Mặt trái thần tượng Hồ Chí Minh
Nguyễn Tường Bá
Nếu trước đây Mặt Thật Hồ Chí Minh cũng như Mặt Thật Stalin chỉ được phơi bầy khi chế độ toàn trị sụp đổ; nhưng ngày nay với sự tiến bộ truyền thông và tự do, người Việt Hải Ngoại có thể lật Mặt Trái Thần Tượng Hồ Chí Minh góp phần hữu hiệu cần thiết khai tử chế độ Cộng Sản Việt. (1)
Hồ Chí Minh không thông minh mà chỉ ranh vặt
Hồ Chí Minh lanh trí như gập vũng nước thì không đi lên lề mà bước ngay vũng nước để được quay phim tuyên truyền;dùng bao thuốc nội hóa bình dân nhưng trong đựng thuốc ngoại quốc sang như hồi năm 1945-1946 (2). Nhưng lanh trí mà không phải là thông minh vì:
Hồ mù quáng theo chủ nghiã Mác trong khi hầu hết các nhà cách mạng khác né tránh như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học v. v... đến Tự Lực Văn Đoàn;ngày nay bậc thức giả thế giới, ít nhất từ thập niên 1960-1970, đều rõ chủ nghiã Mác sai lầm từ bản chất (3) ;ngay tại Việt Nam bây giờ tất cả các tư tưởng gia như Hà Sĩ Phu, Nguyễn Thanh Giang, Trần Khuê, Hoàng Minh Chính v. v... đều lên tiếng như vậy.
Điều đáng trách là Hồ đã tin chủ nghiã Mác một cách không suy xét đến mức coi chủ nghiã này như " quyển sách ước muốn gì được nấy" làm học giả Hoàng Văn Chí phải ngạc nhiên về sự phi lý trí, phản khoa học của Hồ. (4) ;Hồ u mê coi Stalin Mao Trạch Đông như hai người "không bao giờ có thể sai lầm được" trong khi hai lãnh tụ này đã có nhiều sai lầm khủng khiếp. Trớ trêu vì Stalin lại nghi ngờ Hồ đến mức cho người trộm lại ký tặng của Stalin cho Hồ (5), ngược lại Stalin kính phục Tito mặc dầu Tito chủ trương trung lập chống Stalin. Khrushchev, cựu tổng bí thư Nga Xô từ 1953 đã tả Hồ như một thuộc cấp và tín đồ trung thành mù quáng với Stalin (5)
Dương Thu Hương coi "chiến tranh chống Mỹ cứu nước" là chiến tranh ngu xuẩn nhất lịch sử dân tộc. Hồ, người chủ xướng và cổ võ chiến tranh đó dĩ nhiên cũng ngu xuẩn. Trong ba nước chia đôi Đức Hàn Việt chỉ có Việt chịu nhiều thập niên chiến tranh và hy sinh ít nhất ba thế hệ. Tưởng nên ghi rằng Hồ đã được Thủ Tướng Nehru chỉ dẫn khuyên bảo tại Hôi Nghị Trung Lập Banduung 1956 rằng đừng dại dính vào cuộc chiến giữa hai khối cường quốc đều có bom nguyên tử nên họ không trực tiếp đánh nhau mà để cho các đàn em đánh nhau. Thật ra chỉ có dân Việt thiệt hại còn Hồ và CSVN đã nhờ chiến tranh củng cố quyền lực và hưởng danh lợi:Hồ ngu nhưng không dại, đăc tính của kẻ khôn vặt.
Thông minh được đo bằng hệ số IQ mà ở Hoa Kỳ ngày nay đã đo được IQ của tất cả các tổng thống dù đã chết. Một ngày gần, người Việt Hải Ngoại cũng sẽ đo được IQ của Hồ (6), IQ của Hồ sẽ không hơn trung bình vì:
J. H. Roy, nhà cộng sản Ấn, đồng môn xuất sắc của Hồ từ 1924 tại Moscou tiết lộ rằng Hồ học không xuất sắc, yếu kém mọi môn thậm chí đến nỗi không biết cả lập luận. Đó là các khuyết điểm của người không trông xa nhìn rộng, ranh vặt chứ không sáng suốt thông minh.
Tại Banduung 1956, Hồ đã láu táu ôm hôn vợ Tổng Thống Nam Dương Shukarno, xứ Hồi Giáo, khiến cho cả nước phẫn nộ và Hồ chỉ được lòng một người tài xế lái xe thế mà CSVN vẫn ca tụng thành tích Nam Dương của Hồ.
Hồ không biết Toán Trung Học và rất lơ mơ các vấn đề khoa học. Hồ có tiểu sảo lấy lòng giới bình dân như tài xế ở Nam Dương, các quân nhân Hoa Kỳ O. S. S. năm 1944-1945 ở Việt Nam;nhưng các trí thức như Nehru, Chu Ân Lai, JH Roy, Hoàng văn Chí, Bác sĩ Lý (BS riêng của Mao Trạch Đông), Khrushchev, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường v. v... thì không ai phục trí tuệ của Hồ, một người có trình độ trí tuệ coi Stalin Mao Trạch Đông là kim chỉ nam.
" Ông thầy vĩ đại" thực chất chỉ là một người ranh vặt, láu cá, thuộc và sao chép các câu nói của các vĩ nhân thế giới nhưng được các người trong nước coi như là của Hồ để dùng làm lá chắn, bùa hộ mệnh hay chân lý cho các ý kiến, lập luận có thể trái ý hay phật lòng giới quyền uy sinh sát. Điều này làm thôi chột mọi tư tưởng và môi trường cho gian dối bành trướng.
Hồ là tấm gương cho sự gian dối, Hồ gian dối suốt đời và gian dối với chính mình: Hồ tự cho hay tưởng là mình hơn cả Hưng Đạo Vương, người chiến thắng quân Mông Cổ mà Hồ quên rằng Hồ chỉ là con cờ cái đuôi của Nga Tàu trong chiến tranh chống Mỹ. Noi gương Hồ, đảng CSVN đã sửa ngày chết, sửa chúc thư của Hồ và tột đỉnh của sự gian dối là đã bịa đặt ra cái " Tư tưởng Hồ Chí Minh "sau 22 năm khi Hồ đã chết (7) nó mung lung, muốn hiểu sao cũng được và có cũng như không mà chính Hồ đã phủ nhận rằng:" Tôi không có tư tưởng gì, mọi thứ do Ông Stalin Ông Mao Trạch Đông đã nghĩ ra". Khổ cho học sinh và đảng viên cả nước mất nhiều thời giờ công sức phải học một thứ vô ích như "tư tưởng Hồ Chí Minh" mà bên Nga bên Tàu đều vứt bỏ vài chục năm nay.
Hồ Chí Minh không yêu nước
Yêu nước không thể theo định nghiã ngu dân của CSVN:" Yêu Đảng là yêu nước" hay "Yêu nước là yêu Đảng". Theo văn hóa Việt, yêu nước không thể tách rời với ý niệm thương dân như dân ta thường nói:" Yêu nước thương dân".
Hồ không thương dân mà ngược lại còn ác với dân: Hồ đã giúp Không Quân Hoa Kỳ cắt đường tiếp tế Nam Bắc 1944-1945 khiến khoảng 2 triệu dân Bắc chết đói. Hồ đã chủ trương và cổ vũ chiến tranh để ủng hộ Nga Tàu và củng cố quyền lực gây tang thương nhất lich sử dân tộc, Hồ chỉ động lòng trắc ẩn khi già sắp chết và đã mất hết quyền muốn ngưng chiến nhưng thiếu can trường nên thành bù nhìn cho các đàn em chủ chiến. Ý muốn miễn thuế một lần cho dân mà suốt đời Hồ cũng không thực hiện được.
Yêu nước phải đặt dân nước lên trên hết; ưu tiên của Hồ luôn luôn là đảng cộng Việt, cộng sản Nga Tàu hay chính bản thân mình. Người dân Việt với kinh nghiệm nửa thế kỷ dối trá của Hồ và CSVN phân biệt rõ "Hồ nói " khác với " Hồ nghĩ và làm". Chỉ có người ngoại quốc (kể cả vài chính khách) mới lầm Hồ là người yêu nước. Bởi vậy:
Hồ lúc trẻ xuất ngoại sang Pháp nạp đơn xin học trường thuộc điạ (nhưng không được nhận) ( thì Hồ viết sách là xuất ngoại cứu nước. Bán nhà ái quốc Phan Bội Châu cho mật thám Pháp lấy 10 vạn đồng (9) thì nói là vì cách mạng. Dựa vào quân Hoa Kỳ để cướp chính quyền thì nói là chống Nhật, măc dầu lúc đó Nhật đã đầu hàng và chính phủ Trần Trọng Kim đã dành được độc lập;Hồ vẫn trơ trẽn tuyên ngôn độc lập lần nữa để sau đó nghênh đón quân đội viễn chinh Pháp đổ bộ Bắc Việt. Hồ hô hào đại đoàn kết nhưng cùng quân Pháp đánh tiêu diệt các chiến khu quốc gia (9). Hồ nói là chỉ theo một đảng là đảng Việt Nam nhưng lại chỉ phục vụ đảng CSVN và tiêu diệt tất cả các đảng khác. Nếu Hồ thương dân thì không đánh Trận Điện Biên thí quân không cần thiết vì không có nó quân Pháp cũng phải rút khi chiến tranh Cao Ly ngưng, Hoa Kỳ không tiếp tế cho Pháp nữa.
Không có Hồ thì không có " chiến tranh chống Mỹ cứu nước" ngu xuẩn và tai hại nhất lịch sử dân tộc.
Hồ Chí Minh nhờ Mỹ cướp được chính quyền
Đoạt chính quyền là điều quan trọng hàng đầu trong sinh hoạt chính trị và tối quan trọng đối với các nước Á Châu chậm tiến. Hồ đã cướp được chính quyền năm 1945 là nhờ quân đội Hoa Kỳ như sau:
Hồ Chí Minh là nhân viên số 19 của Sở Tình Báo Chiến Lược Quân Đội Hoa Kỳ Thế Chiến 2, O. S. S. (Tiền thân của CIA) vùng Nam Trung Hoa. Cơ quan O. S. S. ca ngợi sự đóng góp của Hồ về hai việc:cứu một viên phi công và cung cấp tin tức tình báo về quân đội Nhật. Thực ra viên phi công đã được dân thiểu số cưú và nuôi nhiều ngày, Hồ chỉ giúp đưa viên phi công về hậu cứ ở bên Trung Hoa. Ngược lại, quân Hoa Kỳ đã cung cấp cho Việt Minh 5 ngàn vũ khí, cho các quân nhân đến chiến khu huấn luyện cách xử dụng vũ khí, cố vấn và tháp tùng hành quân (về cả đến tận Hà nội). và quan trọng nhất là công khai xác nhận Hồ và bộ đội Việt Minh là người của quân đội Hoa Kỳ, Đồng Minh thắng trận. Trong khi Jean Sainteny, đại diện của Pháp De Gaulle chỉ xin mượn quân phục lính Mỹ để mặc thì bị từ chối, cấm đóan; các đảng quốc gia lưu vong bị O. S. S. kỳ thị vô căn cứ dữ dội (10) (11).
Ở thời điểm tháng tám 1945; lực lượng Việt Minh được Hoa Kỳ xây dựng như trên là một lực lượng mạnh tuyệt đối về vật chất và nhất là về uy thế chính trị vì quân đội Pháp tại Đông Dương đã bị quân Nhật đảo chính bắt cầm tù, quân Nhật lại đã đầu hàng buộc phải nằm im chờ hồi hương; chính phủ Trần Trọng Kim chỉ có vài trăm lính khố xanh khố đỏ ở mỗi tỉnh, võ trang súng Mousqueton cổ hay súng hỏa mai. Bởi vậy, Nguyễn Xuân Chữ đại diện chính phủ đã từ chối đề nghị của quân Nhật dẹp loạn Việt Minh (12). Lực lượng Việt Minh cướp chính quyền ngày 19 tháng 8 năm 1945 rồi mới tìm Hồ Chí Minh đang lang thang ngơ ngác trong rừng nhiều ngày sau mới gập.
