhà lo trước việc nước lo sau. Chuyện nhà còn bề bộn mà anh cứ ôm cái computer mãi em rầu quá. Hơn nữa hổm rày ba chú Mễ mần eo, đình công để phản đối ông Bush đưa vệ binh tới biên giới. Mai anh lại cày mình ênh đó nghen!
Caubay dỗ dành:
- Em ráng một chút. Anh đang đọcc ông Bùi Tín, Tâm tình với tuổi trẻ về Hồ Chí Minh đó.
Mobay, sắc mặt hơi ngạc nhiên, sốt sắng hỏi:
- Ủa, ổng còn sống hả anh? Hồ?i trước ổng ở gần nhà em bên Phú Nhuận đó. Thọ dữ nghen! Anh hỏi thử ổng còn mần dầu khuynh diệp không, để lại em vài chai. Cái loại dầu đó hay hơn dầu gió xanh nhiều lắm. Hồi nhỏ cả nhà em ai bị đau bụng, nhức đầu, sổ mũi, nghẹt mũi là... dùng được. Trúng gió, ăn không tiêu, ợ chua, táo bón là.. dùng được. Đau lưng, nhức mỏi, bong gân, trật khớp là dùng được…
Caubay vội vàng đưa tay ngăn lại phân trần:
-Em lầm rồi, không phải bác sĩ Bùi Kiến Tín chuyên chế dầu khuynh diệp. Ông bác sĩ này nghe nói qua đời đã lâu và cái Viện bào chế của ổng thì ổng vinh dự hiến cho nhà nước ngay từ ngày đầu. Bây giờ nếu ổng còn sống thì giỏi lắm người ta cho ổng sản xuất dầu khuynh… tả chớ khuynh diệp gì nữa em ơi. Anh nói đây là nói ông Bùi Tín, cựu đại tá Cộng sản, đã phản tỉnh, đang góp phần tranh đấu cho dân chủ cho nước ta. Ông này nguyên là nhà báo nên viết lách hay lắm. Anh đang đọc bài viết của ổng gởi các bạn trẻ nói về ông Hồ. Nhiều điểm rất đáng lưu ý.
Mobay hơi... quê độ, bèn làm mặt giận mà rằng:
- Em đã dặn anh hễ lên diễn đÃ?n có bài nào hay thì đọc cho em nghe với. Em cũng gần đến tuổi... hồi xuân, thì cũng coi như là bạn trẻ; sao anh lại không đọc bài ấy của ổng cho em nghe để em học hỏi.
Caubay thấy tuồng khó ở, bèn xuống nước vỗ về:
-Thì anh thấy em mê chú Ngạn, ch? Kỳ Duyên, lại bận học tiếng Hồng Kông với tiếng Đại Hàn nên anh giả lơ, chớ đọc mấy bài viết trên diễn đàn thì có tốn tiền tốn gạo gì mà giấu. Thôi nếu em thích thì ngồi xuống đây anh đọc cho nghe. Nếu em có lòng thì góp vài cái cao kiến cho bạn đọc coi chơi.
Mobay vốn tính xuề xòa, giận đó vui đó, nên nũng nịu rằng:
-Ừa, thôi mình đọc cho tui nghe ccoi.
Và như thường lệ, Caubay lại làm cái màn đọc báo giùm. Mobay nghe xong mới phán rằng:
- Bác Bùi quả là học cao hiểu rrộng, nhiều điều ông ấy viết nghe rất thông. Tuy vậy có chỗ em coi cũng còn nghẹt.
- Viết báo mà em làm như thông ỻ?ng cống. Chỗ nào thông, chỗ nào nghẹt em nói anh nghe thử.
- Nói thì nói nhưng anh đừng chê? nghen; vì em luận theo cái lối tay ngang của người bình dân ít học.
- Em khách sáo làm chi. Quan điểm của người bình dân mới là đáng chú ý vì họ là đa số. Chắc mấy ông chính trị gia, mấy nhà lý luận cũng cần am hiểu người dân thường nghĩ gì mà đáp ứng cái nhu cầu, cái ước vọng của họ; chớ nói chuyện sâu xa trên trời thì hổng mấy gì thiết thực đâu em.
- Ừa, anh nói nghe cũng phải. Theoo em trong bài này ông Bùi Tín nói trúng khỏang 80%, còn lại 20 % thì cần coi lại cái đã. Cái phần 80% thì em xin phép anh khỏi bàn vì đó là phần nêu ra những sự thật về cuộc đời ông Hồ. Sự thật về cuộc đời ông Hồ là một sự kiện khách quan và do vậy nó không thể thay đổi đựợc theo cảm tính của người viết. Sự thật về ông Hồ dù được che giấu, bóp méo trong thời gian qua đã lần lần được đưa ra ánh sáng. Người ta không thể che giấu mãi sự thật và bác Bùi Tín đã trung thực trình bày lại cho bạn trẻ biết những gì ông tìm hiểu, sưu tập được về cái sự thực đó. Đại khái cái phần thực này là phơi ra cái xấu xa của ông Hồ mà từ bấy lâu nay chính ông ta và đảng Cộng sản đã che giấu, sửa đổi, tô hồng. Bây giờ em có bình luận thêm cũng hơi nhàm. Vì vậy em chỉ mong chia sẻ với anh cái phần 20% mà em không đồng ý với ông Bùi Tín; cái phần mà em cho rằng ông Bùi Tín… bị nghẹt đó.
- Ừ thì em làm ơn giúp khai cái ttrí cắt cỏ của anh. Theo anh thì thế hệ đàn anh lúc nào cũng nợ thế hệ trẻ kế tiếp một món nợ rất lớn. Đó là sự minh bạch của lịch sử. Mình không được vì quan hệ bản thân hay bất cứ tình cảm nào để bóp méo sự thật. Đã nói với bạn trẻ thì cần rõ ràng, nếu không thì dễ gây hiểu lầm lắm. Tuổi trẻ đầy nhiệt huyết nhưng thiếu sự từng trải chín chắn, lại dễ tin. Hơn nữa hình tượng về ông Hồ đã bị tập đoàn Cộng sản lợi dụng để làm chiêu bài mị dân hàng nửa thế kỷ nay, nó ăn sâu vào suy nghĩ của người mình lắm. Mình phải hết sức cẩn thận đó em.
- Em nhứt trí với anh về điểm đó thành ra mới vô phép mà lạm bàn như vầy. Theo em thì trong bài đó, ông Bùi Tín nói nhiều điều không thật. Em không dùng chữ "không đúng" vì tin rằng với trình độ của ông Bùi, ông không thể không thấy được để viết sai. Ông Bùi thấy nhưng…né nên gọi là không thật.
- Rắc rối dữ nha!
- Để em trở lại bài viết củaa ông Bùi mà giảng cho từng điểm một. Ổng viết: “...Mặt tích cực của ông Hồ không phải là nhỏ." Nói rằng ông Hồ lãnh đạo cuộc Cách mạng tháng Tám và 9 năm kháng chiến để đuổi người Pháp là mặt tích cực là sai. Khi cho rằng một người làm điều tích cực thì phải xét cái động cơ của hành động. Cái động cơ có trong sáng thì việc làm mới được gọi là tích cực. Ngay từ đầu cái động cơ của ông Hồ là đuổi Pháp để áp đặt chủ nghĩa Cộng sản. Ông Hồ không có cái tâm vì dân tộc Việt Nam khi đánh Pháp. Vì sao em dám nói như vậy? Vì khi còn nhỏ thì ông xin làm tay sai cho Pháp mà không được. Việc ông theo Cộng sản biết đâu không vì cay cú bởi việc này. Nếu ông đậu vào trường thuộc địa của Pháp thì sao? Biết đâu ổng trở thành một kẻ tay sai đắc lực cho Pháp? Thế rồi khi có thế lực ông ta quay qua giết hại những người yêu nước khác. Ông Hồ giết người yêu nước tức là ổng không vì quyền lợi của dân Việt mà vì ý đồ cá nhân của ổng, vì chủ của ông, tức là vì Quốc tế Cộng sản. Nói cách khác ông dùng người Việt để đánh Pháp cho Quốc tế Cộng sản thì không nên gọi đó là tích cực. Lợi dụng xương máu người Việt để tháo cái gông này mà tròng vào cái gông khác thì không thế gọi là tích cực. Ông Hồ đánh Pháp với cái tâm vì (Stalin) không giống như cái tâm (vì dân) của các nhà cách mạng khác. Cái ý tưởng hy sinh đến người Việt cuối cùng cũng phải đánh để thực hiện cho đươc việc "giải phóng" để áp đặt chủ nghĩa Cộng sản đã có ngay từ đầu. Đó là tham vọng xấu xa, không thể gọi là tích cực.
- Em nói nghe có lý sự lắm.
- Chớ còn gì nữa. Rồi ông Bùi Tín viết: "Đáng chú ý là hai thành tựu tích cực trên đây gắn liền với lãnh tụ Hồ Chí Minh không dính dáng trực tiếp gì đến học thuyết cộng sản, thậm chí chính vì không dính dáng trực tiếp với học thuyết cộng sản mà mới có thắng lợi; ông Hồ phải tuyên bố giải tán đảng vào tháng 11/1945, và một mực thanh minh rằng: không! Tôi không phải là người cộng sản. Sự khôn ngoan của ông là ở đó." Cho rằng thành công của Cách mạng tháng Tám và chiến thắng Điện Biên Phủ là "thành tựu tích cực" của ông Hồ là sai. Nếu hiểu nghĩa thành tựu là đạt được kết quả thì được chớ không có gì tích cực qua hai kết quả đó bởi vì đối với ông Hồ đó chỉ là thành quả của hai giai đoạn trong một chuỗi dài các giai đoạn để đạt được mục đích tối hậu là áp đặt chế độ Cộng sản tại Việt Nam. Đó là mục tiêu cuối cùng mà ông Hồ đã cố đạt được bằng mọi giá. Khi thực hiện hai mục đích trên, ông Hồ không đặt quyền lợi của dân tộc Việt Nam lên trên hết. Lập lờ giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa cộng sản, yêu nước và yêu chủ nghĩa Mác Lênin chỉ là mánh khóe mị dân của ông Hồ mà thôi. Nhìn xa hơn chút nữa, 76 năm qua từ ngày có đảng CSVN, ông Hồ và cái đảng đó chưa mang một thành tựu nào cho dân tộc Việt Nam. Chưa có gì là thành tựu cả. Độc lập ai nói có, em nói chưa. Liên Xô, Tàu kêu đâu dạ đó, sai đâu làm đó sao gọi là độc lập. Hơn nữa, "Tự do không có, Độc lập quí gì". Cái "thành tựu" của ông Hồ chính là tai hoạ bởi không có nó thì chúng ta, theo trào lưu của thời đại, chắc chằn đã có cuộc cách mạng khác cũng đuổi được Tây mà không điêu tàn như hiện tại. Anh nhìn qua các lân bang mà xem.
- Nhìn làm chi cho thêm buồn em. Đ?ến như nước Campuchia nhỏ bé mà coi bộ cũng muốn khá hơn ta. Cũng bởi họ chỉ có ông Pôn Pốt mà không có ông Hồ chi Minh.
- Em cũng cho rằng ông Bùi Tín có? lẽ vì "quá thương" hay sơ ý mà cho ông Hồ “khôn ngoan”. Khôn ngoan khác với điêu xảo, điếm đàng, lừa dối, tráo trở. Anh nghĩ coi. Cộng sản rặt mà xưng tôi không là Cộng sản để rồi thừa cơ đâm sau lưng các phe phái Quốc gia là đồ bất nhơn, không phải khôn mà là bá đạo, lưu manh. Mong các bạn trẻ đừng cho như vậy là khôn, là ngoan.
- Lời dặn dò của em nghe rất chhí tình.
- Còn cái chuyện sai lầm của ônng Hồ khi đi theo chủ nghĩa Mác Lênin thì ông Bùi Tín viết: "Lầm lẫn - mà không phải cố tình phạm sai lầm, vì lúc 30 tuổi, anh Nguyễn Tất Thành sau khi có ý định gần mười năm trước vào học trường thuộc địa để thành đạt trong cuộc đời vẫn có thể đổi ý trong môi trường chính trị tự do Pháp để chân thành chọn con đường của Lê-nin như không ít thanh niên và trí thức Pháp hồi ấy." Phần này thì em cũng không có gì phản bác ông Bùi Tín, nhưng cũng em không dám võ đoán kết luận vì sao ông Hồ chọn con đường bất nhơn đó. Bởi vì ai thì không nói chớ với "anh Ba" (trợn) thì phải coi lại cái "lầm lẫn không cố tình" này cái đã! Muốn như vậy ta hãy xét lại cái bản chất ông Hồ từ trẻ tới già. Một người với bản chất lương thiện có thể phạm sai lầm một vài lần, tất nhiên là không cố tình, rồi sau đó thấy sai thì ăn lăn hối cải, làm lành chuộc tội. Ông Hồ thì ngược lại. Cuộc đời ông Hồ cho thấy ông không phải là người lương thiện. Bao nhiêu sách vở, nhân chứng trong và ngoài nước đã cho thấy. Trong bài này của ông Bùi Tín chúng ta cũng dễ dàng tìm thấy chi tiết hậu thuẫn cho nhận xét đó. Từ việc phụ nghĩa (lấy vợ đồng chí), phụ tình (lơ đẹp vợ cũ Tăng tuyết Minh), giết nàng hầu (Nông thị Xuân), bỏ con rơi (Nguyễn Tất Trung), vô tình với anh chị em, vắt chanh bỏ vỏ với người cộng sự (LS Nguyễn Mạnh Tường...), bất nghĩa với người ơn (bà Nguyễn Thị Năm). Từ suy nghĩ đó, em cho rằng ông Hồ sẵn sàng đi theo bất cứ thế lực nào để thoả mãn tham vọng cá nhân. Không thể kết luận rằng vì thấy lý thuyết của chủ nghĩa Cộng sản hay đẹp (vào thời điểm đó) mà ông Hồ theo. Cái gì đáp ứng tham vọng của ông thì ông theo. Thực dân hay Cộng sản không quan trọng. Cái bản chất ác độc của ông Hồ còn có thể được suy diễn khi đọc đoạn này của ông Bùi Tín: "...ta có thể trách ông Hồ là ông từng sống ở Moscow suốt từ 1924 đến 1938, giữa những năm khủng bố đỏ rùng rợn nhất của Staline,- khi mỗi ngày báo đảng Pravda đăng tin xử bắn hết uỷ viên bộ chính trị này đến ủy viên trung ương khác, và hàng xâu “tên phản động”, vậy mà ông vẫn sùng bái “trùm tội ác của các thời đại” đến tuyệt đối, sùng bái chuyên chính vô sản và đấu tranh giai cấp đến tuyệt đối, thì cái “tâm” và cái “trí” ông ở đâu?" Ông Hồ thấy cái ác mà vẫn theo thì ông còn ác hơn gấp bội. Lịch sử cho thấy ông Hồ không bao giờ biết nghĩ đến cái nỗi đau của nguời dân. Từ cải cách ruộng đất với bao nhiêu oan nghiệt mà ông vẫn dửng dưng; nếu có khóc chỉ là nước mắt cá sấu, bịp bợm bởi vì liền sau đó ông lại khởi xướng xâm lăng miền Nam để gieo bao tang tóc, phân ly cho dân lành. "Còn cái lai quần cũng đánh" chính là tư tưởng ông Hồ. Hãy mường tượng một dân tộc xác xơ như cái lai quần rách thì ai mà không thương cảm. Họa chăng là kẻ vô tâm.
Caubay vốn là anh học trò lười, ham chơi nhiều hơn ham học, nghe bấy nhiêu đã muốn ngáp; bèn lựa lời nói khéo như vầy:
- Em luận như vậy thì thiệt là hết sức thông, thiên hạ hiếm có, nhưng cũng đã hơi dài. Anh học cho thuộc chừng ấy cũng bả hơi tai. Chuyện ông Hồ thì nói chừng nào cho hết. Anh đồ rằng đến thế kỷ sau cũng còn. Thôi em tóm gọn gọn một chút để nhắn gởi các bạn trẻ vài lời được không?
Mobay nghe khen nịnh lấy làm khoái chí nhưng cũng nói khiêm như vầy:
- Cái trí em nhỏ như hột cỏ. M?t là anh thương, hai là anh dốt mà khen chớ chắc gì đã trúng. Tuy vậy em cũng có vài lời chia sẻ, không riêng gì với các bạn trẻ mà ngay cả…bạn già em cũng xin nhắn luôn một thể. Lời em nhắn không nhiều mà cũng cũ rích. Đó là cái chữ “ta” nó tai hại lắm, nó làm mờ đi cái nhìn trung thực khách quan. Hơn nữa cái chữ "ta" đôi khi nó rất nhập nhằng. Vậy thì từ nay về sau cố gắng bỏ bớt giùm em cái chữ “ta”; nhất là cái chữ "ta” trong câu biểu ngữ này: “Hồ chủ tịch vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”.
Mobay nói xong ngoe nguẩy đi, phần như vội vã, nửa như giận hờn. Caubay nhìn theo và chợt hiểu câu phải tề gia rồi mới trị quốc. Đứng dậy bước theo, tinh thần hớn hở, lòng dạ thông thoáng, nhưng nghĩ lại vẫn còn giận ông Hồ, lại vốn sính thơ, Caubay bèn ngâm nga mấy câu Kiều tân thời như vầy:
Cho hay muôn sự tại Người
Người kia vốn dĩ là phường bất nhân…
Caubay
San Diego, May 21, 2006
(Copyright @ DCVonline)
HCM: Thần tượng còn được tôn sùng hay vướng bận chưa tiện dẹp bỏ
HCM: Thần tượng còn được tôn sùng hay vướng bận chưa tiện dẹp bỏ
Hà Tường Cát
Nhật Báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận chính thức của Ðảng Cộng Sản Việt Nam, số ra ngày Thứ Tư đăng tin “Kỷ niệm trọng thể 115 năm ngày sinh Chủ Tịch Hồ Chí Minh” (19 Tháng Năm) bằng một buổi lễ tại Hội Trường Ba Ðình Hà Nội, với sự hiện diện của tất cả các giới lãnh đạo cao cấp chính quyền và đảng. Các thành phố và địa phương cũng không thể thiếu những lễ nghi tương tự được coi như bổn phận, nếu các giới chức cầm quyền ở những nơi này không muốn tự tạo cho họ sự phiền toái tới mức độ khó lường.