Tưởng nên ghi: Việt Nam Quốc Dân Đảng do Lê Khang chỉ huy chỉ với vài khẩu súng săn mượn của Đồn Điền Đỗ Đình Đạo cũng cướp được chính quyền tỉnh Vĩnh Yên sau khi không thuyết phục được Trương Tử Anh, lãnh tụ chung của các đảng quốc gia, đã dè dặt không muốn cướp chính quyền Hà nội nhân ngày công chức biểu tình 19/8/1945 ngày mà Việt Minh ra tay. (13) (14)
Nạn đói Ất Dậu (1944-1945)
Nạn đói Ất Dậu đánh dấu sự can dự đầu tiên của Hồ Chí Minh vào chính trường Việt Nam
Nạn đói xẩy ra vì nhiều nguyên do:thực dân Pháp cùng quân Nhật tích trữ thóc gạo phòng chiến tranh;thực dân Pháp tăng thuế nông dân và bắt dân trồng đay cho nhu cầu bao cát quân Nhật. Thượng Thư Pham Quỳnh đã phản đối nhiều lần nhưng không kết quả. Bắc Kỳ, vùng Thái Bình Nam Định hạn hán. Các đường thủy bộ Nam Bắc bị phi cơ Hoa Kỳ oanh tạc dữ dội mà tướng Pháp Mordant điện tín xin Hoa Kỳ ngưng oanh tạc nhưng không kết quả. Chính phủ Trần Trọng Kim lên thay, lập quỹ cưú đói, lạc quyên tiềnvà nhất là tìm cách chở gạo từ trong Nam ra vì gạo chỉ bằng giá 1/ 60 gạo ngoài Bắc, gạo Nam rẻ đến mức xe lửa dùng thóc đốt thay than đá. Tuy nhiên nỗ lực của chính phủ không thành công vì Hoa Kỳ oanh tạc quá mạnh, đường Nam Bắc bị cắt hoàn toàn, phái đoàn cứu đói do Bác Sĩ Bộ Trưởng Y Tế và Cứu Đói Vũ Ngọc Anh vào ngày 23 tháng 7 năm 1945 bị oanh tạc, trong số nạn nhân chết có Bác Sĩ Vũ Ngọc Anh (15). Có thể nói nếu chở được gạo ra Bắc thì dân nghèo ngoài Bắc không chết vì tính chung cả nước thì Việt Nam năm Ất Dậu không thiếu gạo.
Tưởng nên ghi rằng tờ truyền đơn, bằng Việt và Pháp, do không quân Hoa Kỳ giải xuống do đóng góp của Hồ Chí Minh. Khi Hồ lên nắm quyền thì Hồ tịch thu quỹ này (15) và dùng tiền đó hối lộ các tướng Tàu sang giải giới quân Nhật.
Nước Nhật bị hai quả bom nguyên tử chết khoảng 200. 000 người, nhưng năm nào Nhật cũng tưởng niệm long trọng. Ở Hà nội năm 1945 cũng có một đài tưởng niệm nạn nhân Ất Dậu (16), nhưng Hồ lên thì không còn nữa.
Chiến Tranh Việt Nam (1954-1975)
Nhìn từ khía cạnh Quốc Tế Công Pháp, như Richard Nixon trong cuốn " Không Còn Những Vụ Việt Nam Nữa" (No More Vietnams), đó là chiến tranh xâm lăng do CSVN tấn công Việt Nam Cộng Hòa với đầy chứng cớ do các biến cố tháng tư 1975 và sau đó như: xe tăng Nga Xô đâm xập cổng Dinh Độc Lập, quân cán chính Niềm Nam đi tù cải tạo tập trung, hàng triệu người vượt biển với khoảng 600, 000 người chết v. v... (9)
Nhưng chúng ta không thể đồng ý với Nixon rằng Hoa Kỳ không thua về quân sự tại Việt Nam. Đành rằng sức mạnh quân sự Hoa Kỳ vô địch, nhưng tại chiến trường Việt Nam, quân đó đã phải rút khỏi Nam Việt Nam trong khi quân Cộng Việt không phải rút và các đường tiếp tế không bị không kích để đổi lại Hoa Kỳ mang về khoảng 200 tù binh, theo Hiệp Định Paris 1973 mà chính Hoa Kỳ ký kết xác nhận. Bỏ lại bạn đồng minh Cộng Hòa Việt Nam chịu trận không làm cho Hoa Kỳ không thua trận.
Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến sự thất trận của Hoa Kỳ như:Phong trào phản chiến, giới truyền thông, quốc hội Hoa Kỳ giảm viện trợ trong khi Nga Xô tăng gia viện trợ, tham nhũng của lãnh đạo Nam Việt Nam, sai lầm của Nguyễn văn Thiệu ra lệnh rút khỏi Vùng 1 và 2 v. v.. Nhưng hai nguyên nhân chính, cốt lõi và sâu xa là:
Thứ nhất, Hoa Kỳ tệ hơn là không biết địch mà đã hiểu sai bản chất Hồ Chí Minh (và đàn em) từ đó đánh giá sai sức chiến đấu của địch
Thứ hai, lỗi lầm cơ bản của toàn bộ chính sách Việt Nam của Hoa Kỳ, lỗi lầm ấy là chưa bao giờ Hoa Kỳ là người bạn thật sự cuả quảng đại nhân dân Việt Nam yêu chuộng tự do. Hoa Kỳ đến Việt Nam vì những quyền lợi chiến lược nhất thời, rồi bỏ Việt Nam khi bài toán chiến lược đã đổi thay (với thế liên minh khách quan với Bắc Kinh, với tiến bộ kỹ thuật võ khí...) (Vương văn Bắc, " Diễn Đàn Người Việt"Paris 6, 1985. "Suy Tư" trang 16 Paris 2003). Nói cách khác, khát vọng Dân Chủ Tự Do mà Phan Bội Châu ao ước trong cuốn Cao Đẳng Quốc Dân, 1927 (17) cho người Việt được hưởng quyền lợi và trách nhiệm một công dân khiến cho Việt Nam có thể hưng thịnh, khát vọng này cho đến nay vẫn chưa đạt.
Bởi thế, người ta thấy:
Thoạt đầu Hoa Kỳ giúp Hồ nắm quyền năm 1945, một lợi thế lớn khởi đầu và lợi thế này tiếp tục duy trì vì nhận định sai lầm của Hoa Kỳ về Hồ, tưởng Hồ như "Cha Già Dân Tộc" tựa George Washington. (After the Japanese surrendered, the Viet Minh began to take control of local offices, largely as the result of Ho Chi Minh growing reputation as the American-baked liberator of his country. This reputation was to endure as David Ross, a medic in the First Infantry, learned in Viet Nam he said:" We were told not to bad-mouth Ho Chi Minh, since the Vietnamese mistakenly thought he was the George Washington of their country because he had thrown out the French") (11 trang 47) (ghi chú: Việt Nam cũng như các nước Đông Nam Á Châu thoát ách thực dân nhờ quân Nhật dẹp thế lực quân sự thuộc điạ của các nước tây phương)
Nhật Hoàng đã đầu hàng khi 800 phi cơ Hoa Kỳ dội bom mà không còn phi cơ Nhật nghênh chiến (chứ không phải vì 2 quả bom nguyên tử) vì nếu tiếp tục nữa thì dân Nhật chỉ chết uổng. Nhưng Hồ và các đàn em không đầu hàng khi bị dội bom dữ dội không phải vì Hồ anh hùng hơn Nhật Hoàng nhưng vì Hồ không thương dân, không yêu nước (coi Việt Nam chỉ là một phần Nga Tàu có tan nát cũng không thua), vả lại khi bom dữ dội thì Hồ ở Bắc Kinh, tránh bom dễ dàng.
Chính sách " cái roi và củ cà rốt " của Lyndon Johnson và Richard Nixon không thành công với Hồ và đàn em (Oanh tạc Miền Bắc và 100 triệu xây dựng thunh lũng Mekong). Khác với lần oanh tạc quân Nhật, quân CSVN có các hỏa tiễn Nga nghênh chiến hữu máy bay B52. CSVN trả đuã bằng chiến tranh khủng bố:pháo kích vào thành phố, giết cả giáo viên... CSVN là nước duy nhất có binh chủng Đặc Công (nghiã là khủng bố) do một viên tướng chỉ huy. Không thương dân, đói, chết cũng đánh, đánh như điên đến mức Lê Đức Thọ bỏ luôn giải Hoà Bình Nobel.
Nixon bắt đầu Việt Nam Hóa chiến tranh bằng hành quân Lam Sơn 719, (tháng 1/1971) làm thiệt hại quân ưu tú khi tiến sang Hạ Lào mà thiếu yểm trợ không lực điều mà quân Hoa Kỳ cũng không làm nổi. Điều tai hại nữa là Nixon hỗ trợ tham nhũng và tham quyền của Nguyễn văn Thiệu (khiến dân nản chí và Quốc Hội Hoa Kỳ ghét chê) :" Tôi biết Thiệu ti tiện và tham nhũng nhưng xử dụng Thiệu vì nhu cầu thực tế " (1
Từ 1965 đến 1973 có 10, 270, 000 dân tị nạn tại Nam Việt Nam, con số do toà Đại Sứ Hoa Kỳ cung cấp (19), đây mới là cuộc tị nạn lớn nhất lịch sử Việt và nó cũng chứng tỏ dân Việt ghét sợ cộng sản, chọn Tự Do. Nhưng họ không được võ trang không được tổ chức như dân Do Thái dân Palestine để sống còn, nhóm Hai Tập Hoà Hảo tự động võ trang đã bị Nguyễn văn Thiệu buộc phải giải giới ít tháng trước 30 /4/1975.
Gia Tài Hồ Chí Minh
Thực trạng Việt Nam đã thành các tin giật gân kỳ dị trên truyền thông thế giới (nhưng đau thương căm phẫn cho người Việt) như:mức sống người dân thành hạng thấp nhất thế giới nhưng các lãnh tụ giầu sụ bạc tỷ. Tham nhũng cửa quyền khắp nơi, từ trên xuống nhưng trừng trị chỉ trình diễn với vài cắc ké ngớ ngẩn, tham nhũng là máu nuôi toàn đảng cho nên đòi dẹp tham nhũng bị trừng trị, đi tù. Thân xác phụ nữ trong nước bán cho đa số là cán bộ đảng viên, bên ngoài cho khắp Á Châu và Đông Âu, bất hợp pháp bằng cưới xin giả, công nhân giả, lừa gạt, cả trẻ vị thành niên 6 tuổi, 8 tuổi (Cao Miên), đấu giá trên màng lưới (Đài Loan, Nam Hàn). Không xây dựng mà còn ngăn cản tiến tới dân chủ tự do đến nỗi thua kém cả Cao Miên (Cao Miên có đa đảng và tự do báo chí). Đảng CSVN sợ mất điạ vị sợ tập hợp đến mức ngăn cấm các công tác cứu lụt của Hòa Thượng Quảng Độ trong nhiều vụ lụt. Bán ruộng nông dân nghèo làm sân golf cung phụng tư bản ngoại quốc. Nhượng biên giới lui lãnh hải cho Trung Cộng.
Văn sĩ Dương Thu Hương nhận xét: ".. Tóm lại, những người do đảng cử ra đại đa số là họ tự bầu cho nhau, nhân dân không bầu họ, cho nên cái mặt họ trông tăm tối lắm, ăn nói thì nham nhở ngu độn, nói chung là câu nọ chửi bố câu kia, chẳng ra cái thể thống gì. Nó ngớ ngẩn đến mức độ tất cả những người dân Việt Nam, dù rằng người mù chữ đi nữa cũng xấu hổ vì vua chúa sao mà tối tăm ngu dốt đến thế (20).
Thật sự đảng CSVN chỉ tăm tối ngu dốt khi tính việc nước việc dân, nhưng họ rất tinh khôn tàn ác khi tranh khi bảo vệ quyền lợi. Muốn hiểu họ, ta nên xem bản chất quyền lực CSVN, một thứ quyền lực không có sự kiểm soát kìm hãm và tham dự của người dân nên đã có hình dáng con hải quái " Léviathan " trong tư tưởng Hobbes. (3, Suy Tư Paris 2003, Bài " Luận Về Quyền Lực ") (21, Léviathan, Thomas Hobbes, 1651). Nhưng con hải quái CSVN có 2 đầu: Đầu Cộng Sản Hạ Cấp và Đầu Tư Bản Bệnh Hoạn.
Đầu Cộng Sản Hạ Cấp. Đầu này do Hồ Chí Minh đem lại từ hơn 60 năm, "Hạ Cấp" vì là thứ Cộng Sản sao chép tồi tệ của Cộng Sản Nga, Công Sản Tàu, gượng ép trái với văn hóa Việt. Nó đã phát triển tràn lan đến mức thốt ra " Yêu nước là yêu đảng", câu nói phi lý nói lên một sự thật:tất cả quyền lực đều trong tay đảng CSVN
Đầu Tư Bản Bệnh Hoạn. Mới mọc ra lúc CSVN đổi mới (nhưng đã chậm nhiều chục năm). "Bệnh Hoạn " là vì chỉ thiểu số chức quyền cùng các thân nhân và tay em cấu kết bóc lột đè đầu toàn dân với các tệ nạn cửa quyền, tham nhũng, lừa bịp, sống xa hoa một cách vô ý thức trong khi quần chúng lao động tiếp tục ngụp lặn trong cảnh bùn lầy nước đọng của sự nghèo đói triền miên. Không có dân chủ, chỉ có vỏ dân chủ và cũng không tiến tới dân chủ, tự do, công lý và đạo lý. (22)
Tiêu diệt Hải Quái CSVN khó vì nó có hai đầu, đầu cộng sản giữ vững quyền lực và đầu tư bản tham nhũng nuôi đầu cộng sản. Với sự suy tàn của Chủ Nghĩa Mác, tinh thần hay hay hệ thần kinh của Hải Quái CSVN là Thần Tượng Hồ Chí Minh.
Mặc dầu, đúng như Dương Thu Hương nhận định:"Thần tượng chỉ là món ăn cho tuổi niên thiếu hoặc cho nhân loại thời ấu trĩ. Nước Đức đã từng có thần tượng là Hitler và thần tượng này đã dẫn nước Đức xuống vực thẳm của Đại Chiến 2. Một nửa nhân loại đã từng có thần tượng là Karl Marx và một nửa đó đã trả giá cho vị thần râu xồm. Sau những kinh nghiệm như vậy người ta hiểu rằng con người trưởng thành là con người không cần thần tượng. Thần tượng là món cháo thịt của thời niên thiếu " (Dương Thu Hương, 2005). Nhưng các đảng viên cộng sản, nhất là các cấp lãnh đạo, họ không phải là những người trưởng thành, họ là những " Đỗ Mười" tối tăm ấu trĩ suy tôn Hồ là thần tượng, thần linh giữ tinh thần mọi cấp trên dưới, theo hay chống đảng, cũ hay mới, ra khỏi đảng vẫn viện dẫn lời "Bác" làm căn cứ cho lập luận cho lý tưởng mặc dầu sự thực Hồ không như vậy. Bởi vậy CSVN bằng mọi gía bênh "Bác" còn hơn là thần hoàng.
Võ khí hưũ hiệu đánh đổ thần tượng "Bác Hồ" là sự thật về Hồ Chí Minh
Đến nay CSVN vẫn tuyên truyền Hồ độc thân; mặc dầu có 2 người vợ chính thức: Tăng Tuyết Minh, người Trung Hoa cưới vào tháng 10 năm 1929. Hôn Lễ linh đình, có cả vợ chồng Chu Ân Lai tham dự (Huang Zheng, Phó Viện Khoa Học Xã Hội, Quảng Tây, Trung Quốc) và Nguyễn Thị Minh Khai (Chị ruột vợ Võ Nguyên Giáp), cưới theo nghi thức Nga Xô vài năm sau đó tại Moscou (Sử gia William Duiker) và nhiều vợ không chính thức như Đỗ thị Lạc (Sử gia Trần Trọng Kim) Nông thị Xuân (Nhà văn Vũ Thư Hiên), các vợ hờ và nhân tình khác lên đến trên 10 người (theo ký giả Du Miên, nhà văn Vũ Trọng Khanh con của nhà văn Vũ Trọng Phụng). Có thể nói tổng quát là nơi nào cũng có vợ và tuổi nào cũng có gái (lúc ở với Nông thị Xuân, 25 tuổi thì Hồ 65). Hồ cũng có cả con nữa, không kể con gái, Hồ có ít nhất 2 con trai: Nguyễn Tất Trung (theo Vũ Thư Hiên) và Nông Đức Mạnh (theo Vũ Quốc Thúc). Tuy nhiên việc Hồ có nhiều vợ cũng không quan trọng lắm vì vua chúa hay Mao Trạch Đông chẳng nhiều thê thiếp là gì; cách đối xử với vợ, với phụ nữ nói chung mới thực sự quan trọng, mới biểu lộ bản chất người ta. Muốn rõ chúng ta hãy lấy các mẫu nhân vật trong Truyện Kiều của Thi Hào Nguyễn Du, những mẫu người xử tệ với phụ nữ để so cách xử sự của Hồ để hiểu bản chất của Hồ một cách chính xác vô tư. Hồ Chí Minh so với:
Sở Khanh. Trong cuộc tình với cô Tàu Tăng Tuyết Minh, Hồ là Sở Khanh. Hồ đã mua chuộc người mẹ và người anh ruột, làm đám cưới linh đình có cả vợ chồng Chu Ân Lai tham dự rồ bỏ cô này sau vài năm và lấy Nguyễn thị Minh Khai ở Moscou. Hồ bạc tình đến mức vào năm 1991, cô Tuyết Minh thành bà lão 86 tuổi từ trần mà vẫn không được gập Hồ Chủ Tịch tuyệt đỉnh danh vọng. Cô này thủ tiết chờ chồng (Huang Zheng, Phó Viện Khoa Học Xã hội, Quảng Tây, Trung Quốc, 2004)
Mã Giám Sinh. Lúc Hồ 65 mà hưởng lạc cô Nông thị Xuân 20 tuổi. Cưới cô Tuyết Minh nhưng khi gập cô Minh Khai trẻ hơn, Hồ bỏ cô Tuyết Minh. (Sử Gia william J. Duiker, Hồ Chí Minh, nxb Hyperion, New York, 2000), rồi ở Hongkong với một cô Tàu khác lúc bị bắt. Rồi cô Briere, cô Vera Vasiliera (Bủi Tin, Mặt Thật, nxb Saigon Press, Cali 1993). Thực ra ở đâu Hồ cũng có gái, nhiều gái kể cả ở chiến khu; có điều tình dục nhiều và bừa bãi như vậy không thể là " nét đẹp " -- như nhận định của Nhà Báo Bùi Tín (một nhà báo Việt tầm mức quốc tế đã đóng góp nhiều cho Tự Do, Dân Chủ và Sự Thật) mà là sự bẩn thỉu của một Mã Giám Sinh.
Tú Bà. Hồ là môn sinh của Trùm Mật Vụ Trung Cộng Khang Sinh, một tay khét tiếng về xử dụng phụ nữ trong mưu toan chính trị và là người đã gài cô Giang Thanh cho Mao Trạch Đông. Các hình chụp trong Chiến Khu Việt Bắc 1944-1945 với các sĩ quan Mỹ có Hồ và cả một phụ nữ trẻ đẹp sáng sủa. Trưởng Toán Mỹ Patti chối là không bị mỹ nhân kế; thế thì cô gái đẹp trẻ đó ở rừng làm gì nhất là thời đại xưa kín cổng cao tường ? Khang Sinh Việt Nam Trần Quốc Hoàn từ một du đãng vô học được Hồ xây dựng đưa lên làm Bộ Trưởng Công An. Hoàn đưa cô Xuân cho Hồ. Tại sao Luật Sư Nguyễn Hưũ Thọ đươc thỏa thích dâm dục khi ra bưng? Hồ hay môn đệ của Hồ đã dàn xếp? Nên nhớ đại gian dâm Trần Quốc Hoàn vẫn được đặt tên cho một phố Hà nội vì y có công với CSVN.
Hoạn Thư. Trần Quốc Hoàn biết tính cả ghen của Hồ nên Hoàn chỉ cần ẩn ý dèm pha rằng cô Xuân gập nhiều đàn ông khiến Hồ đồng ỳ cho thủ tiêu cô Xuân (Đêm Giữa Ban Ngày. Vũ Thư Hiên. nxb Văn Nghệ 1997) Nguyễn thị Minh Khai đã bỏ Hồ theo Lê Hồng Phong, nhưng cặp tình nhân này đều bị Mật Thám Pháp bắt ngay khi về nước vì do Hồ chỉ điểm vì ghen và Hồ có đường dây với mật thám Pháp trong vụ bán Phan Bội Châu (Theo Vũ Hồng Khanh, 1954). Hồ ghen ác hơn Hoạn Thư vì Hoạn Thư chỉ hành hạ tình địch, chưa bỏ tù hay giết.
CSVN thường bênh vực các hành động vô đạo của Hồ (như việc bán Phan Bội Châu, ký cho quân Pháp đổ bộ lên Bắc Việt v. v..) bằng lập luận " đó là đạo đức cách mạng'" Nhưng khi ở tù tại Liễu Châu, Trung Quốc 1943, Hồ đã viết bài "Hối Lỗi" và " thề rời bỏ đảng cộng sản " (23). Chúng ta cũng chưa từng thấy vị nguyên thủ nào trong cả lịch sử thế giới lại nói dối cả với trẻ thơ: " Có hai điều Bác khuyên các cháu đừng bắt chước Bác là hút thuốc lá và không lấy vợ " (24)
Hồ Chí Minh không thể là thần tượng của bất cứ ai mà chỉ là ma quỷ ám dân Việt từ hơn nửa thế kỷ nay;bao giờ bóng ma Hồ tan biến, Gian Dối Vô Luân nhường chỗ cho Sự Thật, Đạo Lý;con đường nước Việt Tái Sinh và Hưng Thịnh sẽ mở rộng. /.
Nguyễn Tường Bá
tháng 4 năm 2006.
--------------------------------------------------------------------------------
Chú Thích:
(1) Ý kiến của Thi Sĩ Nguyễn Chí Thiện trong buổi nói chuyện 2001, 2002... góp ý và khích lệ của Nguyễn Tường Ánh và Nhà Văn Trần Nhật Kim, tháng 10, 2005
(2) Kể lại của Giáo Sư Vũ Khắc Khoan, 1955, 1956 tại Saigon.
(3) Sự Suy Tàn Của Chủ Nghĩa Mác, Vương Văn Bắc, (1985), in lại trong cuốn " Suy Tư " Paris 2003, trang 126 và kế tiếp.
(4) Duy Văn Sử Quan, Hoàng Văn Chí, 1999.
(5) Khrushchev. Remenbers. nxb. Little Brown 1970, trang 480, 481.
(6) Giáo Sư Tâm Lý Chính Trị Nguyễn Hữu Chi, Đai Học Carlton Ottawa Canada.
(7) Đại Dương, Tương Quan Giữa CSTQ và CSVN, Việt Nam Cuối Tuần số 4951 ngày 24/3/2005 trang 58 (Nguyễn Thế Anh, Hồ Chí Minh, nxb Nam Á, Paris 1990.
(9) No More Vietnams, Arbor House, 1985.
(10) Many Reasons Why, Charlton & Moncrieff, 1978
(11) Backfire, Loren Baritz, Ballantine 1986.
(12) Nguyễn Xuân Chữ, Hồi Ký, nxb Văn Hóa, Houston, 1996
(13) Hoàng Văn Đào, VNQĐD, tái bản lần 2, Saigon 1970
(14) Phát Biểu của Hoàng Nhật Tiến, Niên Trưởng (năm 2006 là Chủ Tịch) Đại Việt Quốc Dân Đảng tại Đại Hội Toàn Đảng 1998, San Jose, California, USA
(15) Án Tích cộng Sản Việt Nam (in lần 2) Trần Gia Phụng, nxb Non Nước, Toronto, Canada 2001.
(16) Phạm Ngọc Lũy, Hồi Ký, Tokyo, nxb Tân Văn 1993.
(17) Cao Đẳng Quốc Dân, Phan Bội Châu, 1927. Tổ Chức Hưng Việt in lại 1997 và tôi được tặng 1 bản năm 2000.