Giống như vậy, trong mấy ngày qua người ta đều thấy trên tất cả những tờ báo và cơ quan truyền thông ở Việt Nam một vài bài nói đến Hồ Chí Minh mà xem kỹ nội dung thì không ngoài những ngôn ngữ quy ước có tính cách chiếu lệ. Ðiều dễ hiểu là ở Việt Nam cho đến nay chưa ai dám nói hay bày tỏ thái độ gì khác hơn đối với một thần tượng đã được đưa lên vị trí bất khả xúc phạm.
Trong thực tế, ngày nay Hồ Chí Minh không còn ở vai trò một vị thánh trong chế độ như 30 năm trước. Không ai dám công khai cho phép dẹp bỏ, và cũng không còn sự cưỡng bách bất thành văn về việc mỗi gia đình phải treo hình “Bác Hồ” ở một vị trí cao trọng nhất trong nhà. Cách ứng xử tùy tiện ấy dần dần đưa đến tình trạng Hồ Chí Minh chỉ còn là một biểu tượng chưa thể cất bỏ nhưng cũng không cần phải luôn luôn nhắc nhở đến trong xã hội “xã hội chủ nghĩa theo đường hướng kinh tế thị trường”.
Tuy nhiên trên một mặt khác, thần tượng Hồ Chí Minh vẫn còn được duy trì như một nhu cầu cho chế độ, hay nói đúng hơn là cho những giới cầm quyền nhân danh chế độ mà ông Hồ là người đã tạo dựng. Sau khi thành công trong việc thực hiện được mục tiêu thống nhất đất nước, thì thất bại rõ ràng nhất của Ðảng Cộng Sản và nhà nước Việt Nam là dần dần mất hẳn sự tin tưởng từ dân chúng về khả năng của họ trong việc kiến thiết trong hòa bình và đem lại thịnh vượng. Ðồng thời trong thành phần lãnh đạo sau này thiếu hẳn một nhân vật lãnh tụ có uy tín tầm cỡ như Hồ Chí Minh. Ðể bù đắp vào khoảng trống lãnh đạo ấy, họ phải cố gắng nuôi giữ hình ảnh “Bác Hồ” đã được huyền thoại hóa để trình bày với dân chúng, và cũng là để duy trì mối dây liên kết giữa họ khi còn bám víu lấy vị trí hiện nay.
Phương cách ấy chưa hẳn đã có hiệu quả khi càng ngày người ta càng phanh phui ra nhiều điều giả dối đã được tô vẽ cho nhân vật Hồ Chí Minh. Ðến nay hầu như chẳng có chuyện gì ở ông Hồ đã là chuyện thật. Ngày sinh 19 Tháng Năm của ông chẳng đúng. Ðời sống khắc khổ của ông đáng nghi ngờ, ông không có vợ chính thức nhưng ít nhất cũng có một vài người con hoang. Ðạo đức của ông phải đặt thành vấn đề qua vụ quan hệ với Nguyễn Thị Minh Khai hay một cô cán bộ tên Xuân sau này bị thủ tiêu ở Hà Nội. Quá trình “ra đi tìm dường cứu nước”, lưu vong ở Âu Châu và Trung Quốc, có nhiều chi tiết đáng nghi ngờ. Những lời nói được coi như khuôn vàng thước ngọc của ông đều là giả dối hoặc vay mượn đánh cắp của cổ nhân hay người ngoại quốc. Ngay cả đến bản chúc thư ông để lại cũng có nhiều nghi vấn. Vì vậy sự cố giữ hình ảnh huyền thoại, và sự không thể mãi che giấu những chuyện giả tạo là hai mặt mâu thuẫn cho việc sử dụng thần tượng Hồ Chí Minh của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam hiện nay.
Nhưng cũng chưa thể dẹp bỏ thần tượng này vì những ấn tượng đã được truyền bá quá sâu rộng và lâu đời vào trong quần chúng. Hơn nữa còn rất nhiều chứng tích cụ thể từ “lăng Bác Hồ”, nhà bảo tàng ở thủ đô, cho đến hàng ngàn tượng đài, hình ảnh ở khắp mọi nơi trên toàn quốc. Cuối năm ngoái, Vladimir Yarygin, trưởng một phái đoàn khoa học y học Nga trong chuyến đến thăm Hà Nội đã nói rằng các chuyên viên Nga sẽ tiếp tục hỗ trợ giữ gìn lâu dài thi hài Hồ Chí Minh như đã làm từ 35 năm qua. Mới đây phủ thủ tướng Việt Nam đã ban hành quyết định “Phê duyệt quy hoạch tượng đài Chủ Tịch Hồ Chí Minh cho đến năm 2010” tại một số địa phương trên toàn quốc.
Ðối với giới trẻ thì nhân vật Hồ Chí Minh chẳng thể có một tác dụng hay ảnh hưởng gì đáng kể. Học sinh ở Việt Nam vẫn còn phải học những điều đã xói mòn và nhàm chán về “Bác Hồ” chẳng có liên quan thực tế gì đến cuộc sống của họ trong xã hội mới. Giới trẻ Việt Nam hải ngoại biết đến Hồ Chí Minh - dù qua bất cứ cách trình bày với quan điểm trái ngược nào - thì cũng chỉ thấy như một nhân vật xa vời của một thời đại đã đi qua.
Các nhà sử học và quan sát viên ngoại quốc thường có một cách nhìn khác về Hồ Chí Minh. Tùy theo cách thâu thập dữ kiện, phân tích và nhận định, họ cố gắng đi đến chỗ cân nhắc Hồ Chí Minh là người yêu nước hay kẻ phản bội dân tộc chỉ phục vụ cho mục tiêu của quốc tế cộng sản. Người Việt Nam ít chia sẻ những quan điểm ấy bởi vì trong thế hệ đã trải qua thời đại Hồ Chí Minh và đảng của ông, sự phân chia ranh giới quốc-cộng vẫn còn sâu đậm. Ðối với dân chúng đã sống dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa và người Việt tị nạn bây giờ thì ông Hồ chỉ là một tội phạm. Mọi hình thức và chiêu bài mà ông sử dụng chỉ là những thủ đoạn mà hậu quả gây ra là cuộc nội chiến tương tàn và sự tụt hậu của đất nước.
Nhìn theo chiều dài lịch sử, có lẽ thành tích lớn nhất của Hồ Chí Minh, nếu có thể gọi như vậy, lại là điều mà ông hay những kẻ theo ông đã không bao giờ ngờ đến. Quá trình “ra đi tìm đường cứu nước” của ông cuối cùng chỉ gây ra những tổn hại và tang thương lớn lao cho dân tộc. Nhưng hệ quả không tính được của nó là sự trốn chạy những thảm họa này đã đem người dân Việt Nam đến hầu khắp các quốc gia trên thế giới. Chủ trương đường lối của Hồ Chí Minh là quốc tế vô sản, thế giới đại đồng, nhưng kết quả lâu dài nhất lại là quốc tế hóa dân tộc Việt. (H.C.)
(Theo Web Người Việt online)
(Wednesday, May 18, 2005)
Hà Tường Cát
Nhật Báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận chính thức của Ðảng Cộng Sản Việt Nam, số ra ngày Thứ Tư đăng tin “Kỷ niệm trọng thể 115 năm ngày sinh Chủ Tịch Hồ Chí Minh” (19 Tháng Năm) bằng một buổi lễ tại Hội Trường Ba Ðình Hà Nội, với sự hiện diện của tất cả các giới lãnh đạo cao cấp chính quyền và đảng. Các thành phố và địa phương cũng không thể thiếu những lễ nghi tương tự được coi như bổn phận, nếu các giới chức cầm quyền ở những nơi này không muốn tự tạo cho họ sự phiền toái tới mức độ khó lường.
Giống như vậy, trong mấy ngày qua người ta đều thấy trên tất cả những tờ báo và cơ quan truyền thông ở Việt Nam một vài bài nói đến Hồ Chí Minh mà xem kỹ nội dung thì không ngoài những ngôn ngữ quy ước có tính cách chiếu lệ. Ðiều dễ hiểu là ở Việt Nam cho đến nay chưa ai dám nói hay bày tỏ thái độ gì khác hơn đối với một thần tượng đã được đưa lên vị trí bất khả xúc phạm.
Trong thực tế, ngày nay Hồ Chí Minh không còn ở vai trò một vị thánh trong chế độ như 30 năm trước. Không ai dám công khai cho phép dẹp bỏ, và cũng không còn sự cưỡng bách bất thành văn về việc mỗi gia đình phải treo hình “Bác Hồ” ở một vị trí cao trọng nhất trong nhà. Cách ứng xử tùy tiện ấy dần dần đưa đến tình trạng Hồ Chí Minh chỉ còn là một biểu tượng chưa thể cất bỏ nhưng cũng không cần phải luôn luôn nhắc nhở đến trong xã hội “xã hội chủ nghĩa theo đường hướng kinh tế thị trường”.
Tuy nhiên trên một mặt khác, thần tượng Hồ Chí Minh vẫn còn được duy trì như một nhu cầu cho chế độ, hay nói đúng hơn là cho những giới cầm quyền nhân danh chế độ mà ông Hồ là người đã tạo dựng. Sau khi thành công trong việc thực hiện được mục tiêu thống nhất đất nước, thì thất bại rõ ràng nhất của Ðảng Cộng Sản và nhà nước Việt Nam là dần dần mất hẳn sự tin tưởng từ dân chúng về khả năng của họ trong việc kiến thiết trong hòa bình và đem lại thịnh vượng. Ðồng thời trong thành phần lãnh đạo sau này thiếu hẳn một nhân vật lãnh tụ có uy tín tầm cỡ như Hồ Chí Minh. Ðể bù đắp vào khoảng trống lãnh đạo ấy, họ phải cố gắng nuôi giữ hình ảnh “Bác Hồ” đã được huyền thoại hóa để trình bày với dân chúng, và cũng là để duy trì mối dây liên kết giữa họ khi còn bám víu lấy vị trí hiện nay.
Phương cách ấy chưa hẳn đã có hiệu quả khi càng ngày người ta càng phanh phui ra nhiều điều giả dối đã được tô vẽ cho nhân vật Hồ Chí Minh. Ðến nay hầu như chẳng có chuyện gì ở ông Hồ đã là chuyện thật. Ngày sinh 19 Tháng Năm của ông chẳng đúng. Ðời sống khắc khổ của ông đáng nghi ngờ, ông không có vợ chính thức nhưng ít nhất cũng có một vài người con hoang. Ðạo đức của ông phải đặt thành vấn đề qua vụ quan hệ với Nguyễn Thị Minh Khai hay một cô cán bộ tên Xuân sau này bị thủ tiêu ở Hà Nội. Quá trình “ra đi tìm dường cứu nước”, lưu vong ở Âu Châu và Trung Quốc, có nhiều chi tiết đáng nghi ngờ. Những lời nói được coi như khuôn vàng thước ngọc của ông đều là giả dối hoặc vay mượn đánh cắp của cổ nhân hay người ngoại quốc. Ngay cả đến bản chúc thư ông để lại cũng có nhiều nghi vấn. Vì vậy sự cố giữ hình ảnh huyền thoại, và sự không thể mãi che giấu những chuyện giả tạo là hai mặt mâu thuẫn cho việc sử dụng thần tượng Hồ Chí Minh của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam hiện nay.
Nhưng cũng chưa thể dẹp bỏ thần tượng này vì những ấn tượng đã được truyền bá quá sâu rộng và lâu đời vào trong quần chúng. Hơn nữa còn rất nhiều chứng tích cụ thể từ “lăng Bác Hồ”, nhà bảo tàng ở thủ đô, cho đến hàng ngàn tượng đài, hình ảnh ở khắp mọi nơi trên toàn quốc. Cuối năm ngoái, Vladimir Yarygin, trưởng một phái đoàn khoa học y học Nga trong chuyến đến thăm Hà Nội đã nói rằng các chuyên viên Nga sẽ tiếp tục hỗ trợ giữ gìn lâu dài thi hài Hồ Chí Minh như đã làm từ 35 năm qua. Mới đây phủ thủ tướng Việt Nam đã ban hành quyết định “Phê duyệt quy hoạch tượng đài Chủ Tịch Hồ Chí Minh cho đến năm 2010” tại một số địa phương trên toàn quốc.
Ðối với giới trẻ thì nhân vật Hồ Chí Minh chẳng thể có một tác dụng hay ảnh hưởng gì đáng kể. Học sinh ở Việt Nam vẫn còn phải học những điều đã xói mòn và nhàm chán về “Bác Hồ” chẳng có liên quan thực tế gì đến cuộc sống của họ trong xã hội mới. Giới trẻ Việt Nam hải ngoại biết đến Hồ Chí Minh - dù qua bất cứ cách trình bày với quan điểm trái ngược nào - thì cũng chỉ thấy như một nhân vật xa vời của một thời đại đã đi qua.
Các nhà sử học và quan sát viên ngoại quốc thường có một cách nhìn khác về Hồ Chí Minh. Tùy theo cách thâu thập dữ kiện, phân tích và nhận định, họ cố gắng đi đến chỗ cân nhắc Hồ Chí Minh là người yêu nước hay kẻ phản bội dân tộc chỉ phục vụ cho mục tiêu của quốc tế cộng sản. Người Việt Nam ít chia sẻ những quan điểm ấy bởi vì trong thế hệ đã trải qua thời đại Hồ Chí Minh và đảng của ông, sự phân chia ranh giới quốc-cộng vẫn còn sâu đậm. Ðối với dân chúng đã sống dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa và người Việt tị nạn bây giờ thì ông Hồ chỉ là một tội phạm. Mọi hình thức và chiêu bài mà ông sử dụng chỉ là những thủ đoạn mà hậu quả gây ra là cuộc nội chiến tương tàn và sự tụt hậu của đất nước.
Nhìn theo chiều dài lịch sử, có lẽ thành tích lớn nhất của Hồ Chí Minh, nếu có thể gọi như vậy, lại là điều mà ông hay những kẻ theo ông đã không bao giờ ngờ đến. Quá trình “ra đi tìm đường cứu nước” của ông cuối cùng chỉ gây ra những tổn hại và tang thương lớn lao cho dân tộc. Nhưng hệ quả không tính được của nó là sự trốn chạy những thảm họa này đã đem người dân Việt Nam đến hầu khắp các quốc gia trên thế giới. Chủ trương đường lối của Hồ Chí Minh là quốc tế vô sản, thế giới đại đồng, nhưng kết quả lâu dài nhất lại là quốc tế hóa dân tộc Việt. (H.C.)
(Theo Web Người Việt online)
(Wednesday, May 18, 2005)
Juillet 1920: Conditions d'admission des Partis dans l'Internationale Communiste
II° Congrès de l'I.C.
Juillet 1920
Conditions d'admission des Partis dans l'Internationale Communiste
Le premier Congrès constituant de l'Internationale Communiste n'a pas élaboré les conditions précises de l'admission des Partis dans la III° Internationale. Au moment où eut lieu son premier Congrès, il n'y avait dans la plupart des pays que des tendances et des groupes communistes.
Le deuxième Congrès de l'Internationale Communiste se réunit dans de tout autres conditions. Dans la plupart des pays il y a désormais, au lieu des tendances et des groupes, des Partis et des organisations communistes.
De plus en plus souvent, des Partis et des groupes qui, récemment encore, appartenaient à la II° Internationale et qui voudraient maintenant adhérer à l'Internationale Communiste s'adressent à elle, sans pour cela être devenus véritablement communistes. La II° Internationale est irrémédiablement défaite. Les Partis intermédiaires et les groupes du « centre » voyant leur situation désespérée, s'efforcent de s'appuyer sur l'Internationale Communiste, tous les jours plus forte, en espérant conserver cependant une « autonomie » qui leur permettrait de poursuivre leur ancienne politique opportuniste ou « centriste ». L'Internationale Communiste est, d'une certaine façon, à la mode.
Le désir de certains groupes dirigeants du « centre » d'adhérer à la III° Internationale nous confirme indirectement que l'Internationale Communiste a conquis les sympathies de la grande majorité des travailleurs conscients du monde entier et constitue une puissance qui croît de jour en jour.
L'Internationale Communiste est menacée de l'envahissement de groupes indécis et hésitants qui n'ont pas encore pu rompre avec l'idéologie de la II° Internationale.
En outre, certains Partis importants (italien, suédois), dont la majorité se place au point de vue communiste, conservent encore en leur sein de nombreux éléments réformistes et social-pacifistes qui n'attendent que l'occasion pour relever la tête, saboter activement la révolution prolétarienne, en venant ainsi en aide à la bourgeoisie et à la II° Internationale.
Aucun communiste ne doit oublier les leçons de la République des soviets hongroise. L'union des communistes hongrois avec les réformistes a coûté cher au prolétariat hongrois.
C'est pourquoi le 2° Congrès international croit devoir fixer de façon tout à fait précise les conditions d'admission des nouveaux Partis et indiquer par la même occasion aux Partis déjà affiliés les obligations qui leur incombent.