(18) The Memoirs Of Richard Nixon. Grosset Dunlap 1978, trang 348.
(19) Winners and Loosers. Gloria Emerson, Norton 1992 trang 357.
(20) Dương Thu Hương, Phỏng Vấn 2001
(21) Léviathan, Thomas Hobbes London 1651
(22) Vũ Quốc Thúc, Paris tháng 1/2003. Đặc San Luật Khoa 2003, Houston, USA, 2003
(23) Tưởng Vĩnh Kính, Hồ Chí Minh Tại Trung Quốc. 1972, nxb Văn Nghệ California USA 1999, trang 370
(24) Góp ý của Triển, VNQDĐ (Chủ Lực) San Jose USA 2004.
(Nguồn: http://www.vnn-news.com/article.php3?id_article=2078)
mercredi 13 juin 2007
Unesco Phủ Nhận Nghị Quyết HCM Là Nhà Văn Hóa
Unesco Phủ Nhận Nghị Quyết HCM Là Nhà Văn Hóa
Nguyễn Đông A
Mười năm sau, báo An ninh thế giới, số 177 xuất bản tại Hà nội cho đăng một bài với tựa "Bảo vệ lễ kỷ niệm 100 ngày sinh của bác Hồ ở trụ sở Unesco (Pháp)".
Tại sao ‘bảo vệ’? Nếu lễ sanh nhựt 100 năm của HCM được Unesco tổ chức thì không cần phải bảo vệ bởi phía Tòa Đại sứ Hà nội, bởi vấn đề an ninh đã thường xuyên được Unesco đãm trách.
Phải bảo vệ như lời tựa của bài báo viết (báo công an) vì buổi lể kỷ niệm ấy thật sự không được Unesco tổ chức mà do hoàn toàn Tòa Đại sứ Hà nội tự lo liệu.
Diễn tiến sự việc:
Năm 1987, Đại hội đồng Unesco đã chấp thuận một quyết nghị tôn vinh Hồ Chí Minh là danh nhơn thế giới (nhà giải phóng dân tộc, nhà văn hóa). Theo quyết nghị này, Unesco sẽ trợ cấp cho Hà nội một ngân khoản để tổ chức lể kỷ niệm 100 năm taị trụ sở Unesco Hà nội, ấn hành tranh ảnh, sách báo nói về sự nghiệp văn hóa và giải phóng của lão. Riêng Unesco tại Paris cũng sẽ tổ chức lể kỷ niệm tại trụ sở với sự tham dự của Ban lãnh đạo Unesco, đại diện chánh phủ Pháp và Thị xã Paris.
Sở dỉ Quyết nghị này được thông qua dễ dàng ở Đại hội đồng vì ông M’Bow, một người phi châu đen, làm Tổng Giám đốc Unesco có xu hướng thân Cộng sản đã tích cực vận động các thành viên trong Unesco.
Ngay khi Quyết nghị vừa được phổ biến, cộng đồng người Việt tại Paris liền lập tức họp nhau lại để tìm phương cách phản đối Unesco.
Một tổ chức thành hình : ỦY BAN TỐ CÁO TÔI ÁC HỒ CHÍ MINH gồm một Tổng Thư Ký và nhiều Ủy Viên. Ông Nguyễn Văn Trần được các thân hữu ủy nhiệm làm Tổng Thư Ký với sự hợp tác trợ lực tích cực của các ông Trần Văn Ngô, Chu Vũ Hoan, Nguyễn Thừa Thính, Nghiêm Văn Thạch, Vũ Hạ .. Ủy Ban Vận đng kiều bào ở khắp nơi: Hoa Kỳ, Úc, Canada và Âu Châu, viết thư cho Unesco phản đối Quyết nghị sai lầm kia và vạch trần tội ác Hồ Chí Minh từ khi nắm chánh quyền ở Hà nội và của chế độ qua các biến cố cụ thể như vụ Nhân văn Giai phẩm, cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp, vụ thảm sát Mậu Thân Huế và ở miền Nam sau 1975, việc tập trung cải tạo, đánh tư sản mại bản, đày dân đi kinh tế mới, tổ chức vượt biển thu vàng, thảm nạn vượt biển ...
Đồng thời Ủy ban cũng kêu gọi báo chí việt ngữ hải ngoại phổ biến tội ác của Hồ Chí Minh và chế độ cộng sản Hà nội, viết lại và phổ biến để ngăn chận ảnh hưởng của Nghị quyết Unesco này.
Ông Nguyễn Văn Trần liên hệ với tướng Simon, chủ tịch Ủy Ban Tương trợ Việt-Miên-Lào và chủ tịch Hội cựu Đông Dương ANAI, để kêu gọi Hội cựu chiến binh Pháp lên tiếng tố cáo tội ác của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản đã vi phạm Nhơn quyền đối với tù binh pháp sau chiến tranh đông dương.
Ông Nguyễn Văn Trần liên hệ với Thị xã Paris và một số dân biểu, nghị sĩ Pháp am hiểu về chế độ cộng sản Hà nội để yêu cầu họ đặt những câu hỏi với chánh phủ Pháp tại Quốc hội Pháp để có thái độ đối với Quyết nghị Unesco, bởi Pháp là quốc gia đón nhận trụ sở Unesco.
Bức tường Bá linh sụp đổ kéo theo khối Cộng sản Đông Âu đã ảnh hưởng sâu đậm đến nếp suy nghĩ về Cộng sản của các nước Âu châu và của thế giới. Ông Frédéric Mayer, người Tây ba nha vừa đắc cử Tổng giám đốc Unesco. Ông nầy am hiểu cộng sản nên không có xu hướng ủng hộ phe khuynh tả trong Unesco như ông M'Bow trước kia. Kiều bào Việt nam ở khắp nơi viết thư gởi về Unesco, có đến hàng hai mươi ngàn thư phản đối, yêu cầu hủy bỏ Quyết nghị. Số thư này được ông Giám đôc trách nhiệm vùng Đông Nam Á ở Unesco cứ tuần tự đến cuối tuần chuyển đến đại diện Hà nội tại Unesco.
Ông Nguyễn Văn Trần sưu tầm tài liệu tại các thư viện và văn khố Pháp chứng minh sự đề cao HCM của Hà nội như là một vĩ nhơn là hoàn toàn dối trá. Thân phụ của Hồ Chí Minh say rượu phạt đòn làm chết oan một tội nhơn nên bị mất chức chứ hoàn toàn không vì chống Pháp mà từ quan. Không còn nguồn lợi tức để sanh sống và học hành , HCM bỏ vào Phan T hiết nhờ Hội Liên Thành nhận cho dạy học sanh sống qua ngày. Nhưng số học sanh của một tỉnh lẽ lúc bấy giờ không đủ bảo đảm cho y một mức sống ổn định nên năm sau đó y rời Phan thiết vào Sài gòn để xuống tàu Pháp xin làm phụ bếp cho có đồng lương đêù đặn và khá giả hơn.
Hồ Chí Minh xuống tàu Pháp tại bến Nhà Rồng ở Sài gòn hoàn toàn chỉ nhằm tìm kế sanh nhai cho bàn thân và gởi tiền về nước giúp phụ thân thôi.
Vì cha y thuộc diện hành chánh của chánh quyền thuộc địa nên Hồ Chí Minh làm đơn xin ban học bổng để mong sau này "giúp ích Nhà nước Pháp". Đơn xin bị từ chối. Qua các văn kiện do HCM viết và khai báo ghi nhận : HCM có nhiều ngày sanh khác nhau. Ngày chết của y cũng bị Đảng Cộng sản thay đổi: ngày 2 tháng 9 năm 1969 biến thành ngày 3 tháng 9.
Những chi tiết hộ tịch này đã phơi bày sự thiếu chánh xác và sự dối trá đã giúp Ủy ban Tố cáo tội ác Hồ Chí Minh thuyết phục Unesco không thể chấp nhận ngày 19/5 là ngày sanh của HCM. Một cơ quan văn hóa và khoa học của Liên Hiệp Quốc không thể chấp nhận sự dối trá được.
Từ đấy, Unesco bắt đầu nghi ngờ thành tích của Hồ Chí Minh là "nhà văn hóa" và tin những lời phản kháng của cộng đồng người Việt nam ở hải ngoại, bởi không ai hiểu rõ HCM hơn người Việt Nam và đặc biệt những người Việt Nam nạn nhơn của chế độ Hồ Chí Minh.
Thế là trước ngày 19 tháng 5 năm 1990, ông Nguyễn Văn Trần được mời đến Unesco cùng với Tướng Simon để Unesco cho biết quyết định của họ là không thi hành Quyết nghị. Unesco giải thích là không thể hủy bỏ Quyết nghị được, bởi muốn hủy bỏ phải thông qua Đại Hội dồng, với nhiều thủ tục phiền toái.
Tiếp theo đó, Unesco thông báo cho Hà nội biết quyết định với những chi tiết như sau:
- Unesco không tổ chức lễ 100 năm của HCM tại Paris và Hà nội.
- Cho Tòa Đại sứ Hà nội ở Pariss mướn một phòng trong trụ sở Unesco Paris để tự tổ chức (Hà nội muốn thuê hai phòng, nhưng không được phòng thứ hai vì bị Ủy ban Tố cáo Tội ác HCM can thiệp ngăn chặn).
- Unesco và chánh quyền Pháp, kể c? Thị xã Paris không tham dự lễ.
- Ban tổ chức không được lạm d?ng để tuyên truyền chánh trị và đề cao HCM là "nhà văn hóa" theo tinh thần Quyết nghị.
- Thiệp mời không được in hình HHCM và ghi lễ "sanh nhựt HCM và nhà văn hóa" .. mà chỉ ghi mời " tham dự buổi văn nghệ".
Quyết định không thi hành Quyết nghị của Unesco với những ngăn cấm như trên đây đã được Văn Chấn, tác giả bài báo của An ninh thế giới, số 177 thừa nhận nguyên văn như sau:
" ... Điển hình là một số người Việt nam lưu vong ở Pháp, Mỹ và một số nước đã tụ tập nhau ở Paris thành lập cái gọi là "Ủy ban chống tôn vinh HCM" (thật sự là Ủy ban tố cáo tội ác HCM, nhưng tác giả sợ phạm húy nên cải " tố cáo tội ác" thành " chống tôn vinh") do các tên Nguyễn Văn Trần , Nguyễn Thừa Thính , Chu Vũ Hoan... Chúng tích cực vận động một số nhơn vật hữu phái trong chánh quyền các nước ký tên vào thư yêu cầu Tổng Thư ký Unesco hũy bỏ quyết định kỷ niệm ngày sanh của bác.Chúng viết bài cho các báo phản động người Việt nam xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời bác...
Đã sắp đến ngày kỷ niệm , nhưng Ban lãnh đạo Unesco vẫn chưa dứt khoát lại còn gây sức ép thuyết phục ta đồng ý tổ chức kỷ niệm ở bên ngoài trụ sở Unesco vơí lý do nhiều ý kiến phản đối. Với thái độ kiên quyết của phía ta lảnh đạo Unesco chấp nhận một thỏa hiệp: bỏ một vài hoạt động hình thức tuyên truyền chánh trị, không treo ảnh bác trong hội trường, trong triển lãm ảnh bác ở hành lang Unesco, trong giấy mời phải ghi là đến xem văn nghệ, ...
Ba ngày trước lễ kỷ niệm, tình hình lại không diễn ra như ta mong muốn. Tổng Thư ký Unesco mời đại diện phía ta đến gặp và yêu cầu hoãn lễ kỷ niệm với lý do ta không giử đúng lời hứa vì trong giấy mời có in hình bác và ghi " Nhơn dịp kỷ niệm 100 ngày sanh HCM, danh nhơn thế giới" (Đúng là VẹM). .. Cuối cùng ta trả lời với ông Tổng Thư ký là đã thay đổi ... Tuy nhiên ta cho in 100 giấy mời mới thôi (để mời người ngoại quốc) còn giấy cũ gởi cho Liên hiệp Việt kiều yêu nước - hội ngoại vi của Hà nội - phân phối.