Le 2° Congrès de l'Internationale Communiste décide que les conditions d'admission dans l'Internationale sont les suivantes :
1. La propagande et l'agitation quotidiennes doivent avoir un caractère effectivement communiste et se conformer au programme et aux décisions de la III° Internationale. Tous les organes de la presse du Parti doivent être rédigés par des communistes sûrs, ayant prouvé leur dévouement à la cause du prolétariat. Il ne convient pas de parler de dictature prolétarienne comme d'une formule apprise et courante ; la propagande doit être faite de manière à ce que la nécessité en ressorte pour tout travailleur, pour toute ouvrière, pour tout soldat, pour tout paysan, des faits mêmes de la vie quotidienne, systématiquement notés par notre presse. La presse périodique ou autre et tous les services d'éditions doivent être entièrement soumis au Comité Central du Parti, que ce dernier soit légal ou illégal. Il est inadmissible que les organes de publicité mésusent de l'autonomie pour mener une politique non conforme à celle du Parti. Dans les colonnes de la presse, dans les réunions publiques, dans les syndicats, dans les coopératives, partout où les partisans de la III° Internationale auront accès, ils auront à flétrir systématiquement et impitoyablement non seulement la bourgeoisie, mais aussi ses complices, réformistes de toutes nuances.
2. Toute organisation désireuse d'adhérer à l'Internationale Communiste doit régulièrement et systématiquement écarter des postes impliquant tant soit peu de responsabilité dans le mouvement ouvrier (organisations de Parti, rédactions, syndicats, fractions parlementaires, coopératives, municipalités) les réformistes et les « centristes » et les remplacer par des communistes éprouvés, - sans craindre d'avoir à remplacer, surtout au début, des militants expérimentés, par des travailleurs sortis du rang.
3. Dans presque tous les pays de l'Europe et de l'Amérique la lutte de classes entre dans la période de guerre civile. Les communistes ne peuvent, dans ces conditions, se fier à la légalité bourgeoise. Il est de leur devoir de créer partout, parallèlement à l'organisation légale, un organisme clandestin, capable de remplir au moment décisif, son devoir envers la révolution. Dans tous les pays où, par suite de l'état de siège ou de lois d'exception, les communistes n'ont pas la possibilité de développer légalement toute leur action, la concomitance de l'action légale et de l'action illégale est indubitablement nécessaire.
4. Le devoir de propager les idées communistes implique la nécessité absolue de mener une propagande et une agitation systématique et persévérante parmi les troupes. Là, où la propagande ouverte est difficile par suite de lois d'exception, elle doit être menée illégalement ; s'y refuser serait une trahison à l'égard du devoir révolutionnaire et par conséquent incompatible avec l'affiliation à la III° internationale.
5. Une agitation rationnelle et systématique dans les campagnes est nécessaire. La classe ouvrière ne peut vaincre si elle n'est pas soutenue tout au moins par une partie des travailleurs des campagnes (journaliers agricoles et paysans les plus pauvres) et si elle n'a pas neutralisé par sa politique tout au moins une partie de la campagne arriérée. L'action communiste dans les campagnes acquiert en ce moment une importance capitale. Elle doit être principalement le fait des ouvriers communistes en contact avec la campagne. Se refuser à l'accomplir ou la confier à des demi-réformistes douteux c'est renoncer à la révolution prolétarienne.
6. Tout Parti désireux d'appartenir à la III° Internationale, a pour devoir de dénoncer autant que le social-patriotisme avoué le social-pacifisme hypocrite et faux ; il s'agit de démontrer systématiquement aux travailleurs que, sans le renversement révolutionnaire du capitalisme, nul tribunal arbitral international, nul débat sur la réduction des armements, nulle réorganisation « démocratique » de la Ligue des Nations ne peuvent préserver l'humanité des guerres impérialistes.
7. Les Partis désireux d'appartenir à l'Internationale Communiste ont pour devoir de reconnaître la nécessité d'une rupture complète et définitive avec le réformisme et la politique du centre et de préconiser cette rupture parmi les membres des organisations. L'action communiste conséquente n'est possible qu'à ce prix.
L'Internationale Communiste exige impérativement et sans discussion cette rupture qui doit être consommée dans le plus bref délai. L'Internationale Communiste ne peut admettre que des réformistes avérés, tels que Turati, Kautsky, Hilferding, Longuet, Mac Donald, Modigliani et autres, aient le droit de se considérer comme des membres de la III° Internationale, et qu'ils y soient représentés. Un pareil état de choses ferait ressembler par trop la III° Internationale à la II°.
8. Dans la question des colonies et des nationalités opprimées, les Partis des pays dont la bourgeoisie possède des colonies ou opprime des nations, doivent avoir une ligne de conduite particulièrement claire et nette. Tout Parti appartenant à la III° Internationale a pour devoir de dévoiler impitoyablement les prouesses de « ses » impérialistes aux colonies, de soutenir, non en paroles mais en fait, tout mouvement d'émancipation dans les colonies, d'exiger l'expulsion des colonies des impérialistes de la métropole, de nourrir au cœur des travailleurs du pays des sentiments véritablement fraternels vis-à-vis de la population laborieuse des colonies et des nationalités opprimés et d'entretenir parmi les troupes de la métropole une agitation continue contre toute oppression des peuples coloniaux.
9. Tout Parti désireux d'appartenir à l'Internationale Communiste doit poursuivre une propagande persévérante et systématique au sein des syndicats, coopératives et autres organisations des masses ouvrières. Des noyaux communistes doivent être formés, dont le travail opiniâtre et constant conquerra les syndicats au communisme. Leur devoir sera de révéler à tout instant la trahison des social-patriotes et les hésitations du « centre ». Ces noyaux communistes doivent être complètement subordonnés à l'ensemble du Parti.
10. Tout Parti appartenant à l'Internationale Communiste a pour devoir de combattre avec énergie et ténacité l'« Internationale » des syndicats jaunes fondée à Amsterdam. Il doit répandre avec ténacité au sein des syndicats ouvriers l'idée de la nécessité de la rupture avec l'Internationale Jaune d'Amsterdam. Il doit par contre concourir de tout son pouvoir à l'union internationale des syndicats rouges adhérant à l'Internationale Communiste.
11. Les Partis désireux d'appartenir à l'Internationale Communiste ont pour devoir de réviser la composition de leurs fractions parlementaires, d'en écarter les éléments douteux, de les soumettre, non en paroles mais en fait, au Comité Central du Parti, d'exiger de tout député communiste la subordination de toute son activité aux intérêts véritables de la propagande révolutionnaire et de l'agitation.
12. Les Partis appartenant à l'Internationale Communiste doivent être édifiés sur le principe de la centralisation démocratique. A l'époque actuelle de guerre civile acharnée, le Parti Communiste ne pourra remplir son rôle que s'il est organisé de la façon la plus centralisée, si une discipline de fer confinant à la discipline militaire y est admise et si son organisme central est muni de larges pouvoirs, exerce une autorité incontestée, bénéficie de la confiance unanime des militants.
13. Les Partis Communistes des pays où les communistes militent légalement doivent procéder à des épurations périodiques de leurs organisations, afin d'en écarter les éléments intéressés et petit-bourgeois.
14. Les Partis désireux d'appartenir à l'Internationale Communiste doivent soutenir sans réserves toutes les républiques soviétiques dans leurs luttes avec la contre-révolution. Ils doivent préconiser inlassablement le refus des travailleurs de transporter les munitions et les équipements destinés aux ennemis des républiques soviétiques, et poursuivre, soit légalement soit illégalement, la propagande parmi les troupes envoyées contre les républiques soviétiques.
15. Les Partis qui conservent jusqu'à ce jour les anciens programmes social-démocrates ont pour devoir de les réviser sans retard et d'élaborer un nouveau programme communiste adapté aux conditions spéciales de leur pays et conçu dans l'esprit de l'Internationale Communiste. Il est de règle que les programmes des Partis affiliés à l'Internationale Communiste soient confirmés par le Congrès International ou par le Comité Exécutif. Au cas où ce dernier refuserait sa sanction à un Parti, celui-ci aurait le droit d'en appeler au Congrès de l'Internationale Communiste.
16. Toute les décisions des Congrès de l'Internationale Communiste, de même que celles du Comité Exécutif, sont obligatoires pour tous les Partis affiliés à l'Internationale Communiste. Agissant en période de guerre civile acharnée, l'Internationale Communiste et son Comité Exécutif doivent tenir compte des conditions de lutte si variées dans les différents pays et n'adopter de résolutions générales et obligatoires que dans les questions où elles sont possibles.
17. Conformément à tout ce qui précède, tous les Partis adhérant à l'Internationale Communiste doivent modifier leur appellation. Tout Parti désireux d'adhérer à l'Internationale Communiste doit s'intituler Parti Communiste de... (section de la III° Internationale Communiste). Cette question d'appellation n'est pas une simple formalité ; elle a aussi une importance politique considérable. L'Internationale Communiste a déclaré une guerre sans merci au vieux monde bourgeois tout entier et à tous les vieux Partis social-démocrates jaunes. Il importe que la différence entre les Partis Communistes et les vieux Partis « social-démocrates » ou « socialistes » officiels qui ont vendu le drapeau de la classe ouvrière soit plus nette aux yeux de tout travailleur.
18. Tous les organes dirigeants de la presse des Partis de tous les pays sont obligés d'imprimer tous les documents officiels importants du Comité Exécutif de l'Internationale Communiste.
19. Tous les Partis appartenant à l'Internationale Communiste ou sollicitant leur adhésion sont obligés de convoquer (aussi vite que possible), dans un délai de 4 mois après le 2° Congrès de l'Internationale Communiste, au plus tard, un Congrès extraordinaire afin de se prononcer sur ces conditions. Les Comités Centraux doivent veiller à ce que les décisions du 2° Congrès de l'Internationale Communiste soient connues de toutes les organisations locales.
20. Les Partis qui voudraient maintenant adhérer à la III° Internationale, mais qui n'ont pas encore modifié radicalement leur ancienne tactique, doivent préalablement veiller à ce que les 2/3 des membres de leur Comité Central et des Institutions centrales les plus importantes soient composés de camarades, qui déjà avant le 2° Congrès s'étaient ouvertement prononcés pour l'adhésion du Parti à la III° Internationale. Des exceptions peuvent être faites avec l'approbation du Comité Exécutif de l'Internationale Communiste. Le Comité Exécutif se réserve le droit de faire des exceptions pour les représentants de la tendance centriste mentionnés dans le paragraphe 7.
21. Les adhérents au Parti qui rejettent les conditions et les thèses établies par l'Internationale Communiste doivent être exclus du Parti. Il en est de même des délégués au Congrès extraordinaire.
http://www.marxists.org/francais/inter_com/1920/ic2_19200700b.htm
Mối liên quan giữa HCM, Đảng CSVN và Đệ Tam Quốc Tế
*
***
*
Nhận xét:
Nếu chấp nhận 21 điều kiện trên thì phải theo và tuân thủ tuyệt đối:
- chủ nghĩa tam vô:
. vô gia đình: phá nát truyền thống gia đình, đạo lý, gây nghi kỵ để kiểm soát, tố khổ ông bà cha mẹ anh chi em vợ chồng, đem "dâng đảng"; gia đình này kiểm soát gia đình kia, ... thay vì phải dựa trên sự công lý, công bằng, lẽ phải, đạo lý, bao dung, trách nhiệm cần thiết;
. vô tổ quốc: từ bỏ tinh thần quốc gia, dân tộc, làm tay sai cho ngoại bang; tổ quốc của người cs là cs Liên Xô/Tàu, thành trì cách mạng; là bộ phận của cs quốc tế, dưới sự kiểm soát và chỉ đạo của cs quốc tế, đảng;
. vô thần: khủng bố, cô lập, tiêu diệt tôn giáo; lập tôn giáo quốc doanh; đánh bóng và tôn thờ lãnh tụ một cách giả tạo, độc tài : Mac Le Mao HCM
. độc lập, tự do, quốc gia, dân tộc bị TRIỆT TIÊU, nếu có chỉ là chiêu bài lừa bịp giai đoạn để "kêu gọi lòng yêu nước" mà thội. Đây là thủ đoạn tinh vi và gian ác của cs !
. sẵn sàng bán lương tâm cho quỷ đỏ, dùng mọi thủ đoạn vô liêm sĩ để "đạt chỉ tiêu" định bởi BCT cs quốc tế, dù phải bán nước buôn dân để phục vụ cho "thành trì XHCN", "thế giới đại đồng", "làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu", "sự bành trướng CNCS", quyền lợi của đảng;
. đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản; xóa bỏ quyền tư hữu;
. tiêu diệt đối lập, khác chính kiến;
. dùng thủ đoạn lừa bịp, bạo lực, chiến tranh để cướp chính quyền, bảo vệ quyền lực;
. đặt quyền lợi của đảng lên trên quyền lợi dân tộc; tuy nhiên vẫn có thể "khoát áo" dân tộc để vận động, chiêu dụ, lừa gạt những người yêu nước mà không nắm vấn đề; khi vào rồi sẽ bị "kềm kẹp" bởi luật đảng, bởi đe dọa và khủng bố, không thể ra dễ dàng;
. bán lương tâm, quyền lợi, bản sắc truyền thống dân tộc;
. tuy nhiên, phải đóng vai đạo đức giả, dùng thủ đoạn "nói một đường, làm một nẻo" để lừa bịp quần chúng, bôi ác, chụp mũ, gán tội "phản động" những thành phần gọi là "xét lại chống đảng, biết quá nhiều bản chất xấu xa của đảng";
. những gì đảng làm sai ác, cứ bán cái cho kẻ đối lập khác;
. nếu không chấp hành thì sẽ bị thay thế, bị loại trừ, bị thủ tiêu bởi tổ chức !
Cụ thể, HCM nhận lương (100 usd $ / tháng) của cs quốc tế từ 1924; csvn nhân viên trợ mọi mặt của cs quốc tế (súng đạn, quân nhu, dân dụng, ...);
---
Con người trong thời đại cộng sản
Juillet 1920
Conditions d'admission des Partis dans l'Internationale Communiste
Le premier Congrès constituant de l'Internationale Communiste n'a pas élaboré les conditions précises de l'admission des Partis dans la III° Internationale. Au moment où eut lieu son premier Congrès, il n'y avait dans la plupart des pays que des tendances et des groupes communistes.
Le deuxième Congrès de l'Internationale Communiste se réunit dans de tout autres conditions. Dans la plupart des pays il y a désormais, au lieu des tendances et des groupes, des Partis et des organisations communistes.
De plus en plus souvent, des Partis et des groupes qui, récemment encore, appartenaient à la II° Internationale et qui voudraient maintenant adhérer à l'Internationale Communiste s'adressent à elle, sans pour cela être devenus véritablement communistes. La II° Internationale est irrémédiablement défaite. Les Partis intermédiaires et les groupes du « centre » voyant leur situation désespérée, s'efforcent de s'appuyer sur l'Internationale Communiste, tous les jours plus forte, en espérant conserver cependant une « autonomie » qui leur permettrait de poursuivre leur ancienne politique opportuniste ou « centriste ». L'Internationale Communiste est, d'une certaine façon, à la mode.
Le désir de certains groupes dirigeants du « centre » d'adhérer à la III° Internationale nous confirme indirectement que l'Internationale Communiste a conquis les sympathies de la grande majorité des travailleurs conscients du monde entier et constitue une puissance qui croît de jour en jour.
L'Internationale Communiste est menacée de l'envahissement de groupes indécis et hésitants qui n'ont pas encore pu rompre avec l'idéologie de la II° Internationale.
En outre, certains Partis importants (italien, suédois), dont la majorité se place au point de vue communiste, conservent encore en leur sein de nombreux éléments réformistes et social-pacifistes qui n'attendent que l'occasion pour relever la tête, saboter activement la révolution prolétarienne, en venant ainsi en aide à la bourgeoisie et à la II° Internationale.
Aucun communiste ne doit oublier les leçons de la République des soviets hongroise. L'union des communistes hongrois avec les réformistes a coûté cher au prolétariat hongrois.
C'est pourquoi le 2° Congrès international croit devoir fixer de façon tout à fait précise les conditions d'admission des nouveaux Partis et indiquer par la même occasion aux Partis déjà affiliés les obligations qui leur incombent.
Le 2° Congrès de l'Internationale Communiste décide que les conditions d'admission dans l'Internationale sont les suivantes :
1. La propagande et l'agitation quotidiennes doivent avoir un caractère effectivement communiste et se conformer au programme et aux décisions de la III° Internationale. Tous les organes de la presse du Parti doivent être rédigés par des communistes sûrs, ayant prouvé leur dévouement à la cause du prolétariat. Il ne convient pas de parler de dictature prolétarienne comme d'une formule apprise et courante ; la propagande doit être faite de manière à ce que la nécessité en ressorte pour tout travailleur, pour toute ouvrière, pour tout soldat, pour tout paysan, des faits mêmes de la vie quotidienne, systématiquement notés par notre presse. La presse périodique ou autre et tous les services d'éditions doivent être entièrement soumis au Comité Central du Parti, que ce dernier soit légal ou illégal. Il est inadmissible que les organes de publicité mésusent de l'autonomie pour mener une politique non conforme à celle du Parti. Dans les colonnes de la presse, dans les réunions publiques, dans les syndicats, dans les coopératives, partout où les partisans de la III° Internationale auront accès, ils auront à flétrir systématiquement et impitoyablement non seulement la bourgeoisie, mais aussi ses complices, réformistes de toutes nuances.
2. Toute organisation désireuse d'adhérer à l'Internationale Communiste doit régulièrement et systématiquement écarter des postes impliquant tant soit peu de responsabilité dans le mouvement ouvrier (organisations de Parti, rédactions, syndicats, fractions parlementaires, coopératives, municipalités) les réformistes et les « centristes » et les remplacer par des communistes éprouvés, - sans craindre d'avoir à remplacer, surtout au début, des militants expérimentés, par des travailleurs sortis du rang.
3. Dans presque tous les pays de l'Europe et de l'Amérique la lutte de classes entre dans la période de guerre civile. Les communistes ne peuvent, dans ces conditions, se fier à la légalité bourgeoise. Il est de leur devoir de créer partout, parallèlement à l'organisation légale, un organisme clandestin, capable de remplir au moment décisif, son devoir envers la révolution. Dans tous les pays où, par suite de l'état de siège ou de lois d'exception, les communistes n'ont pas la possibilité de développer légalement toute leur action, la concomitance de l'action légale et de l'action illégale est indubitablement nécessaire.