Về phần nội dung buổi lễ ta có thay đổi chút ít. Đồng chí Đại sứ của ta không đọc bài diển văn đã dọn sẳn mà thay vào đó Đồng chí Nguyễn Kinh Tài, Đại sứ bên cạnh Unesco đọc bài diển văn ngắn nói về ý nghĩa lễ kỷ niệm, đọc Quyết định của Đại Hội đồng Unesco về kỷ niệm 100 ngày sanh của bác. Chủ tịch Hội đồng người Việt tại Pháp (Hội Liên hiệp Việt kiều yêu nước) phát biểu ý kiến về công lao của bác đối với dân tộc và thế giới, cuối cùng là chương trình xem văn nghệ do đoàn cải lương trong nước phục vụ "
( An ninh thế giới - số 177 trang 14 )
Trong phần cuối Văn Chấn khoác loác hôm ấy có đến "2000 người tham dự nhờ các võ sĩ ngăn chận những người đến phá". Sự thật là hôm ấy không quá 70 người tham dự và hoàn toàn không có ai muốn đánh phá và ngăn chận nhóm "Việt kiều yêu nước " tham dự.
Nhận xét:
- Buổi lễ 19/5/1990 hoàn toàn do Tò?a Đại sứ Hà nội tại Paris tổ chức trong một căn phòng của Unesco do họ thuê mướn.
- Không có đại diện của Unesco vÃ? chánh quyền Pháp đến dự.
- Buổi lễ đã không được thực hiện đúng theo tinh thần Quyết Nghị " Hồ Chí Minh là một danh nhơn thế giới" mà chỉ là một buổi trình diển văn nghệ bình thường. (Đại sứ Phạm Bình của Hà nội không được quyền đọc diển văn và không được quyền nói về HCM như là một danh nhơn).
- Đảng cộng sản Việt nam và nhà? cầm quỳên Hà nội đã không biết lấy làm xấu hổ về những hành động lật lọng và gian trá của mình đối với một cơ quan văn hóa quốc tế (vụ tráo trở thiệp mời - ct: đừng nghe những gì CS nói .. nhìn những gì CS làm) mà lại còn khoe khoang đề cao như là một thành tích thắng lợi.
Điểm thiếu sót đáng tiếc của Ủy ban Tố cáo tội ác Hồ Chí Minh là đã không quảng bá sâu rộng thành quả tranh đãu là Unesco không thi hành Quyết nghị, bởi nghỉ rằng đã thắng lợi như vậy là đủ rồi.
Do đó mà 10 năm sau, Hà nội mới dám lên tiếng khoe thành tích "bảo vệ" lễ kỷ niệm 100 ngày sanh của HCM.
Hồi Nhơn Sơn 31 tháng 5 năm 2003
(một thành viên của Ủy Ban Tố cáo Tội ác Hồ Chí Minh) thuật
Nguyễn Đông A
Nguyễn Đông A
Mười năm sau, báo An ninh thế giới, số 177 xuất bản tại Hà nội cho đăng một bài với tựa "Bảo vệ lễ kỷ niệm 100 ngày sinh của bác Hồ ở trụ sở Unesco (Pháp)".
Tại sao ‘bảo vệ’? Nếu lễ sanh nhựt 100 năm của HCM được Unesco tổ chức thì không cần phải bảo vệ bởi phía Tòa Đại sứ Hà nội, bởi vấn đề an ninh đã thường xuyên được Unesco đãm trách.
Phải bảo vệ như lời tựa của bài báo viết (báo công an) vì buổi lể kỷ niệm ấy thật sự không được Unesco tổ chức mà do hoàn toàn Tòa Đại sứ Hà nội tự lo liệu.
Diễn tiến sự việc:
Năm 1987, Đại hội đồng Unesco đã chấp thuận một quyết nghị tôn vinh Hồ Chí Minh là danh nhơn thế giới (nhà giải phóng dân tộc, nhà văn hóa). Theo quyết nghị này, Unesco sẽ trợ cấp cho Hà nội một ngân khoản để tổ chức lể kỷ niệm 100 năm taị trụ sở Unesco Hà nội, ấn hành tranh ảnh, sách báo nói về sự nghiệp văn hóa và giải phóng của lão. Riêng Unesco tại Paris cũng sẽ tổ chức lể kỷ niệm tại trụ sở với sự tham dự của Ban lãnh đạo Unesco, đại diện chánh phủ Pháp và Thị xã Paris.
Sở dỉ Quyết nghị này được thông qua dễ dàng ở Đại hội đồng vì ông M’Bow, một người phi châu đen, làm Tổng Giám đốc Unesco có xu hướng thân Cộng sản đã tích cực vận động các thành viên trong Unesco.
Ngay khi Quyết nghị vừa được phổ biến, cộng đồng người Việt tại Paris liền lập tức họp nhau lại để tìm phương cách phản đối Unesco.
Một tổ chức thành hình : ỦY BAN TỐ CÁO TÔI ÁC HỒ CHÍ MINH gồm một Tổng Thư Ký và nhiều Ủy Viên. Ông Nguyễn Văn Trần được các thân hữu ủy nhiệm làm Tổng Thư Ký với sự hợp tác trợ lực tích cực của các ông Trần Văn Ngô, Chu Vũ Hoan, Nguyễn Thừa Thính, Nghiêm Văn Thạch, Vũ Hạ .. Ủy Ban Vận đng kiều bào ở khắp nơi: Hoa Kỳ, Úc, Canada và Âu Châu, viết thư cho Unesco phản đối Quyết nghị sai lầm kia và vạch trần tội ác Hồ Chí Minh từ khi nắm chánh quyền ở Hà nội và của chế độ qua các biến cố cụ thể như vụ Nhân văn Giai phẩm, cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp, vụ thảm sát Mậu Thân Huế và ở miền Nam sau 1975, việc tập trung cải tạo, đánh tư sản mại bản, đày dân đi kinh tế mới, tổ chức vượt biển thu vàng, thảm nạn vượt biển ...
Đồng thời Ủy ban cũng kêu gọi báo chí việt ngữ hải ngoại phổ biến tội ác của Hồ Chí Minh và chế độ cộng sản Hà nội, viết lại và phổ biến để ngăn chận ảnh hưởng của Nghị quyết Unesco này.
Ông Nguyễn Văn Trần liên hệ với tướng Simon, chủ tịch Ủy Ban Tương trợ Việt-Miên-Lào và chủ tịch Hội cựu Đông Dương ANAI, để kêu gọi Hội cựu chiến binh Pháp lên tiếng tố cáo tội ác của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản đã vi phạm Nhơn quyền đối với tù binh pháp sau chiến tranh đông dương.
Ông Nguyễn Văn Trần liên hệ với Thị xã Paris và một số dân biểu, nghị sĩ Pháp am hiểu về chế độ cộng sản Hà nội để yêu cầu họ đặt những câu hỏi với chánh phủ Pháp tại Quốc hội Pháp để có thái độ đối với Quyết nghị Unesco, bởi Pháp là quốc gia đón nhận trụ sở Unesco.
Bức tường Bá linh sụp đổ kéo theo khối Cộng sản Đông Âu đã ảnh hưởng sâu đậm đến nếp suy nghĩ về Cộng sản của các nước Âu châu và của thế giới. Ông Frédéric Mayer, người Tây ba nha vừa đắc cử Tổng giám đốc Unesco. Ông nầy am hiểu cộng sản nên không có xu hướng ủng hộ phe khuynh tả trong Unesco như ông M'Bow trước kia. Kiều bào Việt nam ở khắp nơi viết thư gởi về Unesco, có đến hàng hai mươi ngàn thư phản đối, yêu cầu hủy bỏ Quyết nghị. Số thư này được ông Giám đôc trách nhiệm vùng Đông Nam Á ở Unesco cứ tuần tự đến cuối tuần chuyển đến đại diện Hà nội tại Unesco.
Ông Nguyễn Văn Trần sưu tầm tài liệu tại các thư viện và văn khố Pháp chứng minh sự đề cao HCM của Hà nội như là một vĩ nhơn là hoàn toàn dối trá. Thân phụ của Hồ Chí Minh say rượu phạt đòn làm chết oan một tội nhơn nên bị mất chức chứ hoàn toàn không vì chống Pháp mà từ quan. Không còn nguồn lợi tức để sanh sống và học hành , HCM bỏ vào Phan T hiết nhờ Hội Liên Thành nhận cho dạy học sanh sống qua ngày. Nhưng số học sanh của một tỉnh lẽ lúc bấy giờ không đủ bảo đảm cho y một mức sống ổn định nên năm sau đó y rời Phan thiết vào Sài gòn để xuống tàu Pháp xin làm phụ bếp cho có đồng lương đêù đặn và khá giả hơn.
Hồ Chí Minh xuống tàu Pháp tại bến Nhà Rồng ở Sài gòn hoàn toàn chỉ nhằm tìm kế sanh nhai cho bàn thân và gởi tiền về nước giúp phụ thân thôi.
Vì cha y thuộc diện hành chánh của chánh quyền thuộc địa nên Hồ Chí Minh làm đơn xin ban học bổng để mong sau này "giúp ích Nhà nước Pháp". Đơn xin bị từ chối. Qua các văn kiện do HCM viết và khai báo ghi nhận : HCM có nhiều ngày sanh khác nhau. Ngày chết của y cũng bị Đảng Cộng sản thay đổi: ngày 2 tháng 9 năm 1969 biến thành ngày 3 tháng 9.
Những chi tiết hộ tịch này đã phơi bày sự thiếu chánh xác và sự dối trá đã giúp Ủy ban Tố cáo tội ác Hồ Chí Minh thuyết phục Unesco không thể chấp nhận ngày 19/5 là ngày sanh của HCM. Một cơ quan văn hóa và khoa học của Liên Hiệp Quốc không thể chấp nhận sự dối trá được.
Từ đấy, Unesco bắt đầu nghi ngờ thành tích của Hồ Chí Minh là "nhà văn hóa" và tin những lời phản kháng của cộng đồng người Việt nam ở hải ngoại, bởi không ai hiểu rõ HCM hơn người Việt Nam và đặc biệt những người Việt Nam nạn nhơn của chế độ Hồ Chí Minh.
Thế là trước ngày 19 tháng 5 năm 1990, ông Nguyễn Văn Trần được mời đến Unesco cùng với Tướng Simon để Unesco cho biết quyết định của họ là không thi hành Quyết nghị. Unesco giải thích là không thể hủy bỏ Quyết nghị được, bởi muốn hủy bỏ phải thông qua Đại Hội dồng, với nhiều thủ tục phiền toái.
Tiếp theo đó, Unesco thông báo cho Hà nội biết quyết định với những chi tiết như sau:
- Unesco không tổ chức lễ 100 năm của HCM tại Paris và Hà nội.
- Cho Tòa Đại sứ Hà nội ở Pariss mướn một phòng trong trụ sở Unesco Paris để tự tổ chức (Hà nội muốn thuê hai phòng, nhưng không được phòng thứ hai vì bị Ủy ban Tố cáo Tội ác HCM can thiệp ngăn chặn).
- Unesco và chánh quyền Pháp, kể c? Thị xã Paris không tham dự lễ.
- Ban tổ chức không được lạm d?ng để tuyên truyền chánh trị và đề cao HCM là "nhà văn hóa" theo tinh thần Quyết nghị.
- Thiệp mời không được in hình HHCM và ghi lễ "sanh nhựt HCM và nhà văn hóa" .. mà chỉ ghi mời " tham dự buổi văn nghệ".
Quyết định không thi hành Quyết nghị của Unesco với những ngăn cấm như trên đây đã được Văn Chấn, tác giả bài báo của An ninh thế giới, số 177 thừa nhận nguyên văn như sau:
" ... Điển hình là một số người Việt nam lưu vong ở Pháp, Mỹ và một số nước đã tụ tập nhau ở Paris thành lập cái gọi là "Ủy ban chống tôn vinh HCM" (thật sự là Ủy ban tố cáo tội ác HCM, nhưng tác giả sợ phạm húy nên cải " tố cáo tội ác" thành " chống tôn vinh") do các tên Nguyễn Văn Trần , Nguyễn Thừa Thính , Chu Vũ Hoan... Chúng tích cực vận động một số nhơn vật hữu phái trong chánh quyền các nước ký tên vào thư yêu cầu Tổng Thư ký Unesco hũy bỏ quyết định kỷ niệm ngày sanh của bác.Chúng viết bài cho các báo phản động người Việt nam xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời bác...