4. Le devoir de propager les idées communistes implique la nécessité absolue de mener une propagande et une agitation systématique et persévérante parmi les troupes. Là, où la propagande ouverte est difficile par suite de lois d'exception, elle doit être menée illégalement ; s'y refuser serait une trahison à l'égard du devoir révolutionnaire et par conséquent incompatible avec l'affiliation à la III° internationale.
5. Une agitation rationnelle et systématique dans les campagnes est nécessaire. La classe ouvrière ne peut vaincre si elle n'est pas soutenue tout au moins par une partie des travailleurs des campagnes (journaliers agricoles et paysans les plus pauvres) et si elle n'a pas neutralisé par sa politique tout au moins une partie de la campagne arriérée. L'action communiste dans les campagnes acquiert en ce moment une importance capitale. Elle doit être principalement le fait des ouvriers communistes en contact avec la campagne. Se refuser à l'accomplir ou la confier à des demi-réformistes douteux c'est renoncer à la révolution prolétarienne.
6. Tout Parti désireux d'appartenir à la III° Internationale, a pour devoir de dénoncer autant que le social-patriotisme avoué le social-pacifisme hypocrite et faux ; il s'agit de démontrer systématiquement aux travailleurs que, sans le renversement révolutionnaire du capitalisme, nul tribunal arbitral international, nul débat sur la réduction des armements, nulle réorganisation « démocratique » de la Ligue des Nations ne peuvent préserver l'humanité des guerres impérialistes.
7. Les Partis désireux d'appartenir à l'Internationale Communiste ont pour devoir de reconnaître la nécessité d'une rupture complète et définitive avec le réformisme et la politique du centre et de préconiser cette rupture parmi les membres des organisations. L'action communiste conséquente n'est possible qu'à ce prix.
L'Internationale Communiste exige impérativement et sans discussion cette rupture qui doit être consommée dans le plus bref délai. L'Internationale Communiste ne peut admettre que des réformistes avérés, tels que Turati, Kautsky, Hilferding, Longuet, Mac Donald, Modigliani et autres, aient le droit de se considérer comme des membres de la III° Internationale, et qu'ils y soient représentés. Un pareil état de choses ferait ressembler par trop la III° Internationale à la II°.
8. Dans la question des colonies et des nationalités opprimées, les Partis des pays dont la bourgeoisie possède des colonies ou opprime des nations, doivent avoir une ligne de conduite particulièrement claire et nette. Tout Parti appartenant à la III° Internationale a pour devoir de dévoiler impitoyablement les prouesses de « ses » impérialistes aux colonies, de soutenir, non en paroles mais en fait, tout mouvement d'émancipation dans les colonies, d'exiger l'expulsion des colonies des impérialistes de la métropole, de nourrir au cœur des travailleurs du pays des sentiments véritablement fraternels vis-à-vis de la population laborieuse des colonies et des nationalités opprimés et d'entretenir parmi les troupes de la métropole une agitation continue contre toute oppression des peuples coloniaux.
9. Tout Parti désireux d'appartenir à l'Internationale Communiste doit poursuivre une propagande persévérante et systématique au sein des syndicats, coopératives et autres organisations des masses ouvrières. Des noyaux communistes doivent être formés, dont le travail opiniâtre et constant conquerra les syndicats au communisme. Leur devoir sera de révéler à tout instant la trahison des social-patriotes et les hésitations du « centre ». Ces noyaux communistes doivent être complètement subordonnés à l'ensemble du Parti.
10. Tout Parti appartenant à l'Internationale Communiste a pour devoir de combattre avec énergie et ténacité l'« Internationale » des syndicats jaunes fondée à Amsterdam. Il doit répandre avec ténacité au sein des syndicats ouvriers l'idée de la nécessité de la rupture avec l'Internationale Jaune d'Amsterdam. Il doit par contre concourir de tout son pouvoir à l'union internationale des syndicats rouges adhérant à l'Internationale Communiste.
11. Les Partis désireux d'appartenir à l'Internationale Communiste ont pour devoir de réviser la composition de leurs fractions parlementaires, d'en écarter les éléments douteux, de les soumettre, non en paroles mais en fait, au Comité Central du Parti, d'exiger de tout député communiste la subordination de toute son activité aux intérêts véritables de la propagande révolutionnaire et de l'agitation.
12. Les Partis appartenant à l'Internationale Communiste doivent être édifiés sur le principe de la centralisation démocratique. A l'époque actuelle de guerre civile acharnée, le Parti Communiste ne pourra remplir son rôle que s'il est organisé de la façon la plus centralisée, si une discipline de fer confinant à la discipline militaire y est admise et si son organisme central est muni de larges pouvoirs, exerce une autorité incontestée, bénéficie de la confiance unanime des militants.
13. Les Partis Communistes des pays où les communistes militent légalement doivent procéder à des épurations périodiques de leurs organisations, afin d'en écarter les éléments intéressés et petit-bourgeois.
14. Les Partis désireux d'appartenir à l'Internationale Communiste doivent soutenir sans réserves toutes les républiques soviétiques dans leurs luttes avec la contre-révolution. Ils doivent préconiser inlassablement le refus des travailleurs de transporter les munitions et les équipements destinés aux ennemis des républiques soviétiques, et poursuivre, soit légalement soit illégalement, la propagande parmi les troupes envoyées contre les républiques soviétiques.
15. Les Partis qui conservent jusqu'à ce jour les anciens programmes social-démocrates ont pour devoir de les réviser sans retard et d'élaborer un nouveau programme communiste adapté aux conditions spéciales de leur pays et conçu dans l'esprit de l'Internationale Communiste. Il est de règle que les programmes des Partis affiliés à l'Internationale Communiste soient confirmés par le Congrès International ou par le Comité Exécutif. Au cas où ce dernier refuserait sa sanction à un Parti, celui-ci aurait le droit d'en appeler au Congrès de l'Internationale Communiste.
16. Toute les décisions des Congrès de l'Internationale Communiste, de même que celles du Comité Exécutif, sont obligatoires pour tous les Partis affiliés à l'Internationale Communiste. Agissant en période de guerre civile acharnée, l'Internationale Communiste et son Comité Exécutif doivent tenir compte des conditions de lutte si variées dans les différents pays et n'adopter de résolutions générales et obligatoires que dans les questions où elles sont possibles.
17. Conformément à tout ce qui précède, tous les Partis adhérant à l'Internationale Communiste doivent modifier leur appellation. Tout Parti désireux d'adhérer à l'Internationale Communiste doit s'intituler Parti Communiste de... (section de la III° Internationale Communiste). Cette question d'appellation n'est pas une simple formalité ; elle a aussi une importance politique considérable. L'Internationale Communiste a déclaré une guerre sans merci au vieux monde bourgeois tout entier et à tous les vieux Partis social-démocrates jaunes. Il importe que la différence entre les Partis Communistes et les vieux Partis « social-démocrates » ou « socialistes » officiels qui ont vendu le drapeau de la classe ouvrière soit plus nette aux yeux de tout travailleur.
18. Tous les organes dirigeants de la presse des Partis de tous les pays sont obligés d'imprimer tous les documents officiels importants du Comité Exécutif de l'Internationale Communiste.
19. Tous les Partis appartenant à l'Internationale Communiste ou sollicitant leur adhésion sont obligés de convoquer (aussi vite que possible), dans un délai de 4 mois après le 2° Congrès de l'Internationale Communiste, au plus tard, un Congrès extraordinaire afin de se prononcer sur ces conditions. Les Comités Centraux doivent veiller à ce que les décisions du 2° Congrès de l'Internationale Communiste soient connues de toutes les organisations locales.
20. Les Partis qui voudraient maintenant adhérer à la III° Internationale, mais qui n'ont pas encore modifié radicalement leur ancienne tactique, doivent préalablement veiller à ce que les 2/3 des membres de leur Comité Central et des Institutions centrales les plus importantes soient composés de camarades, qui déjà avant le 2° Congrès s'étaient ouvertement prononcés pour l'adhésion du Parti à la III° Internationale. Des exceptions peuvent être faites avec l'approbation du Comité Exécutif de l'Internationale Communiste. Le Comité Exécutif se réserve le droit de faire des exceptions pour les représentants de la tendance centriste mentionnés dans le paragraphe 7.
21. Les adhérents au Parti qui rejettent les conditions et les thèses établies par l'Internationale Communiste doivent être exclus du Parti. Il en est de même des délégués au Congrès extraordinaire.
http://www.marxists.org/francais/inter_com/1920/ic2_19200700b.htm
Mối liên quan giữa HCM, Đảng CSVN và Đệ Tam Quốc Tế
*
***
*
Nhận xét:
Nếu chấp nhận 21 điều kiện trên thì phải theo và tuân thủ tuyệt đối:
- chủ nghĩa tam vô:
. vô gia đình: phá nát truyền thống gia đình, đạo lý, gây nghi kỵ để kiểm soát, tố khổ ông bà cha mẹ anh chi em vợ chồng, đem "dâng đảng"; gia đình này kiểm soát gia đình kia, ... thay vì phải dựa trên sự công lý, công bằng, lẽ phải, đạo lý, bao dung, trách nhiệm cần thiết;
. vô tổ quốc: từ bỏ tinh thần quốc gia, dân tộc, làm tay sai cho ngoại bang; tổ quốc của người cs là cs Liên Xô/Tàu, thành trì cách mạng; là bộ phận của cs quốc tế, dưới sự kiểm soát và chỉ đạo của cs quốc tế, đảng;
. vô thần: khủng bố, cô lập, tiêu diệt tôn giáo; lập tôn giáo quốc doanh; đánh bóng và tôn thờ lãnh tụ một cách giả tạo, độc tài : Mac Le Mao HCM
. độc lập, tự do, quốc gia, dân tộc bị TRIỆT TIÊU, nếu có chỉ là chiêu bài lừa bịp giai đoạn để "kêu gọi lòng yêu nước" mà thội. Đây là thủ đoạn tinh vi và gian ác của cs !
. sẵn sàng bán lương tâm cho quỷ đỏ, dùng mọi thủ đoạn vô liêm sĩ để "đạt chỉ tiêu" định bởi BCT cs quốc tế, dù phải bán nước buôn dân để phục vụ cho "thành trì XHCN", "thế giới đại đồng", "làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu", "sự bành trướng CNCS", quyền lợi của đảng;
. đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản; xóa bỏ quyền tư hữu;
. tiêu diệt đối lập, khác chính kiến;
. dùng thủ đoạn lừa bịp, bạo lực, chiến tranh để cướp chính quyền, bảo vệ quyền lực;
. đặt quyền lợi của đảng lên trên quyền lợi dân tộc; tuy nhiên vẫn có thể "khoát áo" dân tộc để vận động, chiêu dụ, lừa gạt những người yêu nước mà không nắm vấn đề; khi vào rồi sẽ bị "kềm kẹp" bởi luật đảng, bởi đe dọa và khủng bố, không thể ra dễ dàng;
. bán lương tâm, quyền lợi, bản sắc truyền thống dân tộc;
. tuy nhiên, phải đóng vai đạo đức giả, dùng thủ đoạn "nói một đường, làm một nẻo" để lừa bịp quần chúng, bôi ác, chụp mũ, gán tội "phản động" những thành phần gọi là "xét lại chống đảng, biết quá nhiều bản chất xấu xa của đảng";
. những gì đảng làm sai ác, cứ bán cái cho kẻ đối lập khác;
. nếu không chấp hành thì sẽ bị thay thế, bị loại trừ, bị thủ tiêu bởi tổ chức !
Cụ thể, HCM nhận lương (100 usd $ / tháng) của cs quốc tế từ 1924; csvn nhân viên trợ mọi mặt của cs quốc tế (súng đạn, quân nhu, dân dụng, ...);
---
Con người trong thời đại cộng sản
Ðừng Hiểu Sai, Viết Lầm Về Hồ Chí Minh
Ðừng Hiểu Sai, Viết Lầm Về Hồ Chí Minh
Nguyễn Tường Bá
(Tác giả không giử bản quyền. Yêu cầu phổ biến rộng rãi)
Ngoại trừ có công với đảng CSVN, tự đề cao và được đề cao, Hồ Chí Minh không có công mà nặng tội với nước, với tất cả các đảng khác, với tất cả tôn giáo, làm thụt lùi nhiều thế kỷ, về mặt nhân quyền văn hóa xã hội, vĩnh viễn lỡ nhiều dịp phát triển Việt Nam thế kỷ vừa qua và hậu quả vẫn đè nặng ngày nay.
Ðể đừng hiểu sai viết lầm về Hồ Chí Minh, trước tiên người ta cần biết 3 điều căn bản tổng quát: Thế Chiến Hai Và Chiến Tranh Lạnh, Lực Lượng Khởi Ðầu Của Việt Minh Cộng Sản và Huyền Thoại Hồ Chí Minh.
Thế Chiến Hai Và Chiến Tranh Lạnh
Tại Âu Châu, Quân Quốc Xã Ðức xâm chiếm các nước có thuộc địa: Pháp, Hòa Lan, Bỉ và tàn phá Anh Quốc. Tại Á Châụ Quân phiệt Nhật đánh tan các thế lực thuộc địa tại Hồng Kông, Ðông Dương, Phi Luật Tân, Miến Diện, Mã Lai, Singapore, v.v...trước khi thua trận, Nhật đã trả độc lập cho các nước Ðông Nam Á.
Hai thế lực mạnh: Mỹ và Nga đối nghịch trong chiến tranh lạnh cổ võ và chủ trương trao độc lập trên thế giới. Nhờ vậy, phong trào độc lập thành tất nhiên. Nhiều nước độc lập dễ dàng như Ấn Ðộ (1946) Phi Luật Tân (1946) Nam Dương (1949) Mã Lai, Miến Ðiện (1947) Nam Bắc Hàn (1945). Có nước còn không muốn độc lập như Djibouti, Trung Hoa dưới Tưởng cũng như Mao đều không thấy ích lợi đòi Hồng Kông Ma Cao trước thời hạn.
Riêng tại Việt Nam, một ngày sau khi diệt quân đội Pháp (6-3-45) quân Nhật đã trả (nói cho đúng là "cưỡng bách") Việt Nam độc lập và chính phủ Trần Trọng Kim cũng là chính phủ Việt Nam độc lập đầu tiên kể từ khi bị Pháp xâm chiếm và các con tem bưu điện hồi đó là chứng minh cụ thể theo thế giới sử.
Lực Lượng Khởi Ðầu Của Việt Minh Cộng Sản
Sở Công Tác Chiến Lược Hoa Kỳ (O.S.S) nay là C.I.A, đã giúp Việt Minh Cộng Sản năm 1944-1945: 5000(năm ngàn) vũ khí với đạn dược cho số vũ khí đó, huấn luyện tại chiến khu cho bộ đội Việt Minh và danh nghĩa quân đội đồng minh (Sedgwick Tourison, Archimedes L.A. Patti).
Ðó là lực lượng tuyệt đối thời điểm 1945 vì chính phủ Trần Trọng Kim cầm quyền chỉ chú trọng về giáo dục, cứu đói, không chú trọng về quân sự, chỉ có lính khố đỏ mỗi nơi vài chục người võ trang súng bắn viên một của Pháp đã cổ, không có súng lục (chỉ Hoa Kỳ, Pháp mới có) mà súng nầy lại cần trong chiến tranh khủng bố. Khi quân Việt Minh cướp được chính quyền xong họ mới đi tìm Hồ Chí Minh đang lang thang trong rừng vài ngày sau mới gặp (Nguyễn Hưũ Ðang, Nhân Văn Giai Phẩm).
Sau vài ngày Việt Minh đảo chính tại Hà Nội, Lê Khang Ðổ Ðình Ðạo và mươi đảng viên Việt Nam Quốc Dân Ðảng (VNQÐ) với vài khẩu súng săn của đồn điền Ðỗ Ðình Ðạo cũng đã cướp được chính quyền ở Vĩnh Yên. Hoàng Văn Ðào cũng vì sợ lực lượng mạnh tuyệt đối của Việt Minh mà vua Bảo Ðại thoái vị và chính phủ Trần Trọng Kim không dám chống cự mặc dầu quân Nhật đề nghị sẵn sàng dẹp loạn (Trần Trọng Kim, Nguyễn Xuân Chữ).
Huyền Thoại Hồ Chí Minh
Ở trong nước, Huyền Thoại Hồ Chí Minh được dàn dựng theo kiểu mẫu lãnh tụ Nga Tàu, quy mô và độc đoán, coi Hồ Chí Minh như thánh, đạo đức anh minh. Tuy nhiên huyền thọai ở Việt Nam được đẩy xa hơn, thêm nhiều gian dối trắng trợn và rẻ tiền.