Đã sắp đến ngày kỷ niệm , nhưng Ban lãnh đạo Unesco vẫn chưa dứt khoát lại còn gây sức ép thuyết phục ta đồng ý tổ chức kỷ niệm ở bên ngoài trụ sở Unesco vơí lý do nhiều ý kiến phản đối. Với thái độ kiên quyết của phía ta lảnh đạo Unesco chấp nhận một thỏa hiệp: bỏ một vài hoạt động hình thức tuyên truyền chánh trị, không treo ảnh bác trong hội trường, trong triển lãm ảnh bác ở hành lang Unesco, trong giấy mời phải ghi là đến xem văn nghệ, ...
Ba ngày trước lễ kỷ niệm, tình hình lại không diễn ra như ta mong muốn. Tổng Thư ký Unesco mời đại diện phía ta đến gặp và yêu cầu hoãn lễ kỷ niệm với lý do ta không giử đúng lời hứa vì trong giấy mời có in hình bác và ghi " Nhơn dịp kỷ niệm 100 ngày sanh HCM, danh nhơn thế giới" (Đúng là VẹM). .. Cuối cùng ta trả lời với ông Tổng Thư ký là đã thay đổi ... Tuy nhiên ta cho in 100 giấy mời mới thôi (để mời người ngoại quốc) còn giấy cũ gởi cho Liên hiệp Việt kiều yêu nước - hội ngoại vi của Hà nội - phân phối.
Về phần nội dung buổi lễ ta có thay đổi chút ít. Đồng chí Đại sứ của ta không đọc bài diển văn đã dọn sẳn mà thay vào đó Đồng chí Nguyễn Kinh Tài, Đại sứ bên cạnh Unesco đọc bài diển văn ngắn nói về ý nghĩa lễ kỷ niệm, đọc Quyết định của Đại Hội đồng Unesco về kỷ niệm 100 ngày sanh của bác. Chủ tịch Hội đồng người Việt tại Pháp (Hội Liên hiệp Việt kiều yêu nước) phát biểu ý kiến về công lao của bác đối với dân tộc và thế giới, cuối cùng là chương trình xem văn nghệ do đoàn cải lương trong nước phục vụ "
( An ninh thế giới - số 177 trang 14 )
Trong phần cuối Văn Chấn khoác loác hôm ấy có đến "2000 người tham dự nhờ các võ sĩ ngăn chận những người đến phá". Sự thật là hôm ấy không quá 70 người tham dự và hoàn toàn không có ai muốn đánh phá và ngăn chận nhóm "Việt kiều yêu nước " tham dự.
Nhận xét:
- Buổi lễ 19/5/1990 hoàn toàn do Tò?a Đại sứ Hà nội tại Paris tổ chức trong một căn phòng của Unesco do họ thuê mướn.
- Không có đại diện của Unesco vÃ? chánh quyền Pháp đến dự.
- Buổi lễ đã không được thực hiện đúng theo tinh thần Quyết Nghị " Hồ Chí Minh là một danh nhơn thế giới" mà chỉ là một buổi trình diển văn nghệ bình thường. (Đại sứ Phạm Bình của Hà nội không được quyền đọc diển văn và không được quyền nói về HCM như là một danh nhơn).
- Đảng cộng sản Việt nam và nhà? cầm quỳên Hà nội đã không biết lấy làm xấu hổ về những hành động lật lọng và gian trá của mình đối với một cơ quan văn hóa quốc tế (vụ tráo trở thiệp mời - ct: đừng nghe những gì CS nói .. nhìn những gì CS làm) mà lại còn khoe khoang đề cao như là một thành tích thắng lợi.
Điểm thiếu sót đáng tiếc của Ủy ban Tố cáo tội ác Hồ Chí Minh là đã không quảng bá sâu rộng thành quả tranh đãu là Unesco không thi hành Quyết nghị, bởi nghỉ rằng đã thắng lợi như vậy là đủ rồi.
Do đó mà 10 năm sau, Hà nội mới dám lên tiếng khoe thành tích "bảo vệ" lễ kỷ niệm 100 ngày sanh của HCM.
Hồi Nhơn Sơn 31 tháng 5 năm 2003
(một thành viên của Ủy Ban Tố cáo Tội ác Hồ Chí Minh) thuật
Nguyễn Đông A
vendredi 1 juin 2007
Karl Marx mắng mỏ đảng cộng sản Việt Nam.
Karl Marx mắng mỏ đảng cộng sản Việt Nam.
Hải Triều
Thiệt tình mà nói, trước khi vô bài, tôi đặt cái tít này chắc bà con khó hiểu, chắc mấy ông đầu đảng cộng sản ở Hà Nội ngạc nhiên tưởng tôi điên. Nhưng hãy khoan! Cứ bình tâm nghe tôi lý sự, nghe tôi kể chuyện.
Quả thật, tôi là người không ưa cộng sản Việt Nam, không ưa chủ nghĩa cộng sản, không phải chỉ vì mấy năm tù bị đì như thú vật mà tôi có định kiến, mà vì cộng sản dã man và nhiều khi mất nhân tính thật. Ở trong tù như ở trong địa ngục, mà ra khỏi tù thì cũng thấy cộng sản đối sử với đồng bào như cỏ rác, như nô lệ, sống vất vưởng đầu đường xó chợ trong khi cộng sản thi nhau bỏ giép râu đi xe Mẹc Sơ Đì bóng loáng, nhà cao cửa rộng, phung phí như ông hoàng… Tôi có cảm giác cộng sản Việt Nam là những sinh vật đến từ một thứ hành tinh nào, chứ không cùng nòi giống Việt Nam.
Thoát ra được nước ngoài, nghĩ lại những năm tháng ở Việt Nam mà còn lạnh xương sống, cóng xương xường, đêm trường ngủ mơ thấy ở tù kỳ cục…, rồi chợt nhớ lời ông Karl Marx phán mà thấy thấm thía: Ổng phán rằng thì là: “Chỉ có thú vật mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại, mà chỉ lo chăm sóc cho bộ lông của mình”.
Nói thiệt với bà con, tôi ghét cay đắng chủ nghĩa Mác Lê Nin, nhưng rất khoái và thấm câu nói của Mác. Có thể cụ Mác nói xỏ mấy ông chủ bóc lột công nhân thời của ông sống bên Anh, khoảng thế kỷ 17, 18 thì phải. Tôi dốt sử nên đoán mò, trúng tôi nhờ, trật bà con … chịu và thông cảm cho.
Tuy nhiên, hôm nay, khi viết những dòng này, nhớ về Việt Nam, nhớ những gương mặt “giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay dính máu anh em” của năm 1975, với những đổ nát, đau thương, chết chóc, mất mát, chia ly, đọa đày trên khắp nước vẫn còn tiếp diễn dưới bàn tay thống trị của cộng sản Việt Nam, nhớ những ngày chính tôi và bạn bè khiêng xác anh em bạn tù đi chôn ven rừng, mồ xiêu, mã lạng…tôi bỗng thấy dường như câu nói của Mác là câu nói ông nói với đảng cộng sản Việt Nam. Mác tiên tri? Mác mặc khải? Mác làm ông Trạng Trình?... Tôi không biết, nhưng điều tôi biết là Mác nói không sai khi áp dụng vào đảng cộng sản Việt Nam.
Ngày 13 tháng 7 năm 2001, vào một buổi xế chiều, tại công viên Stanley Park nổi danh của Vancouver, Canada ( đứng vào hàng công viên đẹp hàng thứ 7 trên thế giới), người ta chứng kiến một trường hợp lạ lùng: Một con vịt mẹ dắt một bầy con từ một mé rừng công viên đến bờ ao. Trên đường đi, cả đám vịt con rơi tòm xuống một cống nước. Vịt mẹ đứng nhìn xuống cống nước cất tiếng cạp cạp tuyệt vọng, không biết làm sao đem bầy con mình lên bờ.
Cảnh sát viên Ray Peterson tình cờ đi ngang gần đó khi tuần tra, ông ngạc nhiên thấy con vịt mẹ chạy lạch bạch tới cắn ống quần ông và kéo đi về hướng ống cống. Thoạt đầu ông tưởng con vịt cắn sảng, ông hất nó ra, nhưng nó cứ một mực cắn ống quần ông kéo đi. Ông ngạc nhiên, đi theo con vịt, nó dẫn ông tới lổ cống có song sắt lớn chắn rác. Con vịt mẹ chạy trước đến đó và ngồi chờ ông với tiếng kêu cạp cạp thống thiết.
Ray Peterson vô cùng ngạc nhiên thấy 8 con vịt con rơi tòm kẹt dưới ống cống lỏm bỏm nước. Ray hiểu chuyện gì đã xẩy ra.
Cảnh sát và xe cứu hỏa được gọi tới, và chuyện lạ lùng này lọt vào tai phóng viên tờ Vancouver Sun. Tức thời báo chí bay đến viết tin và chụp hình khi người ta giở tấm vĩ sắt, dùng vợt với 8 chú vịt con lên bờ trả cho vịt mẹ. Vịt mẹ dắt bày con, từ giả đám người hiếu kỳ đang bu quanh, và dắt bay con đến một cái ao bên cạnh và mẹ con ùa xuống nước. Nhiều người vừa chụp hình, vừa gãi đầu trước hiện tượng lạ lùng kỳ thú này.
Hình ảnh vịt mẹ dắt bầy con cùng bản tin lạ này lập tức được Reuters loan đi khăùp thế giới với tựa đề: Ducklings in trouble, mother calls the police. ( By Reuters 07/13/01)
Người viết có được hình con vịt thông minh dắt bày vịt con trên tờ Vancouver Sun, nhưng không biết nó thất lạc đi đâu trong cái núi sách báo và hồ sơ chui tâ.n lổ mũi.... Tuy nhiên, cũng như rất nhiều người ở Vancouver và độc giả khắp nơi, câu chuyện có thật lạ lùng và cảm động này cứ nằm trong đầu tôi với câu hỏi “ tại sao con vịt mẹ này lại thông minh đến độ như vậy?...” Nó không bỏ bầy con, nó lại biết gọi cảnh sát mới là kỳ diệu! Ai bảo loài vật không có “lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào?!!!”
Ngày 14 tháng 5 năm 2007 mới đây, phóng viên Trung Đông Ali Jarekji, lại cũng của Reuters phóng lên bản tin và tấm hình một con mèo nuôi gà con. Con mèo tên Nimra, một năm tuổi. Sau khi con gà mẹ của 7 con gà con sơ sinh bị chết, con mèo Nimra đứng ra thay thế gà mẹ chăm sóc 7 con gà con. Bầy gà con mất mẹ tưởng mèo là mẹ nó nên lẩn quẩn theo mẹ mèo. Chuyện này xẩy ra ở Amman, Jordan.
Ngày 25 tháng 5 năm 2007, phóng viên Arben Celi, cũng của Reuters tung lên các hệ thống truyền thông một bản tin và một tấm hình cảm động khác. Tại một thành phố nhỏ tên Mamurras thuộc vùng nước Albani cách thành phố Tirana 50 km, một con mèo mẹ sinh ra mấy con mèo con và chẳng may tất cả mèo con bị chết trong lúc vú mèo mẹ còn căng sữa.
Cùng sống trong một ngôi nhà, một con chó sinh ra hai con chó con, một đen và trắng và không may, con chó mẹ vị xe cán chết. Mất mẹ, hai con chó con chạy theo con mèo mẹ mất con để tìm vú bú sữa. Con mèo mẹ nằm xuống cho hai con chó con bú sữa mèo. Và rồi ngày ngày con mèo mẹ này chăm sóc hai con chó con như con ruột! Một hình ảnh rất cảm động, rất dễ thương.
Con mèo, con chó, con vịt… là những con vật, tại sao nó đối xử với con, với loài khác giống như những con người có lương tri, đầy tình thương với đồng loại? Có những trường hợp con người không hiểu nổi sự thông minh và tình thương trong phản ứng của loài vật, như trường hợp con vịt được đề cập ở phần trên. Phải chăng Marx đã nói oan cho loài vật? “Chỉ có thú vật mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại, mà chỉ lo chăm sóc cho bộ lông của mình.”
Marx sai với con vịt . Con vịt đâu có bỏ đi và bỏ con chết dưới cống nước, nó biết gọi cảnh sát cứu con nó mà!
Marx sai với con mèo. Con mèo còn thay mẹ gà nuôi và chăm sóc mấy con gà con mất mẹ, dù chó mèo không là đồng loại.
Marx sai với con mèo. Con mèo còn biết thay con chó mẹ bị chết để cho chó con bú và nuôi hai con chó con, dù nó không cùng loại chó.
Nhưng Marx hoàn toàn đúng với trường hợp chế độ cộng sản Việt Nam. Tôi nhắc lại lời Marx:
“Chỉ có thú vật mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại, mà chỉ lo chăm sóc cho bộ lông của mình.” Vì sao?
Từ ngày thành hình đảng CSVN đến nay, đảng cộng sản Việt Nam, qua dòng lịch sử, đã thể hiện rõ nét, là họ đã quay lưng lại với những nỗi đau của của đồng loại, mà chỉ lo chăm sóc cho quyền lực của đảng cộng sản, của giai cấp thống trị, của quyền lợi giới tư bản đỏ tại Việt Nam, và của gia đình họ.
Oan khuất của đồng bào trùng trùng khắp trời Nam Bắc, khát vọng của đồng bào bị dập tắt dã man. Mất lòng dân, mất lòng người, mất biên thổ của tổ tiên… Cộng sản Việt Nam đã và đang quay lưng lại với nỗi đau và khát vọng của đồng loại và dân tộc. Và thưa cụ Karl Marx, theo cụ thì chế độ cộng sản Việt Nam là loại gì?
Thưa cụ Mác! Ai bôi bác cụ vì cộng sản Việt Nam cứ dùng hoài cái món ngoại lai mà họ gọi là “Chủ nghĩa Mác Lênin bách chiến bách thắng muôn năm”… nhưng cuối cùng cũng chầu ông Bush… thì cứ bôi bác, nhưng tôi phải thành thật mà thưa rằng cái tâm ban đầu của cụ là tốt, là thiện … nhưng bị ông Lê, ông Sịt và VC biến chế thành ác để dùng, để đi làm cách mạng kiểu:
Đỗ 10 học hết lớp ba.
Đi làm cách mạng chết cha giống nòi!
Không tin hỏi bác mà coi
Muôn dân ở dưới, đảng ngổi ở trên!
Không biết tôi đoán có sai hay không, cụ linh thiêng thì hiện hình dạy bảo, nhưng dù sao tôi cũng cám ơn cụ đã phán một câu quá đúng về mặt đạo lý và nhân bản: “Chỉ có thú vật mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại, mà chỉ lo chăm sóc cho bộ lông của mình.”
Cụ hết sẩy cụ Mác ui! Cụi phán trúng phóc, không trật một ly ông cụ nào khi đem câu đó trùm lên đầu chế độ cộng sản cầm quyền hiện nay ở Việt Nam! Mấy ông VC ở Hà Nội nghĩ sao thì mặc xác mấy ông, nhưng theo kẻ hèn này thì ông Mác nói đúng, chỉ có loài vật mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại ... mà chỉ lo chăm sóc mấy đồng đô la trong túi mình…
Bravo cụ Mác!
(Nhưng Stalin, Lê Nin và VC thì đi chỗ khác chơi!)
Hải Triều
604 879 1179
Hải Triều
Thiệt tình mà nói, trước khi vô bài, tôi đặt cái tít này chắc bà con khó hiểu, chắc mấy ông đầu đảng cộng sản ở Hà Nội ngạc nhiên tưởng tôi điên. Nhưng hãy khoan! Cứ bình tâm nghe tôi lý sự, nghe tôi kể chuyện.
Quả thật, tôi là người không ưa cộng sản Việt Nam, không ưa chủ nghĩa cộng sản, không phải chỉ vì mấy năm tù bị đì như thú vật mà tôi có định kiến, mà vì cộng sản dã man và nhiều khi mất nhân tính thật. Ở trong tù như ở trong địa ngục, mà ra khỏi tù thì cũng thấy cộng sản đối sử với đồng bào như cỏ rác, như nô lệ, sống vất vưởng đầu đường xó chợ trong khi cộng sản thi nhau bỏ giép râu đi xe Mẹc Sơ Đì bóng loáng, nhà cao cửa rộng, phung phí như ông hoàng… Tôi có cảm giác cộng sản Việt Nam là những sinh vật đến từ một thứ hành tinh nào, chứ không cùng nòi giống Việt Nam.
Thoát ra được nước ngoài, nghĩ lại những năm tháng ở Việt Nam mà còn lạnh xương sống, cóng xương xường, đêm trường ngủ mơ thấy ở tù kỳ cục…, rồi chợt nhớ lời ông Karl Marx phán mà thấy thấm thía: Ổng phán rằng thì là: “Chỉ có thú vật mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại, mà chỉ lo chăm sóc cho bộ lông của mình”.
Nói thiệt với bà con, tôi ghét cay đắng chủ nghĩa Mác Lê Nin, nhưng rất khoái và thấm câu nói của Mác. Có thể cụ Mác nói xỏ mấy ông chủ bóc lột công nhân thời của ông sống bên Anh, khoảng thế kỷ 17, 18 thì phải. Tôi dốt sử nên đoán mò, trúng tôi nhờ, trật bà con … chịu và thông cảm cho.
Tuy nhiên, hôm nay, khi viết những dòng này, nhớ về Việt Nam, nhớ những gương mặt “giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay dính máu anh em” của năm 1975, với những đổ nát, đau thương, chết chóc, mất mát, chia ly, đọa đày trên khắp nước vẫn còn tiếp diễn dưới bàn tay thống trị của cộng sản Việt Nam, nhớ những ngày chính tôi và bạn bè khiêng xác anh em bạn tù đi chôn ven rừng, mồ xiêu, mã lạng…tôi bỗng thấy dường như câu nói của Mác là câu nói ông nói với đảng cộng sản Việt Nam. Mác tiên tri? Mác mặc khải? Mác làm ông Trạng Trình?... Tôi không biết, nhưng điều tôi biết là Mác nói không sai khi áp dụng vào đảng cộng sản Việt Nam.
Ngày 13 tháng 7 năm 2001, vào một buổi xế chiều, tại công viên Stanley Park nổi danh của Vancouver, Canada ( đứng vào hàng công viên đẹp hàng thứ 7 trên thế giới), người ta chứng kiến một trường hợp lạ lùng: Một con vịt mẹ dắt một bầy con từ một mé rừng công viên đến bờ ao. Trên đường đi, cả đám vịt con rơi tòm xuống một cống nước. Vịt mẹ đứng nhìn xuống cống nước cất tiếng cạp cạp tuyệt vọng, không biết làm sao đem bầy con mình lên bờ.
Cảnh sát viên Ray Peterson tình cờ đi ngang gần đó khi tuần tra, ông ngạc nhiên thấy con vịt mẹ chạy lạch bạch tới cắn ống quần ông và kéo đi về hướng ống cống. Thoạt đầu ông tưởng con vịt cắn sảng, ông hất nó ra, nhưng nó cứ một mực cắn ống quần ông kéo đi. Ông ngạc nhiên, đi theo con vịt, nó dẫn ông tới lổ cống có song sắt lớn chắn rác. Con vịt mẹ chạy trước đến đó và ngồi chờ ông với tiếng kêu cạp cạp thống thiết.
Ray Peterson vô cùng ngạc nhiên thấy 8 con vịt con rơi tòm kẹt dưới ống cống lỏm bỏm nước. Ray hiểu chuyện gì đã xẩy ra.
Cảnh sát và xe cứu hỏa được gọi tới, và chuyện lạ lùng này lọt vào tai phóng viên tờ Vancouver Sun. Tức thời báo chí bay đến viết tin và chụp hình khi người ta giở tấm vĩ sắt, dùng vợt với 8 chú vịt con lên bờ trả cho vịt mẹ. Vịt mẹ dắt bày con, từ giả đám người hiếu kỳ đang bu quanh, và dắt bay con đến một cái ao bên cạnh và mẹ con ùa xuống nước. Nhiều người vừa chụp hình, vừa gãi đầu trước hiện tượng lạ lùng kỳ thú này.
Hình ảnh vịt mẹ dắt bầy con cùng bản tin lạ này lập tức được Reuters loan đi khăùp thế giới với tựa đề: Ducklings in trouble, mother calls the police. ( By Reuters 07/13/01)
Người viết có được hình con vịt thông minh dắt bày vịt con trên tờ Vancouver Sun, nhưng không biết nó thất lạc đi đâu trong cái núi sách báo và hồ sơ chui tâ.n lổ mũi.... Tuy nhiên, cũng như rất nhiều người ở Vancouver và độc giả khắp nơi, câu chuyện có thật lạ lùng và cảm động này cứ nằm trong đầu tôi với câu hỏi “ tại sao con vịt mẹ này lại thông minh đến độ như vậy?...” Nó không bỏ bầy con, nó lại biết gọi cảnh sát mới là kỳ diệu! Ai bảo loài vật không có “lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào?!!!”
Ngày 14 tháng 5 năm 2007 mới đây, phóng viên Trung Đông Ali Jarekji, lại cũng của Reuters phóng lên bản tin và tấm hình một con mèo nuôi gà con. Con mèo tên Nimra, một năm tuổi. Sau khi con gà mẹ của 7 con gà con sơ sinh bị chết, con mèo Nimra đứng ra thay thế gà mẹ chăm sóc 7 con gà con. Bầy gà con mất mẹ tưởng mèo là mẹ nó nên lẩn quẩn theo mẹ mèo. Chuyện này xẩy ra ở Amman, Jordan.
Ngày 25 tháng 5 năm 2007, phóng viên Arben Celi, cũng của Reuters tung lên các hệ thống truyền thông một bản tin và một tấm hình cảm động khác. Tại một thành phố nhỏ tên Mamurras thuộc vùng nước Albani cách thành phố Tirana 50 km, một con mèo mẹ sinh ra mấy con mèo con và chẳng may tất cả mèo con bị chết trong lúc vú mèo mẹ còn căng sữa.
Cùng sống trong một ngôi nhà, một con chó sinh ra hai con chó con, một đen và trắng và không may, con chó mẹ vị xe cán chết. Mất mẹ, hai con chó con chạy theo con mèo mẹ mất con để tìm vú bú sữa. Con mèo mẹ nằm xuống cho hai con chó con bú sữa mèo. Và rồi ngày ngày con mèo mẹ này chăm sóc hai con chó con như con ruột! Một hình ảnh rất cảm động, rất dễ thương.
Con mèo, con chó, con vịt… là những con vật, tại sao nó đối xử với con, với loài khác giống như những con người có lương tri, đầy tình thương với đồng loại? Có những trường hợp con người không hiểu nổi sự thông minh và tình thương trong phản ứng của loài vật, như trường hợp con vịt được đề cập ở phần trên. Phải chăng Marx đã nói oan cho loài vật? “Chỉ có thú vật mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại, mà chỉ lo chăm sóc cho bộ lông của mình.”
Marx sai với con vịt . Con vịt đâu có bỏ đi và bỏ con chết dưới cống nước, nó biết gọi cảnh sát cứu con nó mà!
Marx sai với con mèo. Con mèo còn thay mẹ gà nuôi và chăm sóc mấy con gà con mất mẹ, dù chó mèo không là đồng loại.
Marx sai với con mèo. Con mèo còn biết thay con chó mẹ bị chết để cho chó con bú và nuôi hai con chó con, dù nó không cùng loại chó.
Nhưng Marx hoàn toàn đúng với trường hợp chế độ cộng sản Việt Nam. Tôi nhắc lại lời Marx:
“Chỉ có thú vật mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại, mà chỉ lo chăm sóc cho bộ lông của mình.” Vì sao?
Từ ngày thành hình đảng CSVN đến nay, đảng cộng sản Việt Nam, qua dòng lịch sử, đã thể hiện rõ nét, là họ đã quay lưng lại với những nỗi đau của của đồng loại, mà chỉ lo chăm sóc cho quyền lực của đảng cộng sản, của giai cấp thống trị, của quyền lợi giới tư bản đỏ tại Việt Nam, và của gia đình họ.