Thí dụ: Hồ Chí Minh không vợ, sống độc thân. Mặc dầu không hoang dâm như Mao Trạch Ðông, nhưng Hồ Chí Minh rõ rệt nhiều vợ hơn Mao. Ðủ mọi giống: Trung Hoa, Việt, dân tộc thiểu số, da trắng (Nga, Pháp). Ðặc biệt có sự biến đổi tâm tính từ một thiếu niên ngây thơ ngờ nghệch tán tỉnh cô đầm Bourdon không thành công (Nguyễn Thế Anh); Thân nhân tiệm hình Khánh Ký Paris còn cho biết các sinh viên du học tại Pháp khi về nước đã bàn giao các cô đầm để lại cho Hồ Chí Minh nhưng Hồ Chí Minh đã lúng túng thất bại. Giai đoạn ở bên Trung Hoa hoàn toàn khác, sau khi huấn luyện tại Nga làm việc Hoa Kỳ trong phái đòan Nga Borodin và cùng với Lâm Ðức Thụ bán nhà cách mạng Phan Bội Châu lấy 10 vạn đồng Ðông Dương. (Richard Nixon, No More Việt Nams) Hồ Chí Minh đã lão luyện mua chuộc bà mẹ cô Tàu Tăng Tuyết Minh, ngọai giao anh cô nầy và cưới Tăng Tuyết Minh vào tháng 10 năm 1926 trong một hôn lễ rất linh đình có cả vợ chồng Chu Ân Lai tham dự (Huang Zhen); Nhưng năm 1934, Hồ Chí Minh và Nguyễn Thị Minh Khai cùng tham dự Hội Nghị Quốc Tế Cộng Sản tại Moscow với danh nghĩa vợ chồng chánh thức (Sophie Quinn Judge), đây là một hôn phối chính trị vừa có lợi cho Nguyễn Thi Minh Khai lấy được cán bộ Moscow, có lợi cho Hồ Chí Minh có người vợ là đại biểu phụ nữ Ðông Dương duy nhất. Hồ Chí Minh lúc nầy đang bị xuống cấp và có nguy cơ bị thanh trừng. Sau năm 1937 Minh Khai về nước mới lấy Lê Hồng Phong. Ghi nhận năm 1930, Minh Khai đến làm việc với Hồ Chí Minh thì quan hệ với Tăng Tuyết Minh chấm dứt (William J.Duiker), Hồ Chí Minh ra tòa án Hồng Kông, Tuyết Minh có đến xem nhưng không nói chuyện và cũng không để cho Hồ Chí Minh nhìn thấy (Huang Zhen); lúc bị bắt tại Hồng Kông Hồ Chí Minh lại ở cùng với một phụ nữ Tàu khác. Ðây là giai đọan Hồ Chí Minh bắt đầu già dặn, tôi luyện trong tình trường và lão luyện trong việc xử dụng quản trị phụ nữ trong đời tư và nhất là trong mưu tính chính trị. Ðiều nầy do kết quả chủ nghĩa cộng sản học tập ở Moscow, hay do sự ăn chơi cùng Lâm Ðức Thụ nhờ dư tiền bán Phan Bội Châu hay do bản tính xấu của chính mình, hay do cả 3 yếu tố ? Có ảnh chụp một phụ nữ đẹp ngồi chung với các sĩ quan O.S.S đặc biệt là vị trưởng toán Archimedes L.A. Patti và Hồ Chí Minh trong chiến khu Việt Bắc 1944-1945. Archimedes L. A. Patti chối là không bị mỹ nhân kế nhưng không hiểu phụ nữ nầy có mặt trong chiến khu làm gì ? Phái đoàn O.S.S nầy lại thiên vị cho Việt Minh rất quá đáng, kỳ thị không những kháng chiến Pháp mà còn kỳ thị mọi phe quốc gia. Khi về Hà Nội cầm quyền 1945-1946, Pháp có đưa một số cô đầm từ Pháp sang gặp Hồ Chí Minh, trong đó có cô Brière chụp ảnh chung với Hồ Chí Minh. Nhưng Hồ Chí Minh không mắc mỹ nhân kế.
Trong trận điện biên phủ, nhiều đêm Võ Nguyên Giáp hủ hóa HCM không thể không biết vì ở chung môt chỗ. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ khi ra bưng cũng được thỏa mãn tình dục đầy đủ vì điều nầy giới luật gia tại Miền Nam thập niên 1950 đều biết bệnh đa dâm này của Thọ và chính Thọ cũng đang bị dính líu trong một vụ hiếp dâm tại Nha Trang trước khi đi bưng. Ðể tái kết thân với Chu Ân Lai vì lỗi HCM đã né trốn không tham gia Vạn Lý Trường Chinh, Hồ Chí Minh thân thiết tán tỉnh vợ Chu Ân Lai, một phụ nữ xấu xí và kết quả là được Chu Ân Lai nâng đỡ, lúc chụp hình với Mao luôn luôn được Chu Ân Lai cho đứng cạnh.
Cao điểm Hồ Chí Minh với phụ nữ là thủ tiêu Nông Thị Xuân năm 1957 (Hồ Chí Minh lúc nầy 65 tuổi và cô Xuân chỉ 20) sau khi ăn nằm và có con với cô Xuân từ ít nhất 1952. (Vũ Thư Hiên) và cô Xuân ngờ nghệch xin Hồ Chí Minh cho công khai tương quan.
Tính toán sai lạc của Hồ Chí Minh trong việc dùng phụ nữ là ôm hôn bà Sokarno tại hội nghị Bandung, Nam Dương, xứ hồi giáo, việc ôm hôn nầy gây căm phẫn bất lợi ngoại giao.
Thí dụ: Hồ Chí Minh ở nhà sàn.
Ký giả Oliver Todd gọi nhà sàn nầy là của người gác vườn (vì xây dựng lên trong khuôn viên dinh thự thực dân Pháp xưa), nhưng dân Hà Nội oái ăm gọi là nhà sống không ở được. Không làm việc và chỉ chết mới đem xác về vì nhà sàn thiếu chỗ đi vệ sinh, cộng sản cũng nghĩ đến điều đơn giản này nhưng thực hiện lại khó vì dùng cầu giật thì quá văn minh (thời gian 1969 tại Bắc Việt) và dùng cầu đổ thùng thì quá buồn cười với khách ngoại quốc, dù sao "nhà sàn" nầy thiếu tiện nghi truyền thông cho một nguyên thủ bề bộn trong thời chiến.
Ðiều quan trọng không phải Hồ Chí Minh được ở dinh thự hay ở nhà sàn. Bác sĩ Lý, bác sĩ riêng của Mao Trạch Ðông đã tả rõ rệt cảnh Hồ Chí Minh thèm thuồng (khiến ông Lý nầy phải thương hại) trước những tiện nghi mỹ lệ của các dinh thự tại Bắc Kinh.
Thí dụ: Hồ Chí Minh ăn hút.
Các ký giả ngoại quốc nhận xét Hồ Chí Minh hút thuốc thơm ngoại quốc chứ không phải thứ nội hóa nhãn Ðiện Biên Phủ xanh đỏ. Nhưng thời gian trước 1945 Hồ Chí Minh vẫn hút thuốc thơm (Philips Moris) nhưng để trong bao Melia vàng nội hóa. Giáo sư khả kính Vũ Khắc Khoan kể lại đã được Hồ Chí Minh khoái chí cười cho một điếu thuốc Philis Moris lại để trong bao Melia nội hóa, trong một chuyến du hành rõ ràng láu cá ranh vặt. Các cán bộ Quốc Dân Ðảng ngay từ năm 1945 đã báo cáo Bắc Bộ Phủ Việt Minh hằng ngày lấy thức ăn từ khách sạn Métropole ở bên kia đường, thức ăn Pháp "cao cấp" nhất Ðông Dương. Suốt thời gian 1954-1975 phần hàng ăn của Métropole vẫn sống mạnh trong khi phần khách sạn bỏ hoang phế, Hồ chí Minh và các thân cận nghiền cơm Pháp.
Vua chúa hưởng lạc vốn thông thường, họ có phải dấu diếm cũng vì chính trị, nhưng gian dối lường gạt là điều hiếm có và đi cả đến chỗ sát nhân là điều hi hữu. Sau khi Hồ Chí Minh chết huyền thọai trên không giảm mà lại tăng thêm:
Thí dụ 1. Ngày chết của Hồ Chí Minh đúng vào ngày 2 tháng 9, ngày "Quốc Khánh" liền được sửa lại là ngày 3 tháng 9. Nhưng sau đó sự thật lộ ra nên các tài liệu sau nầy tránh nhắc đến ngày chết của Hồ Chí Minh, chỉ để năm thôi. Hậu quả là Hồ Chí Minh không có ngày giổ.
Thí dụ 2. "Xây Lăng" và ướp xác. Xây mộ rất nguy nga và ngay trong thời chiến và các xác được ướp theo mẫu Nga Xô. Nhiều quân nhân bị bom chết trong lúc lấy gỗ trong rừng.
Thí dụ 3. "Cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh" Hồ Chí Minh ít khi nói thật, nhưng khi nói thật: "Tôi không có tư tưởng gì, tất cả những gì đã do Stalin, Mao Trạch Ðông nghĩ ra" thì các hậu duệ Hồ Chí Minh không tin. (!)
Giáo sư Sophie Judge nhận xét: Cho đến hết sự nghiệp của ông, Hồ chỉ là một người thực hành thỏa hiệp về chính trị, tạo thế liên hiệp hơn là một người chuyên về lý thuyết và ý thức hệ (Ðại học Yale, Connecticutt).
Nếu đem so sánh với các lãnh tụ cộng sản thế giới thì Hồ Chí Minh thua kém Mao Trạch Ðông và Kim Nhật Thành (Bắc Hàn) về mặt tư tưởng; Mao có tư tưởng "cách mạng văn hóa" và Kim có "tự cường" (Juche), một thứ tổng hợp Mác xít và quân chủ Á Ðông. Hồ cũng không làm được như Ti Tô, người trung lập đứng ngoài tranh chấp Nga Mỹ. Hồ cũng đã dự hội nghị trung lập Bandung 1955 có lẽ thử trung lập nhưng không làm nổi vì không khả năng ăn nói như Nehru và các lãnh tụ khác. Hồ giống Fidel Castro ở điểm nô lệ Mác Xít, thiếu khả năng kinh bang tế thế nên lấy chiến tranh đánh thuê làm lẽ sống. Chỉ CSVN mới có cả một binh chủng đặc công, kỷ lục thế giới về chiến tranh khủng bố.
Hàng ngàn trang Hồ Chí Minh Toàn Tập đọc rất chán với người có trình độ văn hóa vì lập luận một chiều: cộng sản luôn luôn tốt, tư bản luôn luôn xấu. Ca tụng Mác Xít như Sách Ước muốn gì cũng được. CSVN khoe Hồ Chí Minh có công phổ biến chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam. Sai; công nầy do Trương Tửu, Ðặng Thế Mai, Tạ Thu Thâu. Hồ không bao giờ phê bình hoặc giải thích chủ nghĩa cộng sản. Hồ chỉ là người bắt chước các chế độ Nga Tàu cộng đã làm. Ðem áp dụng một cách máy móc tựa như Monkey sees Monkey do. Hồ chẳng bao giờ quan tâm, thắc mắc, suy nghĩ về các vấn đề tư tưởng. "Cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh" chỉ là bóp méo ngôn ngữ, bịp bợm của đám hậu bối.
Không có "Cái Gọi Là Tư Tưởng Hồ Chí Minh", điều người ta phải bàn là đầu óc Hồ Chí Minh.
J.H.Roy, cộng sản Ấn, đồng môn với Hồ Chí Minh từ 1924 ở Moscow đã cho biết ngay từ thập niên 1950 về cái đầu óc của Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh học hành không xuất sắc, kém cỏi trong các đề tài thảo luận, thậm chí đến nỗi không biết lập luận. J.H. Roy ngạc nhiên tại sao Hồ lại thành công tại Việt Nam. Câu trả lời cho J.H. Roy là Hồ Chí Minh không thông minh, Hồ chỉ khôn vặt. Ðể đo thông minh ngày nay ta có chỉ số thông minh (IQ), tuy nay không thể áp dụng với Hồ, nhưng ta có thể đoán chắc là nếu đo IQ (tỷ số thông minh) vì Hồ không biết lập luận, không biết toán và khoa học nên số tỷ lệ thông minh của Hồ khó mà bằng mức trung bình. Nhưng Hồ có thể thành công vì các điều sau:
- Hồ có khiếu ngoại ngữ, biếtt nói nhiều thứ tiếng Pháp, Anh, Nga, Quảng Ðông; tuy nhiên Hồ không viết Pháp văn, Nga văn khá, chữ Hán thì chỉ viết được thư từ thông thường. Biết nói Anh ngữ là một lợi khí hiếm có vào thời đó và chính nhờ Anh ngữ mà Hồ chinh phục được người anh cô Tăng Tuyết Minh vốn là sinh viên du học Hoa Kỳ, đặc biệt là mua chuộc và lèo lái các nhân viên tình báo Hoa Kỳ O.S.S.
Hồ có óc thực tế và điều nầy được C.S.V.N đề cao. Ðừng tưởng lầm lẫn với tinh thần thực tế phóng khoáng vượt thóat giáo điều Mác xít, kiểu như "Mèo trắng, mèo đen đều bắt chuột" của Ðặng Tiểu Bình. Óc thực tế kiểu Hồ Chí Minh vị kỷ duy vật Mác xít cứng nhắc và chỉ ranh vặt.
Khi còn hàn vi Hồ đã từng vì tình gia đình viết thư xin quan thuộc địa cho cha phục chức và nhờ gởi tiền cho cha; nhưng khi lên ngôi cao Hồ chỉ tiếp người chị ruột một lần và nói những gì khiến cho người nầy khóc bỏ ra về và từ đó không ai trong gia đình Hồ còn đến quấy nhiểu Hồ nữa và Hồ cũng không hỏi thăm giúp đở gì gia đình nghèo nầy. Nói cho đúng Hồ có môt lần viết thư chia buồn nhân đám tang mà dụng tâm chỉ để quảng cáo cho tiếng tăm cá nhân. Với người vợ cả chính thức Hồ thủ tiêu Lâm Ðức Thụ người bạn chơi bời và mối lái xưa, cắt đứt mọi liên lạc tai tiếng có vợ và vợ người Tàu. Thủ tiêu Nông thị Xuân người đã có con với Hồ nhưng khờ khạo muốn công khai hóa tương quan nầy, các thân nhân của cô Xuân biết chuyện đều cũng bị thủ tiêu.
Hồ không yêu nước theo nghĩa truyền thống hàng nghìn năm Việt: yêu nước là yêu dân. Trong tim Hồ chỉ có cá nhân Hồ và Ðảng cộng sản; không có chỗ cho người dân. Suốt cuộc đời của Hồ, việc thiện duy nhất là ngỏ ý sẽ miễn thuế cho dân nếu hết chiến tranh. Thích Quảng Ðộ than rằng CSVN quá ác và ngay các trẻ thơ Việt thường rù rì lén chỉ cho nhau râu Hồ Chí Minh hiện hình ra "cái đầu lâu".
Hồ không có tinh thần tự cường độc lập. Hồ là người Việt duy nhất từng muốn và đã làm tay sai cho hầu hết các thế lực ngoại quốc tại Việt Nam, Pháp (Xin học trường thuộc địa) Nga Sô (Làm cán bộ có lương nhiều chục năm) Trung Cộng (thân tín của Beria Trung Cộng Khang Sanh) Trung Hoa Quốc Gia (Phục vụ cho 2 tướng Trương Phát Khuê và Tiêu Văn) Hoa Kỳ (Phục vụ cho O.S.S với bí danh Lucius). Tay sai đắc lực tận tụy mà các quan thầy đều hài lòng và đặc biệt tiếc rẻ nếu đã không còn dùng Hồ nữa (Archimedes L.A. Patti, Jean Sainteny).
Hồ có tài gây cảm tình cá nhân, tạo ấn tượng tốt trong đám đông, nhưng cũng là người rất vong ân bội nghĩa như đối với gia đình và các ân nhân: Chủ nhân tiệm hình Khánh Ký Paris (Ls Trần Tấn Việt), Lâm đức Thụ v.v...
Hồ đa nghi và rất ghen ngay lúc tuổi đã gìa, chính "Beria" Trần Quốc Hoàn biết rỏ điều nầy và lợi dụng để thuyết phục Hồ cho phép thủ tiêu cô Nông Thị Xuân (Vũ Thư Hiên).
Thân Thế:
Hồ là nhân vật mà thân thế đã bị sửa chữa bịa đặt quá nhiều do chính Hồ và cả các than cận hậu huệ nên rất mù mờ khó mà tìm ra sự thật và có thể coi là không có thân thế.
Hồ có cả thảy 145 bí danh và tên, theo Antatoli Sokolov và theo Trần Anh Tuấn là 150 trong đó có đến 62 bí danh dùng để viết sách báo ca tụng chính mình như Trần Dân Tiên, T. Lan v.v... lúc thì lấy tên đàn ông, lúc tên đàn bà, lúc thì họ Hồ, họ Lê, họ Nguyễn và Trần, lúc thân cận như Bác, lúc bí hiểm như X.Y.Z. (Thế kỷ, May 1999). Ðặc biệt Hồ có bí danh dùng riêng với tình báo Nga Xô là "Lin" và tình báo Hoa Kỳ O.S.S là "Lucius, nhân viên số 19" (Back Fire, Loren Baritz trang 46).
Tất cả các tên và bí danh của Hồ đều không nổi tiếng và không đáng chú ý trừ 2 tên: Nguyễn Aí Quốc và Hồ Chí Minh. Tên Nguyễn Ái Quốc (hay Quấc) là bí danh chung của 5 người chống Pháp: Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Phan Chu Trinh, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh) mà giới Việt Kiều Paris gọi là Ngũ Long. Tên Nguyễn Ái Quốc không do Hồ nghĩ ra vì lẽ đơn giản là Hồ Chí Minh là kẻ đến sau gia nhập nhóm này và cũng là người trẻ nhất. Các bài viết của nhóm cũng không do Hồ viết vì trình độ Pháp ngữ của Hồ kém, tuy chỉ một mình Hồ ngang nhiên lấy xử dụng tên này để khoe khoang cho đến khi Hồ bán Phan Bội Châu cho Pháp, tên nầy trở thành mang tiếng xấu thì Hồ mới chấm dứt đội tên Nguyễn Ái Quốc.
Tên Hồ Chí Minh vốn là một bí danh cũ của Hồ Học Lãm, một người Việt lưu vong ở Trung Quốc chết năm 1942 (Chánh Ðạo, Niên Biểu Nhân Vật Chí Việt Nam). Chí Minh là một tên rất phổ thông ở bên Tàu và họ Hồ cũng thế, cho nên rất nhiều người Trung Hoa có cái tên Hồ Chí Minh. Theo Vũ Hồng Khanh người đã đem Hồ Chí Minh ra khỏi tù thì là Nguyễn Tất Thành đã mua một căn cước của một hành khất vô thừa nhận mang tên Hồ chí Minh và xử dụng giấy này khi bị bắt, đến khi thả ra phải mang tiếp căn cước này. Ðiều khôi hài là nhiều tác giả, có cả tự điển đã diễn nghĩa ca tụng "Hồ Chí Minh" có nghĩa là người sáng suốt, thức tỉnh khi mọi người còn ngủ.
Chính họ Hồ tự khai ít nhất 5 năm sinh khác gồm 1890 (Trần Dân Tiên) 1891 (Yên Sơn, bí danh khác của Hồ) 1892 (Trong đơn xin học trường thuộc địa Marseille Pháp) 1894 (Khai với sở cảnh sát Paris) 1895 (Khai với sứ quán Nga Xô Berlin để đi học). Tìm hiểu năm nào đúng là việc vô bổ và chúng ta chỉ cần ghi nhận rằng khi còn trẻ đi du học thì khai trẻ hơn và khi về nước lại khai già hơn, tất cả là do nhu cầu thực tế và sự khôn vặt của Hồ; chẳng lẽ năm 1945 xưng là cha già dân tộc, là cụ là bác mà lại sanh 1895 mới chưa đầy 50 tuổi thì coi cũng kỳ và khi du học phải khai trẻ để tỏ ra mình xuất sắc.
Trước ngày quân đội Pháp đổ bộ lên cảng Hải Phòng CSVN sợ phản ứng của dân chúng nên đã bịa đặt ngày 19 tháng 5 là ngày sinh nhật Hồ Chí Minh kêu gọi dân Hải Phòng treo cờ mừng ngày "sinh nhật"; trong khi chúng giải thích với thực dân Pháp là dân treo cờ thỏa thận cho quân Pháp trở lại miền Bắc Việt Nam. Ngày sinh nhật 19-5 là một ngày "chính trị" chẳng phải là ngày thật và mục đích là đón cao uỷ Pháp D'Argenlieu cùng quân đội Pháp đổ bộ lên Bắc Việt (Hoàng Văn Chí, Từ Thực Dân đến Cộng Sản).
Ngày chết của Hồ trùng với ngày Quốc Khánh nên bị sửa thành ngày 3 tháng 9. Sau ít lâu bị lộ nên sửa lại cho đúng nhưng trong các tài liệu sau đó CSVN tránh ghi ngày chết mà chỉ ghi năm chết của Hồ, như ngụ ý sợ dân chúng ăn mừng nhân dịp Hồ chết.
Hồ có thân thể mặt mũi xấu mà còn có thể gọi là cổ quái gian ác nếu là hình chụp trung thực và nếu là hình sửa thì thành tốt tướng hiền lành, nhưng nhìn kỹ bộ râu dê thấy có hình đầu lâu. Tất cã các hình do CSVN phổ biến đều là hình sửa chữa, hình giả.
Sự Nghiệp:
Hồ là con một tri huyện Nam Triều bị cách chức, vị này có quen biết nhà cách mạng Phan Châu Trinh. Toàn gia đình chống Pháp và không xa lạ gì với phong trào Ðông Du Phan Bội Châu. Tuy nhiên Hồ năm 1911 đã chọn con đường tiến thân khác, bằng cách xin làm quan với thực dân Pháp ngay khi xuất ngọai đến bến Marseille, Pháp (Richard Nixon, No More Việt Nams). Ðừng lầm lẫn với con đường Tây Du, xuất ngoại mưu cầu mở mang dân trí của Phan Chu Trinh. Hồ xin làm việc cho Nga Xô; rõ ràng Hồ có căn cơ làm tay sai vì sau đó Hồ theo Khang Sinh "Beria Trung Cộng"; tướng Trương Phát Khuê khen Hồ là biết phục vụ tốt, tướng Tiêu Văn khen là Hồ đã tỏ ra hối lỗi vì theo Cộng Sản, theo tình báo Hoa Kỳ O.S.S.
- Năm 1925, Hồ đã bán Phan Bội CChâu, một nhà cách mạng chống Pháp hàng đầu lấy 10 vạn đồng (Richard Nixon, No More Vietnams).
- Năm Ất Dậu, 1954 tại Bắc Viỻ?t đã xẩy ra nạn đói đã do nhiều nguyên nhân: Mất mùa, do thực dân Pháp thu thuế cao, quân Nhật bắt trồng đay và bom đạn của phi cơ Hoa Kỳ. Tuy nhiên bom đạn Hoa Kỳ là nguyên nhân thiết yếu vì đường tiếp tế gạo ở trong Nam không chở gạo ra Bắc, gạo trong Nam thừa và rẻ đến nỗi đốt máy xe lửa và gạo ngoài Bắc đắt đến mức gấp 40 lần gạo trong Nam, hậu quả là dân quê nghèo chết đói khoảng 2 triệu người. Nạn đói chấm dứt khi Hoa Kỳ ngưng ném bom vào thời điểm Nhật đầu hàng. Sở dĩ bom đạn Hoa Kỳ năm 1945 hữu hiệu là nhờ tin tình báo và sự chỉ điểm của CSVN do Hồ lãnh đạo; Cơ quan O.S.S có thể quên không quan tâm đến tình trạng dân quê miền Bắc sẽ đói. Nhưng Hồ chắc chắn sẽ biết hậu quả việc cắt đường tiếp tế gạo Nam Bắc nhất là khi báo chí lúc đó loan tin bác sĩ Vũ Ngọc Anh bộ tưởng y tế xã hội và đoàn cứu tế mang gạo đã bị chết vì bom đạn phi cơ Hoa Kỳ trên đường công tác. Ngược lại Hồ còn lợi dụng nạn đói trong mục tiêu sách động quần chúng nổi dậy và ngay cả khi đã cướp được chính quyền Hồ còn lấy tiền trong quỹ cứu đói lạc quyên do chính phủ Trần Trọng Kim gom chung với Quỹ Tuần Lễ Vàng lạc quyên do chính phủ Hồ Chí Minh lạc quyên để hối lộ các tướng Tàu sang giải giới quân Nhật. Hồ tay đã nhúng chàm nên Cộng Sản Việt Nam không dám mở miệng đòi bồi thường về nạn đói đối với Nhật và Hoa Kỳ vốn là 2 nước giàu có và trọng trách nhiệm.
Ngày 9/3/1945 Nhật đảo chính Pháp và trả độc lập cho Việt Nam, ngày 11/3/1945 vua Bảo Ðại tuyên ngôn độc lập và thành lập chính phủ Trần Trọng Kim. Chính phủ đoản mệnh cầm quyền 5 tháng nhưng đã làm các bước căn bản đáng kể cho nền giáo dục. Hồ đảo chính chính phủ Trần Trọng Kim và ngày 2/9/1945 lại ra tuyên ngôn độc lập lần thứ hai. Thực dân Pháp hay Tàu khi cai trị đã đem lại văn minh của họ, nhưng CSVN vì tầm văn hóa thấp (Hà Sĩ Phu) CSVN đã làm ngưng bước tiến văn minh của Việt Nam từ ngày 2/9/1945. Boris Yelsin coi nước Nga "tái sinh" và Nhất Linh Nguyễn Tường Tam coi nước Việt "mất nước" (di chúc 7/7/1963 Nhất Linh Nguyễn Tường Tam), dân Việt thành nô lệ thấp kém cho chính người nước mình, một chế độ bóc lột hơn thực dân Pháp, mức chênh lệch giữa thống trị và bị trị lớn hơn, nhân quyền bị vi phạm nhiều hơn và ngay cả tự do tôn giáo như thời Pháp thuộc cũng không còn.
Chiến tranh Việt Pháp chỉ xảy ra khi quân Pháp trở lại Việt Nam sau thế chiến 2, ở miền Nam nhờ quân Anh ngầm giúp cho đổ bộ, nhưng tại miền Bắc do Hồ chính thức mời bằng Hiệp Ðịnh 6-3-1946. Hồ giãi thích gian dối là chịu đựng Pháp còn hơn là phải chịu đưng Tàu, mặc dầu Hồ biết rõ Tưởng Giới Thạch tại hội nghị Yalta đã từ chối gợi ý của F. Roosevelt về việc để Tàu chiếm đóng Việt Nam và trên thực tế quân đội của Tưởng còn bận chống quân Trung Cộng tại Mãn Châu. Nguyễn Tường Tam, bộ trưởng ngoại giao, phản đối và từ chức ngày 6-3-1946. Lý do Hồ đón quân Pháp là để đánh dẹp các chiến khu của quân quốc gia với sự hỗ trợ pháo binh và chiến xa của Pháp (Richard Nixon, No More VietNams). Ngày 6-3-1946 có thể coi là ngày bắt đầu cuộc chiến Việt Nam lần I, hoặc cụ thể hơn là ngày 19 tháng 5 năm 1946 ngày Hồ ra lệnh cho dân chúng treo cờ mừng sinh nhật của Hồ để luôn thể đón quân Pháp đổ bộ lên Hải Phòng Bắc Việt. Ðáng lẽ CSVN bị tiêu diệt nhưng không ngờ Trung Cộng thắng chiếm lục địa năm 1949 và cứu CSVN, nhưng tội cõng rắn cắn gà nhà, phản quốc ủa Hồ đã tỏ rõ.
CSVN và Hồ khoe thắng Pháp và dứt điểm với trận Ðiện Biên 1954. Khi Trung Cộng chiếm lục địa 1949 và khi Anh Hoa Kỳ từ chối hỗ trợ cho nỗ lực chiến tranh của Pháp tại Việt Nam sau chiến tranh Triều Tiên 1952 thì Pháp đương nhiên phải thua. Không có trận Ðiện Biên Phủ Pháp cũng thua và trận Ðiện Biên Phủ chỉ là một trận thí quân không cần thiết. Pháo binh quyết định trận Ðiện Biên Phủ (trừ khi phi cơ Hoa Kỳ chịu lâm trận). Ðại tá Piroth chỉ huy pháo binh Pháp tự vận ngay đợt pháo đầu tiên khai hỏa, pháo binh Trung Cộng cho CSVN phần lớn chở đến tận chỗ do quân xa Trung Cộng chuyên chở và do Trung Cộng bắn hộ khi cần; Ðiều thấy rõ là tương quan tớ chủ giữa phái đoàn CSVN và phái đoàn Trung Cộng tại Hội Nghị Genève. Võ Nguyên Giáp được đề cao là người chiến thắng, nhưng Trung Cộng dần dần tiết lộ vai trò then chốt của các tướng Tàu và vai trò của Võ chỉ là trình diễn, nhất là trong lúc lâm trận Võ mổi đêm đều phá trinh một cô thiểu số (Ls Lê Sĩ Giai).
Kết quả trận Ðiện Biên Phủ cho đảng CSVN quyền cai trị miền Bắc Việt Nam (miền Nam Việt Nam đã được Pháp trả độc lập cho vua Bảo Ðại từ 1948). Nhưng dân Bắc chịu đựng ách cộng sản hà khắc và bắt đầu với cải cách ruộng đất ăn cướp tàn ác mà trong lúc chiến tranh Hồ chưa dám thi hành.
Nhiều tác giả ngoại quốc ngờ nghệch cho rằng Tổng Thống Ngô Ðình Diệm không chấp nhận tuyển cử sau hiệp định Genève đã làm chiến tranh Việt Nam lần 2 xẩy ra. Họ không biết điều mà người dân Việt ai cũng biết: Khi bộ đội cán chính cộng sản họ đã nhất loạt dụng tâm để lại toàn bộ vợ con và điều nhắn nhủ sẽ trở lại, đường mòn Hồ Chí Minh để xâm lăng miền Nam 1956, nhưng được chuẩn bị dự trù cả năm trước. Dù sớm hay muộn con đường chiến tranh đánh thuê của Hồ, giống như của Fidel Castro và ngày nay do Kim Chính Nhật Hàn Quốc làm, chỉ vì họ không có tài năng kinh bang tế và "tầm văn hoá thấp" (Hà Sĩ Phu) của trào lưu cộng sản đánh thuê là con đường tất nhiên của Hồ và được Hồ gọi mỹ miều "Nghĩa Vụ Quốc Tế".
Chiến tranh Việt Nam có vẻ như một cuộc nội chiến Nam Bắc, nhưng bản chất không phải vậy vì ngay từ 1925, Hồ đã bán Phan Bội Châu, năm 1930 CSVN tung truyền đơn tố cáo với Pháp việc Việt Nam Quốc Dân Ðảng nổi dậy (Hoàng Văn Ðào) và trong lúc chưa chống xong Pháp CSVN đã thủ tiêu các lảnh tụ các tôn giáo, cuộc chiến mang mầu sắc ý thức hệ rỏ rệt và rỏ hơn hết do quyền lợi của riêng phe đảng cộng sản Việt.
Mặc dầu chiến tranh với Pháp đã xẩy ra, CSVN tiếp tục giết các cán bộ đảng viên quốc gia, Trương Tử Anh, Lê Khang bị giết đầu năm 1947. Riêng họ Nguyễn Tường bị triệt hạ kể từ ngày Nhất Linh Nguyễn Tường Tam không chịu ký Hiệp Ðịnh Sơ Bộ 6-3-1946 cho đến năm 1954 thì họ Nguyễn Tường tại đất Bắc không còn một ai, nội cũng như ngoại.
Ác là bản chất CSVN (Thích Quảng Ðộ), quy mô và không ngại bất cứ điều gì, nhưng mang bộ áo đạo đức nhân từ của Hồ Chí Minh. Người Á Ðông tin nhiều vào một con người cụ thể khác với người Tây Phương tin nhiều vào định chế trừu tượng. Hồ Chí Minh dù chết đã nửa thế kỷ nhưng vẫn là thần tượng quan trọng của chế độ.
Mặc dầu người dân không tin tưởng Hồ như trước đây nhưng đảng cộng sản Việt Nam, toàn bộ các cán bộ cao cấp và đa số cán bộ trung cấp vẫn tuyệt đối thần kính Hồ, có thể có người giả vờ nhưng bề ngoài vẫn phải suy tôn. Với sự sụp đổ lý thuyệt Mác Lê và các chế độ cộng sản, huyền thoại Hồ Chí Minh là sức mạnh tinh thần duy nhất của CSVN. Nói chạm nhẹ đến Hồ Chí Minh dù nhẹ như chuyện Hồ có vợ cũng là điều cấm và bị trừng trị. Các nhà phản kháng dù trong hay ngoài đảng, các nhà trí thức đều không dám động đến Hồ, ngược lại họ còn dùng các lời nói của Hồ làm bung xung để thêm sức thuyết phục.
Huyền thoại Hồ Chí Minh còn, đảng cộng sản Việt Nam còn sức mạnh tinh thần và như vậy chế độ còn vững chắc mặc dầu vô số khuyết điểm đầy rẫy bất mãn.
Bóng ma Hồ Chí Minh tan, sự kềm toả cuả chế độ Mác Lê sẽ không còn chống nổi sự bất mãn chống đối của dân chúng, của các tôn giáo và các lực lượng quần chúng chính trị. Ánh sáng trí tuệ, đạo đức ngay thẳng sẽ trở lại trên quê hương để Việt Nam tái sinh; trong nước và hải ngoại cùng nhau, trong dân chủ tự do, phấn chấn xây dựng đất nước.
Nguyễn Tường Bá
(San Jose tháng 7/2003)
(Nguồn: http://vietland.net)
Nguyễn Tường Bá
(Tác giả không giử bản quyền. Yêu cầu phổ biến rộng rãi)
Ngoại trừ có công với đảng CSVN, tự đề cao và được đề cao, Hồ Chí Minh không có công mà nặng tội với nước, với tất cả các đảng khác, với tất cả tôn giáo, làm thụt lùi nhiều thế kỷ, về mặt nhân quyền văn hóa xã hội, vĩnh viễn lỡ nhiều dịp phát triển Việt Nam thế kỷ vừa qua và hậu quả vẫn đè nặng ngày nay.
Ðể đừng hiểu sai viết lầm về Hồ Chí Minh, trước tiên người ta cần biết 3 điều căn bản tổng quát: Thế Chiến Hai Và Chiến Tranh Lạnh, Lực Lượng Khởi Ðầu Của Việt Minh Cộng Sản và Huyền Thoại Hồ Chí Minh.
Thế Chiến Hai Và Chiến Tranh Lạnh
Tại Âu Châu, Quân Quốc Xã Ðức xâm chiếm các nước có thuộc địa: Pháp, Hòa Lan, Bỉ và tàn phá Anh Quốc. Tại Á Châụ Quân phiệt Nhật đánh tan các thế lực thuộc địa tại Hồng Kông, Ðông Dương, Phi Luật Tân, Miến Diện, Mã Lai, Singapore, v.v...trước khi thua trận, Nhật đã trả độc lập cho các nước Ðông Nam Á.
Hai thế lực mạnh: Mỹ và Nga đối nghịch trong chiến tranh lạnh cổ võ và chủ trương trao độc lập trên thế giới. Nhờ vậy, phong trào độc lập thành tất nhiên. Nhiều nước độc lập dễ dàng như Ấn Ðộ (1946) Phi Luật Tân (1946) Nam Dương (1949) Mã Lai, Miến Ðiện (1947) Nam Bắc Hàn (1945). Có nước còn không muốn độc lập như Djibouti, Trung Hoa dưới Tưởng cũng như Mao đều không thấy ích lợi đòi Hồng Kông Ma Cao trước thời hạn.
Riêng tại Việt Nam, một ngày sau khi diệt quân đội Pháp (6-3-45) quân Nhật đã trả (nói cho đúng là "cưỡng bách") Việt Nam độc lập và chính phủ Trần Trọng Kim cũng là chính phủ Việt Nam độc lập đầu tiên kể từ khi bị Pháp xâm chiếm và các con tem bưu điện hồi đó là chứng minh cụ thể theo thế giới sử.
Lực Lượng Khởi Ðầu Của Việt Minh Cộng Sản
Sở Công Tác Chiến Lược Hoa Kỳ (O.S.S) nay là C.I.A, đã giúp Việt Minh Cộng Sản năm 1944-1945: 5000(năm ngàn) vũ khí với đạn dược cho số vũ khí đó, huấn luyện tại chiến khu cho bộ đội Việt Minh và danh nghĩa quân đội đồng minh (Sedgwick Tourison, Archimedes L.A. Patti).
Ðó là lực lượng tuyệt đối thời điểm 1945 vì chính phủ Trần Trọng Kim cầm quyền chỉ chú trọng về giáo dục, cứu đói, không chú trọng về quân sự, chỉ có lính khố đỏ mỗi nơi vài chục người võ trang súng bắn viên một của Pháp đã cổ, không có súng lục (chỉ Hoa Kỳ, Pháp mới có) mà súng nầy lại cần trong chiến tranh khủng bố. Khi quân Việt Minh cướp được chính quyền xong họ mới đi tìm Hồ Chí Minh đang lang thang trong rừng vài ngày sau mới gặp (Nguyễn Hưũ Ðang, Nhân Văn Giai Phẩm).
Sau vài ngày Việt Minh đảo chính tại Hà Nội, Lê Khang Ðổ Ðình Ðạo và mươi đảng viên Việt Nam Quốc Dân Ðảng (VNQÐ) với vài khẩu súng săn của đồn điền Ðỗ Ðình Ðạo cũng đã cướp được chính quyền ở Vĩnh Yên. Hoàng Văn Ðào cũng vì sợ lực lượng mạnh tuyệt đối của Việt Minh mà vua Bảo Ðại thoái vị và chính phủ Trần Trọng Kim không dám chống cự mặc dầu quân Nhật đề nghị sẵn sàng dẹp loạn (Trần Trọng Kim, Nguyễn Xuân Chữ).
Huyền Thoại Hồ Chí Minh
Ở trong nước, Huyền Thoại Hồ Chí Minh được dàn dựng theo kiểu mẫu lãnh tụ Nga Tàu, quy mô và độc đoán, coi Hồ Chí Minh như thánh, đạo đức anh minh. Tuy nhiên huyền thọai ở Việt Nam được đẩy xa hơn, thêm nhiều gian dối trắng trợn và rẻ tiền.
Thí dụ: Hồ Chí Minh không vợ, sống độc thân. Mặc dầu không hoang dâm như Mao Trạch Ðông, nhưng Hồ Chí Minh rõ rệt nhiều vợ hơn Mao. Ðủ mọi giống: Trung Hoa, Việt, dân tộc thiểu số, da trắng (Nga, Pháp). Ðặc biệt có sự biến đổi tâm tính từ một thiếu niên ngây thơ ngờ nghệch tán tỉnh cô đầm Bourdon không thành công (Nguyễn Thế Anh); Thân nhân tiệm hình Khánh Ký Paris còn cho biết các sinh viên du học tại Pháp khi về nước đã bàn giao các cô đầm để lại cho Hồ Chí Minh nhưng Hồ Chí Minh đã lúng túng thất bại. Giai đoạn ở bên Trung Hoa hoàn toàn khác, sau khi huấn luyện tại Nga làm việc Hoa Kỳ trong phái đòan Nga Borodin và cùng với Lâm Ðức Thụ bán nhà cách mạng Phan Bội Châu lấy 10 vạn đồng Ðông Dương. (Richard Nixon, No More Việt Nams) Hồ Chí Minh đã lão luyện mua chuộc bà mẹ cô Tàu Tăng Tuyết Minh, ngọai giao anh cô nầy và cưới Tăng Tuyết Minh vào tháng 10 năm 1926 trong một hôn lễ rất linh đình có cả vợ chồng Chu Ân Lai tham dự (Huang Zhen); Nhưng năm 1934, Hồ Chí Minh và Nguyễn Thị Minh Khai cùng tham dự Hội Nghị Quốc Tế Cộng Sản tại Moscow với danh nghĩa vợ chồng chánh thức (Sophie Quinn Judge), đây là một hôn phối chính trị vừa có lợi cho Nguyễn Thi Minh Khai lấy được cán bộ Moscow, có lợi cho Hồ Chí Minh có người vợ là đại biểu phụ nữ Ðông Dương duy nhất. Hồ Chí Minh lúc nầy đang bị xuống cấp và có nguy cơ bị thanh trừng. Sau năm 1937 Minh Khai về nước mới lấy Lê Hồng Phong. Ghi nhận năm 1930, Minh Khai đến làm việc với Hồ Chí Minh thì quan hệ với Tăng Tuyết Minh chấm dứt (William J.Duiker), Hồ Chí Minh ra tòa án Hồng Kông, Tuyết Minh có đến xem nhưng không nói chuyện và cũng không để cho Hồ Chí Minh nhìn thấy (Huang Zhen); lúc bị bắt tại Hồng Kông Hồ Chí Minh lại ở cùng với một phụ nữ Tàu khác. Ðây là giai đọan Hồ Chí Minh bắt đầu già dặn, tôi luyện trong tình trường và lão luyện trong việc xử dụng quản trị phụ nữ trong đời tư và nhất là trong mưu tính chính trị. Ðiều nầy do kết quả chủ nghĩa cộng sản học tập ở Moscow, hay do sự ăn chơi cùng Lâm Ðức Thụ nhờ dư tiền bán Phan Bội Châu hay do bản tính xấu của chính mình, hay do cả 3 yếu tố ? Có ảnh chụp một phụ nữ đẹp ngồi chung với các sĩ quan O.S.S đặc biệt là vị trưởng toán Archimedes L.A. Patti và Hồ Chí Minh trong chiến khu Việt Bắc 1944-1945. Archimedes L. A. Patti chối là không bị mỹ nhân kế nhưng không hiểu phụ nữ nầy có mặt trong chiến khu làm gì ? Phái đoàn O.S.S nầy lại thiên vị cho Việt Minh rất quá đáng, kỳ thị không những kháng chiến Pháp mà còn kỳ thị mọi phe quốc gia. Khi về Hà Nội cầm quyền 1945-1946, Pháp có đưa một số cô đầm từ Pháp sang gặp Hồ Chí Minh, trong đó có cô Brière chụp ảnh chung với Hồ Chí Minh. Nhưng Hồ Chí Minh không mắc mỹ nhân kế.
Trong trận điện biên phủ, nhiều đêm Võ Nguyên Giáp hủ hóa HCM không thể không biết vì ở chung môt chỗ. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ khi ra bưng cũng được thỏa mãn tình dục đầy đủ vì điều nầy giới luật gia tại Miền Nam thập niên 1950 đều biết bệnh đa dâm này của Thọ và chính Thọ cũng đang bị dính líu trong một vụ hiếp dâm tại Nha Trang trước khi đi bưng. Ðể tái kết thân với Chu Ân Lai vì lỗi HCM đã né trốn không tham gia Vạn Lý Trường Chinh, Hồ Chí Minh thân thiết tán tỉnh vợ Chu Ân Lai, một phụ nữ xấu xí và kết quả là được Chu Ân Lai nâng đỡ, lúc chụp hình với Mao luôn luôn được Chu Ân Lai cho đứng cạnh.
Cao điểm Hồ Chí Minh với phụ nữ là thủ tiêu Nông Thị Xuân năm 1957 (Hồ Chí Minh lúc nầy 65 tuổi và cô Xuân chỉ 20) sau khi ăn nằm và có con với cô Xuân từ ít nhất 1952. (Vũ Thư Hiên) và cô Xuân ngờ nghệch xin Hồ Chí Minh cho công khai tương quan.
Tính toán sai lạc của Hồ Chí Minh trong việc dùng phụ nữ là ôm hôn bà Sokarno tại hội nghị Bandung, Nam Dương, xứ hồi giáo, việc ôm hôn nầy gây căm phẫn bất lợi ngoại giao.
Thí dụ: Hồ Chí Minh ở nhà sàn.
Ký giả Oliver Todd gọi nhà sàn nầy là của người gác vườn (vì xây dựng lên trong khuôn viên dinh thự thực dân Pháp xưa), nhưng dân Hà Nội oái ăm gọi là nhà sống không ở được. Không làm việc và chỉ chết mới đem xác về vì nhà sàn thiếu chỗ đi vệ sinh, cộng sản cũng nghĩ đến điều đơn giản này nhưng thực hiện lại khó vì dùng cầu giật thì quá văn minh (thời gian 1969 tại Bắc Việt) và dùng cầu đổ thùng thì quá buồn cười với khách ngoại quốc, dù sao "nhà sàn" nầy thiếu tiện nghi truyền thông cho một nguyên thủ bề bộn trong thời chiến.
Ðiều quan trọng không phải Hồ Chí Minh được ở dinh thự hay ở nhà sàn. Bác sĩ Lý, bác sĩ riêng của Mao Trạch Ðông đã tả rõ rệt cảnh Hồ Chí Minh thèm thuồng (khiến ông Lý nầy phải thương hại) trước những tiện nghi mỹ lệ của các dinh thự tại Bắc Kinh.
Thí dụ: Hồ Chí Minh ăn hút.
Các ký giả ngoại quốc nhận xét Hồ Chí Minh hút thuốc thơm ngoại quốc chứ không phải thứ nội hóa nhãn Ðiện Biên Phủ xanh đỏ. Nhưng thời gian trước 1945 Hồ Chí Minh vẫn hút thuốc thơm (Philips Moris) nhưng để trong bao Melia vàng nội hóa. Giáo sư khả kính Vũ Khắc Khoan kể lại đã được Hồ Chí Minh khoái chí cười cho một điếu thuốc Philis Moris lại để trong bao Melia nội hóa, trong một chuyến du hành rõ ràng láu cá ranh vặt. Các cán bộ Quốc Dân Ðảng ngay từ năm 1945 đã báo cáo Bắc Bộ Phủ Việt Minh hằng ngày lấy thức ăn từ khách sạn Métropole ở bên kia đường, thức ăn Pháp "cao cấp" nhất Ðông Dương. Suốt thời gian 1954-1975 phần hàng ăn của Métropole vẫn sống mạnh trong khi phần khách sạn bỏ hoang phế, Hồ chí Minh và các thân cận nghiền cơm Pháp.
Vua chúa hưởng lạc vốn thông thường, họ có phải dấu diếm cũng vì chính trị, nhưng gian dối lường gạt là điều hiếm có và đi cả đến chỗ sát nhân là điều hi hữu. Sau khi Hồ Chí Minh chết huyền thọai trên không giảm mà lại tăng thêm:
Thí dụ 1. Ngày chết của Hồ Chí Minh đúng vào ngày 2 tháng 9, ngày "Quốc Khánh" liền được sửa lại là ngày 3 tháng 9. Nhưng sau đó sự thật lộ ra nên các tài liệu sau nầy tránh nhắc đến ngày chết của Hồ Chí Minh, chỉ để năm thôi. Hậu quả là Hồ Chí Minh không có ngày giổ.
Thí dụ 2. "Xây Lăng" và ướp xác. Xây mộ rất nguy nga và ngay trong thời chiến và các xác được ướp theo mẫu Nga Xô. Nhiều quân nhân bị bom chết trong lúc lấy gỗ trong rừng.
Thí dụ 3. "Cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh" Hồ Chí Minh ít khi nói thật, nhưng khi nói thật: "Tôi không có tư tưởng gì, tất cả những gì đã do Stalin, Mao Trạch Ðông nghĩ ra" thì các hậu duệ Hồ Chí Minh không tin. (!)
Giáo sư Sophie Judge nhận xét: Cho đến hết sự nghiệp của ông, Hồ chỉ là một người thực hành thỏa hiệp về chính trị, tạo thế liên hiệp hơn là một người chuyên về lý thuyết và ý thức hệ (Ðại học Yale, Connecticutt).
Nếu đem so sánh với các lãnh tụ cộng sản thế giới thì Hồ Chí Minh thua kém Mao Trạch Ðông và Kim Nhật Thành (Bắc Hàn) về mặt tư tưởng; Mao có tư tưởng "cách mạng văn hóa" và Kim có "tự cường" (Juche), một thứ tổng hợp Mác xít và quân chủ Á Ðông. Hồ cũng không làm được như Ti Tô, người trung lập đứng ngoài tranh chấp Nga Mỹ. Hồ cũng đã dự hội nghị trung lập Bandung 1955 có lẽ thử trung lập nhưng không làm nổi vì không khả năng ăn nói như Nehru và các lãnh tụ khác. Hồ giống Fidel Castro ở điểm nô lệ Mác Xít, thiếu khả năng kinh bang tế thế nên lấy chiến tranh đánh thuê làm lẽ sống. Chỉ CSVN mới có cả một binh chủng đặc công, kỷ lục thế giới về chiến tranh khủng bố.
Hàng ngàn trang Hồ Chí Minh Toàn Tập đọc rất chán với người có trình độ văn hóa vì lập luận một chiều: cộng sản luôn luôn tốt, tư bản luôn luôn xấu. Ca tụng Mác Xít như Sách Ước muốn gì cũng được. CSVN khoe Hồ Chí Minh có công phổ biến chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam. Sai; công nầy do Trương Tửu, Ðặng Thế Mai, Tạ Thu Thâu. Hồ không bao giờ phê bình hoặc giải thích chủ nghĩa cộng sản. Hồ chỉ là người bắt chước các chế độ Nga Tàu cộng đã làm. Ðem áp dụng một cách máy móc tựa như Monkey sees Monkey do. Hồ chẳng bao giờ quan tâm, thắc mắc, suy nghĩ về các vấn đề tư tưởng. "Cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh" chỉ là bóp méo ngôn ngữ, bịp bợm của đám hậu bối.
Không có "Cái Gọi Là Tư Tưởng Hồ Chí Minh", điều người ta phải bàn là đầu óc Hồ Chí Minh.
J.H.Roy, cộng sản Ấn, đồng môn với Hồ Chí Minh từ 1924 ở Moscow đã cho biết ngay từ thập niên 1950 về cái đầu óc của Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh học hành không xuất sắc, kém cỏi trong các đề tài thảo luận, thậm chí đến nỗi không biết lập luận. J.H. Roy ngạc nhiên tại sao Hồ lại thành công tại Việt Nam. Câu trả lời cho J.H. Roy là Hồ Chí Minh không thông minh, Hồ chỉ khôn vặt. Ðể đo thông minh ngày nay ta có chỉ số thông minh (IQ), tuy nay không thể áp dụng với Hồ, nhưng ta có thể đoán chắc là nếu đo IQ (tỷ số thông minh) vì Hồ không biết lập luận, không biết toán và khoa học nên số tỷ lệ thông minh của Hồ khó mà bằng mức trung bình. Nhưng Hồ có thể thành công vì các điều sau:
- Hồ có khiếu ngoại ngữ, biếtt nói nhiều thứ tiếng Pháp, Anh, Nga, Quảng Ðông; tuy nhiên Hồ không viết Pháp văn, Nga văn khá, chữ Hán thì chỉ viết được thư từ thông thường. Biết nói Anh ngữ là một lợi khí hiếm có vào thời đó và chính nhờ Anh ngữ mà Hồ chinh phục được người anh cô Tăng Tuyết Minh vốn là sinh viên du học Hoa Kỳ, đặc biệt là mua chuộc và lèo lái các nhân viên tình báo Hoa Kỳ O.S.S.
Hồ có óc thực tế và điều nầy được C.S.V.N đề cao. Ðừng tưởng lầm lẫn với tinh thần thực tế phóng khoáng vượt thóat giáo điều Mác xít, kiểu như "Mèo trắng, mèo đen đều bắt chuột" của Ðặng Tiểu Bình. Óc thực tế kiểu Hồ Chí Minh vị kỷ duy vật Mác xít cứng nhắc và chỉ ranh vặt.
Khi còn hàn vi Hồ đã từng vì tình gia đình viết thư xin quan thuộc địa cho cha phục chức và nhờ gởi tiền cho cha; nhưng khi lên ngôi cao Hồ chỉ tiếp người chị ruột một lần và nói những gì khiến cho người nầy khóc bỏ ra về và từ đó không ai trong gia đình Hồ còn đến quấy nhiểu Hồ nữa và Hồ cũng không hỏi thăm giúp đở gì gia đình nghèo nầy. Nói cho đúng Hồ có môt lần viết thư chia buồn nhân đám tang mà dụng tâm chỉ để quảng cáo cho tiếng tăm cá nhân. Với người vợ cả chính thức Hồ thủ tiêu Lâm Ðức Thụ người bạn chơi bời và mối lái xưa, cắt đứt mọi liên lạc tai tiếng có vợ và vợ người Tàu. Thủ tiêu Nông thị Xuân người đã có con với Hồ nhưng khờ khạo muốn công khai hóa tương quan nầy, các thân nhân của cô Xuân biết chuyện đều cũng bị thủ tiêu.
Hồ không yêu nước theo nghĩa truyền thống hàng nghìn năm Việt: yêu nước là yêu dân. Trong tim Hồ chỉ có cá nhân Hồ và Ðảng cộng sản; không có chỗ cho người dân. Suốt cuộc đời của Hồ, việc thiện duy nhất là ngỏ ý sẽ miễn thuế cho dân nếu hết chiến tranh. Thích Quảng Ðộ than rằng CSVN quá ác và ngay các trẻ thơ Việt thường rù rì lén chỉ cho nhau râu Hồ Chí Minh hiện hình ra "cái đầu lâu".
Hồ không có tinh thần tự cường độc lập. Hồ là người Việt duy nhất từng muốn và đã làm tay sai cho hầu hết các thế lực ngoại quốc tại Việt Nam, Pháp (Xin học trường thuộc địa) Nga Sô (Làm cán bộ có lương nhiều chục năm) Trung Cộng (thân tín của Beria Trung Cộng Khang Sanh) Trung Hoa Quốc Gia (Phục vụ cho 2 tướng Trương Phát Khuê và Tiêu Văn) Hoa Kỳ (Phục vụ cho O.S.S với bí danh Lucius). Tay sai đắc lực tận tụy mà các quan thầy đều hài lòng và đặc biệt tiếc rẻ nếu đã không còn dùng Hồ nữa (Archimedes L.A. Patti, Jean Sainteny).
Hồ có tài gây cảm tình cá nhân, tạo ấn tượng tốt trong đám đông, nhưng cũng là người rất vong ân bội nghĩa như đối với gia đình và các ân nhân: Chủ nhân tiệm hình Khánh Ký Paris (Ls Trần Tấn Việt), Lâm đức Thụ v.v...
Hồ đa nghi và rất ghen ngay lúc tuổi đã gìa, chính "Beria" Trần Quốc Hoàn biết rỏ điều nầy và lợi dụng để thuyết phục Hồ cho phép thủ tiêu cô Nông Thị Xuân (Vũ Thư Hiên).
Thân Thế:
Hồ là nhân vật mà thân thế đã bị sửa chữa bịa đặt quá nhiều do chính Hồ và cả các than cận hậu huệ nên rất mù mờ khó mà tìm ra sự thật và có thể coi là không có thân thế.
Hồ có cả thảy 145 bí danh và tên, theo Antatoli Sokolov và theo Trần Anh Tuấn là 150 trong đó có đến 62 bí danh dùng để viết sách báo ca tụng chính mình như Trần Dân Tiên, T. Lan v.v... lúc thì lấy tên đàn ông, lúc tên đàn bà, lúc thì họ Hồ, họ Lê, họ Nguyễn và Trần, lúc thân cận như Bác, lúc bí hiểm như X.Y.Z. (Thế kỷ, May 1999). Ðặc biệt Hồ có bí danh dùng riêng với tình báo Nga Xô là "Lin" và tình báo Hoa Kỳ O.S.S là "Lucius, nhân viên số 19" (Back Fire, Loren Baritz trang 46).
Tất cả các tên và bí danh của Hồ đều không nổi tiếng và không đáng chú ý trừ 2 tên: Nguyễn Aí Quốc và Hồ Chí Minh. Tên Nguyễn Ái Quốc (hay Quấc) là bí danh chung của 5 người chống Pháp: Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Phan Chu Trinh, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh) mà giới Việt Kiều Paris gọi là Ngũ Long. Tên Nguyễn Ái Quốc không do Hồ nghĩ ra vì lẽ đơn giản là Hồ Chí Minh là kẻ đến sau gia nhập nhóm này và cũng là người trẻ nhất. Các bài viết của nhóm cũng không do Hồ viết vì trình độ Pháp ngữ của Hồ kém, tuy chỉ một mình Hồ ngang nhiên lấy xử dụng tên này để khoe khoang cho đến khi Hồ bán Phan Bội Châu cho Pháp, tên nầy trở thành mang tiếng xấu thì Hồ mới chấm dứt đội tên Nguyễn Ái Quốc.
Tên Hồ Chí Minh vốn là một bí danh cũ của Hồ Học Lãm, một người Việt lưu vong ở Trung Quốc chết năm 1942 (Chánh Ðạo, Niên Biểu Nhân Vật Chí Việt Nam). Chí Minh là một tên rất phổ thông ở bên Tàu và họ Hồ cũng thế, cho nên rất nhiều người Trung Hoa có cái tên Hồ Chí Minh. Theo Vũ Hồng Khanh người đã đem Hồ Chí Minh ra khỏi tù thì là Nguyễn Tất Thành đã mua một căn cước của một hành khất vô thừa nhận mang tên Hồ chí Minh và xử dụng giấy này khi bị bắt, đến khi thả ra phải mang tiếp căn cước này. Ðiều khôi hài là nhiều tác giả, có cả tự điển đã diễn nghĩa ca tụng "Hồ Chí Minh" có nghĩa là người sáng suốt, thức tỉnh khi mọi người còn ngủ.
Chính họ Hồ tự khai ít nhất 5 năm sinh khác gồm 1890 (Trần Dân Tiên) 1891 (Yên Sơn, bí danh khác của Hồ) 1892 (Trong đơn xin học trường thuộc địa Marseille Pháp) 1894 (Khai với sở cảnh sát Paris) 1895 (Khai với sứ quán Nga Xô Berlin để đi học). Tìm hiểu năm nào đúng là việc vô bổ và chúng ta chỉ cần ghi nhận rằng khi còn trẻ đi du học thì khai trẻ hơn và khi về nước lại khai già hơn, tất cả là do nhu cầu thực tế và sự khôn vặt của Hồ; chẳng lẽ năm 1945 xưng là cha già dân tộc, là cụ là bác mà lại sanh 1895 mới chưa đầy 50 tuổi thì coi cũng kỳ và khi du học phải khai trẻ để tỏ ra mình xuất sắc.
Trước ngày quân đội Pháp đổ bộ lên cảng Hải Phòng CSVN sợ phản ứng của dân chúng nên đã bịa đặt ngày 19 tháng 5 là ngày sinh nhật Hồ Chí Minh kêu gọi dân Hải Phòng treo cờ mừng ngày "sinh nhật"; trong khi chúng giải thích với thực dân Pháp là dân treo cờ thỏa thận cho quân Pháp trở lại miền Bắc Việt Nam. Ngày sinh nhật 19-5 là một ngày "chính trị" chẳng phải là ngày thật và mục đích là đón cao uỷ Pháp D'Argenlieu cùng quân đội Pháp đổ bộ lên Bắc Việt (Hoàng Văn Chí, Từ Thực Dân đến Cộng Sản).
Ngày chết của Hồ trùng với ngày Quốc Khánh nên bị sửa thành ngày 3 tháng 9. Sau ít lâu bị lộ nên sửa lại cho đúng nhưng trong các tài liệu sau đó CSVN tránh ghi ngày chết mà chỉ ghi năm chết của Hồ, như ngụ ý sợ dân chúng ăn mừng nhân dịp Hồ chết.
Hồ có thân thể mặt mũi xấu mà còn có thể gọi là cổ quái gian ác nếu là hình chụp trung thực và nếu là hình sửa thì thành tốt tướng hiền lành, nhưng nhìn kỹ bộ râu dê thấy có hình đầu lâu. Tất cã các hình do CSVN phổ biến đều là hình sửa chữa, hình giả.
Sự Nghiệp:
Hồ là con một tri huyện Nam Triều bị cách chức, vị này có quen biết nhà cách mạng Phan Châu Trinh. Toàn gia đình chống Pháp và không xa lạ gì với phong trào Ðông Du Phan Bội Châu. Tuy nhiên Hồ năm 1911 đã chọn con đường tiến thân khác, bằng cách xin làm quan với thực dân Pháp ngay khi xuất ngọai đến bến Marseille, Pháp (Richard Nixon, No More Việt Nams). Ðừng lầm lẫn với con đường Tây Du, xuất ngoại mưu cầu mở mang dân trí của Phan Chu Trinh. Hồ xin làm việc cho Nga Xô; rõ ràng Hồ có căn cơ làm tay sai vì sau đó Hồ theo Khang Sinh "Beria Trung Cộng"; tướng Trương Phát Khuê khen Hồ là biết phục vụ tốt, tướng Tiêu Văn khen là Hồ đã tỏ ra hối lỗi vì theo Cộng Sản, theo tình báo Hoa Kỳ O.S.S.
- Năm 1925, Hồ đã bán Phan Bội CChâu, một nhà cách mạng chống Pháp hàng đầu lấy 10 vạn đồng (Richard Nixon, No More Vietnams).
- Năm Ất Dậu, 1954 tại Bắc Viỻ?t đã xẩy ra nạn đói đã do nhiều nguyên nhân: Mất mùa, do thực dân Pháp thu thuế cao, quân Nhật bắt trồng đay và bom đạn của phi cơ Hoa Kỳ. Tuy nhiên bom đạn Hoa Kỳ là nguyên nhân thiết yếu vì đường tiếp tế gạo ở trong Nam không chở gạo ra Bắc, gạo trong Nam thừa và rẻ đến nỗi đốt máy xe lửa và gạo ngoài Bắc đắt đến mức gấp 40 lần gạo trong Nam, hậu quả là dân quê nghèo chết đói khoảng 2 triệu người. Nạn đói chấm dứt khi Hoa Kỳ ngưng ném bom vào thời điểm Nhật đầu hàng. Sở dĩ bom đạn Hoa Kỳ năm 1945 hữu hiệu là nhờ tin tình báo và sự chỉ điểm của CSVN do Hồ lãnh đạo; Cơ quan O.S.S có thể quên không quan tâm đến tình trạng dân quê miền Bắc sẽ đói. Nhưng Hồ chắc chắn sẽ biết hậu quả việc cắt đường tiếp tế gạo Nam Bắc nhất là khi báo chí lúc đó loan tin bác sĩ Vũ Ngọc Anh bộ tưởng y tế xã hội và đoàn cứu tế mang gạo đã bị chết vì bom đạn phi cơ Hoa Kỳ trên đường công tác. Ngược lại Hồ còn lợi dụng nạn đói trong mục tiêu sách động quần chúng nổi dậy và ngay cả khi đã cướp được chính quyền Hồ còn lấy tiền trong quỹ cứu đói lạc quyên do chính phủ Trần Trọng Kim gom chung với Quỹ Tuần Lễ Vàng lạc quyên do chính phủ Hồ Chí Minh lạc quyên để hối lộ các tướng Tàu sang giải giới quân Nhật. Hồ tay đã nhúng chàm nên Cộng Sản Việt Nam không dám mở miệng đòi bồi thường về nạn đói đối với Nhật và Hoa Kỳ vốn là 2 nước giàu có và trọng trách nhiệm.
Ngày 9/3/1945 Nhật đảo chính Pháp và trả độc lập cho Việt Nam, ngày 11/3/1945 vua Bảo Ðại tuyên ngôn độc lập và thành lập chính phủ Trần Trọng Kim. Chính phủ đoản mệnh cầm quyền 5 tháng nhưng đã làm các bước căn bản đáng kể cho nền giáo dục. Hồ đảo chính chính phủ Trần Trọng Kim và ngày 2/9/1945 lại ra tuyên ngôn độc lập lần thứ hai. Thực dân Pháp hay Tàu khi cai trị đã đem lại văn minh của họ, nhưng CSVN vì tầm văn hóa thấp (Hà Sĩ Phu) CSVN đã làm ngưng bước tiến văn minh của Việt Nam từ ngày 2/9/1945. Boris Yelsin coi nước Nga "tái sinh" và Nhất Linh Nguyễn Tường Tam coi nước Việt "mất nước" (di chúc 7/7/1963 Nhất Linh Nguyễn Tường Tam), dân Việt thành nô lệ thấp kém cho chính người nước mình, một chế độ bóc lột hơn thực dân Pháp, mức chênh lệch giữa thống trị và bị trị lớn hơn, nhân quyền bị vi phạm nhiều hơn và ngay cả tự do tôn giáo như thời Pháp thuộc cũng không còn.
Chiến tranh Việt Pháp chỉ xảy ra khi quân Pháp trở lại Việt Nam sau thế chiến 2, ở miền Nam nhờ quân Anh ngầm giúp cho đổ bộ, nhưng tại miền Bắc do Hồ chính thức mời bằng Hiệp Ðịnh 6-3-1946. Hồ giãi thích gian dối là chịu đựng Pháp còn hơn là phải chịu đưng Tàu, mặc dầu Hồ biết rõ Tưởng Giới Thạch tại hội nghị Yalta đã từ chối gợi ý của F. Roosevelt về việc để Tàu chiếm đóng Việt Nam và trên thực tế quân đội của Tưởng còn bận chống quân Trung Cộng tại Mãn Châu. Nguyễn Tường Tam, bộ trưởng ngoại giao, phản đối và từ chức ngày 6-3-1946. Lý do Hồ đón quân Pháp là để đánh dẹp các chiến khu của quân quốc gia với sự hỗ trợ pháo binh và chiến xa của Pháp (Richard Nixon, No More VietNams). Ngày 6-3-1946 có thể coi là ngày bắt đầu cuộc chiến Việt Nam lần I, hoặc cụ thể hơn là ngày 19 tháng 5 năm 1946 ngày Hồ ra lệnh cho dân chúng treo cờ mừng sinh nhật của Hồ để luôn thể đón quân Pháp đổ bộ lên Hải Phòng Bắc Việt. Ðáng lẽ CSVN bị tiêu diệt nhưng không ngờ Trung Cộng thắng chiếm lục địa năm 1949 và cứu CSVN, nhưng tội cõng rắn cắn gà nhà, phản quốc ủa Hồ đã tỏ rõ.
CSVN và Hồ khoe thắng Pháp và dứt điểm với trận Ðiện Biên 1954. Khi Trung Cộng chiếm lục địa 1949 và khi Anh Hoa Kỳ từ chối hỗ trợ cho nỗ lực chiến tranh của Pháp tại Việt Nam sau chiến tranh Triều Tiên 1952 thì Pháp đương nhiên phải thua. Không có trận Ðiện Biên Phủ Pháp cũng thua và trận Ðiện Biên Phủ chỉ là một trận thí quân không cần thiết. Pháo binh quyết định trận Ðiện Biên Phủ (trừ khi phi cơ Hoa Kỳ chịu lâm trận). Ðại tá Piroth chỉ huy pháo binh Pháp tự vận ngay đợt pháo đầu tiên khai hỏa, pháo binh Trung Cộng cho CSVN phần lớn chở đến tận chỗ do quân xa Trung Cộng chuyên chở và do Trung Cộng bắn hộ khi cần; Ðiều thấy rõ là tương quan tớ chủ giữa phái đoàn CSVN và phái đoàn Trung Cộng tại Hội Nghị Genève. Võ Nguyên Giáp được đề cao là người chiến thắng, nhưng Trung Cộng dần dần tiết lộ vai trò then chốt của các tướng Tàu và vai trò của Võ chỉ là trình diễn, nhất là trong lúc lâm trận Võ mổi đêm đều phá trinh một cô thiểu số (Ls Lê Sĩ Giai).
Kết quả trận Ðiện Biên Phủ cho đảng CSVN quyền cai trị miền Bắc Việt Nam (miền Nam Việt Nam đã được Pháp trả độc lập cho vua Bảo Ðại từ 1948). Nhưng dân Bắc chịu đựng ách cộng sản hà khắc và bắt đầu với cải cách ruộng đất ăn cướp tàn ác mà trong lúc chiến tranh Hồ chưa dám thi hành.
Nhiều tác giả ngoại quốc ngờ nghệch cho rằng Tổng Thống Ngô Ðình Diệm không chấp nhận tuyển cử sau hiệp định Genève đã làm chiến tranh Việt Nam lần 2 xẩy ra. Họ không biết điều mà người dân Việt ai cũng biết: Khi bộ đội cán chính cộng sản họ đã nhất loạt dụng tâm để lại toàn bộ vợ con và điều nhắn nhủ sẽ trở lại, đường mòn Hồ Chí Minh để xâm lăng miền Nam 1956, nhưng được chuẩn bị dự trù cả năm trước. Dù sớm hay muộn con đường chiến tranh đánh thuê của Hồ, giống như của Fidel Castro và ngày nay do Kim Chính Nhật Hàn Quốc làm, chỉ vì họ không có tài năng kinh bang tế và "tầm văn hoá thấp" (Hà Sĩ Phu) của trào lưu cộng sản đánh thuê là con đường tất nhiên của Hồ và được Hồ gọi mỹ miều "Nghĩa Vụ Quốc Tế".
Chiến tranh Việt Nam có vẻ như một cuộc nội chiến Nam Bắc, nhưng bản chất không phải vậy vì ngay từ 1925, Hồ đã bán Phan Bội Châu, năm 1930 CSVN tung truyền đơn tố cáo với Pháp việc Việt Nam Quốc Dân Ðảng nổi dậy (Hoàng Văn Ðào) và trong lúc chưa chống xong Pháp CSVN đã thủ tiêu các lảnh tụ các tôn giáo, cuộc chiến mang mầu sắc ý thức hệ rỏ rệt và rỏ hơn hết do quyền lợi của riêng phe đảng cộng sản Việt.
Mặc dầu chiến tranh với Pháp đã xẩy ra, CSVN tiếp tục giết các cán bộ đảng viên quốc gia, Trương Tử Anh, Lê Khang bị giết đầu năm 1947. Riêng họ Nguyễn Tường bị triệt hạ kể từ ngày Nhất Linh Nguyễn Tường Tam không chịu ký Hiệp Ðịnh Sơ Bộ 6-3-1946 cho đến năm 1954 thì họ Nguyễn Tường tại đất Bắc không còn một ai, nội cũng như ngoại.
Ác là bản chất CSVN (Thích Quảng Ðộ), quy mô và không ngại bất cứ điều gì, nhưng mang bộ áo đạo đức nhân từ của Hồ Chí Minh. Người Á Ðông tin nhiều vào một con người cụ thể khác với người Tây Phương tin nhiều vào định chế trừu tượng. Hồ Chí Minh dù chết đã nửa thế kỷ nhưng vẫn là thần tượng quan trọng của chế độ.
Mặc dầu người dân không tin tưởng Hồ như trước đây nhưng đảng cộng sản Việt Nam, toàn bộ các cán bộ cao cấp và đa số cán bộ trung cấp vẫn tuyệt đối thần kính Hồ, có thể có người giả vờ nhưng bề ngoài vẫn phải suy tôn. Với sự sụp đổ lý thuyệt Mác Lê và các chế độ cộng sản, huyền thoại Hồ Chí Minh là sức mạnh tinh thần duy nhất của CSVN. Nói chạm nhẹ đến Hồ Chí Minh dù nhẹ như chuyện Hồ có vợ cũng là điều cấm và bị trừng trị. Các nhà phản kháng dù trong hay ngoài đảng, các nhà trí thức đều không dám động đến Hồ, ngược lại họ còn dùng các lời nói của Hồ làm bung xung để thêm sức thuyết phục.
Huyền thoại Hồ Chí Minh còn, đảng cộng sản Việt Nam còn sức mạnh tinh thần và như vậy chế độ còn vững chắc mặc dầu vô số khuyết điểm đầy rẫy bất mãn.
Bóng ma Hồ Chí Minh tan, sự kềm toả cuả chế độ Mác Lê sẽ không còn chống nổi sự bất mãn chống đối của dân chúng, của các tôn giáo và các lực lượng quần chúng chính trị. Ánh sáng trí tuệ, đạo đức ngay thẳng sẽ trở lại trên quê hương để Việt Nam tái sinh; trong nước và hải ngoại cùng nhau, trong dân chủ tự do, phấn chấn xây dựng đất nước.
Nguyễn Tường Bá
(San Jose tháng 7/2003)
(Nguồn: http://vietland.net)
Inscription à :
Articles (Atom)