Oan khuất của đồng bào trùng trùng khắp trời Nam Bắc, khát vọng của đồng bào bị dập tắt dã man. Mất lòng dân, mất lòng người, mất biên thổ của tổ tiên… Cộng sản Việt Nam đã và đang quay lưng lại với nỗi đau và khát vọng của đồng loại và dân tộc. Và thưa cụ Karl Marx, theo cụ thì chế độ cộng sản Việt Nam là loại gì?
Thưa cụ Mác! Ai bôi bác cụ vì cộng sản Việt Nam cứ dùng hoài cái món ngoại lai mà họ gọi là “Chủ nghĩa Mác Lênin bách chiến bách thắng muôn năm”… nhưng cuối cùng cũng chầu ông Bush… thì cứ bôi bác, nhưng tôi phải thành thật mà thưa rằng cái tâm ban đầu của cụ là tốt, là thiện … nhưng bị ông Lê, ông Sịt và VC biến chế thành ác để dùng, để đi làm cách mạng kiểu:
Đỗ 10 học hết lớp ba.
Đi làm cách mạng chết cha giống nòi!
Không tin hỏi bác mà coi
Muôn dân ở dưới, đảng ngổi ở trên!
Không biết tôi đoán có sai hay không, cụ linh thiêng thì hiện hình dạy bảo, nhưng dù sao tôi cũng cám ơn cụ đã phán một câu quá đúng về mặt đạo lý và nhân bản: “Chỉ có thú vật mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại, mà chỉ lo chăm sóc cho bộ lông của mình.”
Cụ hết sẩy cụ Mác ui! Cụi phán trúng phóc, không trật một ly ông cụ nào khi đem câu đó trùm lên đầu chế độ cộng sản cầm quyền hiện nay ở Việt Nam! Mấy ông VC ở Hà Nội nghĩ sao thì mặc xác mấy ông, nhưng theo kẻ hèn này thì ông Mác nói đúng, chỉ có loài vật mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại ... mà chỉ lo chăm sóc mấy đồng đô la trong túi mình…
Bravo cụ Mác!
(Nhưng Stalin, Lê Nin và VC thì đi chỗ khác chơi!)
Hải Triều
604 879 1179
Sino-Soviet split
Sino-Soviet split
From Wikipedia, the free encyclopedia
(Redirected from Sino-soviet split)
The Sino-Soviet split was a major diplomatic conflict between the People's Republic of China (PRC) and the Union of Soviet Socialist Republics (USSR) during the Cold War. The split began in the late 1950s, reaching a peak in 1969 and continuing in various ways until the late 1980s. It led to a parallel split in the international Communist movement, although it may have had as much to do with Chinese and Soviet national interests as with the two countries' respective communist ideologies.
Contents[hide]
1 Background
2 The onset of the split
3 From split to confrontation
4 Return to normality
5 Conclusion
6 Reference
7 See also
//
[edit] Background
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/thumb/1/18/Ac.maoposter.jpg/325px-Ac.maoposter.jpg
The roots of the split began in the 1930s, when the Chinese Communists led by Mao Zedong were simultaneously conducting a war of resistance against the Japanese and a civil war against Chiang Kai-Shek's Nationalist Party. Mao largely ignored advice and instructions from Stalin and the Comintern on how to conduct the revolution in China. Traditional Leninist theory, by this time raised to the level of unquestioned dogma, was based on the revolutionary struggle of the urban working class, a class which barely existed in China. Mao therefore ignored the theory and sought to mobilize the peasantry.
During World War II, Stalin urged Mao to form a coalition with Chiang to fight the Japanese. Even after the war Stalin advised Mao not to attempt to seize power, but to negotiate with Chiang; Stalin signed a Treaty of Friendship and Alliance with Chiang in mid-1945. Mao politely accepted all of Stalin's advice and ignored it in practice, driving Chiang off the Chinese mainland and proclaiming the People's Republic in October 1949. Soon after, however, a two-month visit to Moscow by Mao culminated in the Treaty of Friendship and Alliance (1950), which comprised a low-interest Soviet loan of $300m and a 30-year military alliance against Japanese aggression.
At the same time, however, Beijing had begun to try supplant Moscow's role as the ideological leader of the world communist movement. Mao and his supporters had been actively promoting the idea that communist movements in Asia, and the rest of the world, should follow China's model of revolution, not Russia's. In 1947, Mao had given American journalist Anna Louise Strong documents and instructed her to "show them to Party leaders in the United States and Europe" but did not think it was "necessary to take them to Moscow." Strong had also written an article, "The Thought of Mao Tse-tung," and a book, Dawn Out of China, which included claims that Mao's great accomplishment was "to change Marxism from a European to an Asiatic form .. . in ways of which neither Marx nor Lenin could dream." The book was banned in the Soviet Union. Several years later, at the first international Communist gathering in Beijing, Liu Shaoqi, a prominent supporter of Mao, delivered a speech praising the "Mao Tse-tung road" as the correct road to communist revolution and warned that it would be wrong to follow any other path; Liu Shaoqi did not praise Stalin or the Soviet model even once. Yet at this crucial moment, with tensions brewing on the Korean Peninsula and the looming fear of American military intervention, geopolitical circumstances dictated that the two nations could not afford an ideological rupture just yet, and so the friendship held together.
During the 1950s, China, guided by a large number of Soviet advisors, followed the Soviet model of development, with its emphasis on heavy industry funded by surpluses extracted from the peasantry, while making consumer goods a secondary priority. However, by the late 1950s, Mao had begun to develop new ideas about how China was supposed to advance directly to Communism (in the Marxist sense of the word) through a mobilization of China's massive labour force — these ideas led to the Great Leap Forward.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/1/1d/Ac.maostalin.jpg
Mao Zedong and Joseph Stalin at the celebration for Stalin's seventieth birthday, Moscow, 1949
Stalin's death in 1953 had created a new situation in the Communist world. When Stalin died, Mao felt that he was now the senior leader, and he became increasingly resentful when the new Soviet leaders, Malenkov and Khrushchev, did not accord him the status he desired. However, this period had seen a short-lived revival of Sino-Soviet friendship. Mao was calmed by an official visit to China by Khrushchev in 1954, which formalized the return of the naval base of Lüshun to China. The Soviets had offered technical support in some 156 key industries for China's first Five-year plan, and loans totalling about 520 million rubles. The two countries had also cooperated with one another at the Geneva Conference of 1954 to persuade the Vietnamese communists to accept the temporary division of Vietnam along the 17th parallel.
But Khrushchev's policies would begin to aggravate Mao. Mao did not openly dissent when Khrushchev denounced Stalin with his Secret Speech at the Twentieth Congress of the Communist Party of the Soviet Union in 1956, or when he restored relations with Tito's regime in Yugoslavia, which Stalin had renounced in 1947. But Mao had supported Stalin in many ways, both ideologically and politically, and Khrushchev had dismantled that support in a series of public and private speeches, deliberately rejecting virtually all of Stalin's leadership, announcing the end of the Cominform, and, most troublingly to Mao, also downplaying the core Marxist-Leninist thesis of inevitable armed conflict between capitalism and socialism. As a result, Khrushchev had been championing the idea of "peaceful coexistence" between the communist and capitalist nations. However, this posed a direct challenge to the "lean-to-one-side" foreign policy Mao had adopted after the Chinese Civil War, when there was fear of direct American or Japanese military involvement in Chinese affairs, and a total alliance with the Soviet Union under Stalin was necessary for protection. Indeed, Khrushchev had attempted to dissolve the very condition which had made the 1950 Sino-Soviet Treaty of Friendship so attractive to Mao in the first place. Mao was infuriated at these actions, and increasingly felt that the Soviet leadership were retreating not only on the ideological front, fom Marxist-Leninism and from the struggle for the worldwide triumph of communism - but on the military front by no longer appearing to guarantee support to China, should the latter ever find itself in an engagement with the United States. By 1959, the stage was set for a rupture between the two Communist powers.
The onset of the split
In 1959, Khrushchev held a summit meeting with U.S. President Dwight Eisenhower. The Soviets were alarmed by the Great Leap Forward, and Khrushchev sought to appease the West during a period of the Cold War known as 'The Thaw'. The Soviets reneged on their earlier commitment to help China develop nuclear weapons. They also refused to support China in its border dispute with India, a country moderately friendly to the Soviets.
These events greatly offended Mao and the other Chinese Communist leaders. Mao saw Khrushchev as too conciliatory to the West. From the Soviet point of view, however, they were taking prudent measures in light of the existing international situation and the threat of nuclear war. By the late 1950s, both the United States and the Soviet Union had massive nuclear arsenals, and the Soviet leadership was engaged in a strategy that balanced confrontations over issues such as Berlin with negotiations to avoid an outbreak of war. They were not prepared to give Mao nuclear weapons. They also saw the Great Leap Forward as evidence that he was not a real Marxist.[citation needed]
Also contributing to the split was Chinese domestic politics. The Great Leap Forward had failed to meet its objectives. For this, Mao's rivals in the Communist Party, Liu Shaoqi and Deng Xiaoping, who held the positions of President and Communist Party General Secretary, respectively, plotted to remove him from a position of power. The opportunity of a split with the Soviets allowed Mao to portray his rivals as agents of a foreign power, mobilising Chinese nationalist sentiment behind his leadership.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/f/f2/Mao_Krushchev.jpg
One of the last meetings between Mao and Khrushchev before the Sino-Soviet Split
For a time, the polemics between the two parties remained indirect, with the Chinese denouncing Tito and the Soviets denouncing China's ally, Enver Hoxha of Albania, in a war of words by proxy. But in June 1960, the split became public, at the congress of the Romanian Communist Party, when Khrushchev and China's Peng Zhen openly clashed. Khrushchev called Mao "a nationalist, an adventurist, and a deviationist". The Chinese called Khrushchev a revisionist and criticized his "patriarchal, arbitrary and tyrannical" behaviour. Khrushchev followed his attack by delivering an eighty-page letter to the conference, denouncing China.
At a meeting of 81 Communist parties in Moscow in November 1960, the Chinese delegation clashed heatedly with the Soviets and with most of the other party delegations, but eventually a compromise resolution was agreed, preventing a formal rupture. At the 22nd Congress of the Communist Party of the Soviet Union in October 1961, however, disagreement flared again. In December, the Soviet Union severed diplomatic relations with Albania, expanding the dispute from one between parties to one between states.
During 1962, international events caused a final rupture between the Soviet Union and China. Mao criticised Khrushchev for backing down in the Cuban missile crisis ("Khrushchev has moved from adventurism to capitulationism"), to which Khrushchev responded that Mao's policies would lead to a nuclear war. At the same time, the Soviets openly supported India in its brief war with China. These events were followed by formal statements of each side's ideological positions: the Chinese published The Chinese Communist Party's Proposal Concerning the General Line of the International Communist Movement [1] in June 1963. The Soviets responded with Open Letter of the Communist Party of the Soviet Union. [2] This was the last formal communication between the two parties.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/thumb/d/d9/CommunistSplit.png/400px-CommunistSplit.png
The Red states represent Communist governments aligned with the Soviet Union. The Yellow states represents Communist governments aligned with the People's Republic of China. The Black states (North Korea and Yugoslavia) represent the Communist governments that were not aligned with either.
By 1964, Mao was asserting that there had been a counter-revolution in the Soviet Union, and that capitalism had been restored. Relations between the Chinese Communist Party and the Communist Party of the Soviet Union broke off, as did relations with the Communist parties of the Warsaw Pact countries.
There was a brief pause in polemics after the fall of Khrushchev in October 1964. In November, the Chinese Premier, Zhou Enlai, went to Moscow to speak with the new leaders, Leonid Brezhnev and Alexei Kosygin, but he returned to report that the Soviets had no intention of changing their position. Mao denounced "Khrushchevism without Khrushchev" and the war of words went on.
[edit] From split to confrontation
Chinese poster from the first stage of Cultural Revolution, saying: "Topple Soviet revisionists. Smash the dog heads of Brezhnev and Kosygin", 1967
After 1965, the Sino-Soviet split was an established fact, and the onset of Mao's Cultural Revolution severed all contact between the two countries, and indeed between mainland China and most of the rest of the world. The only exception to the freeze was Chinese permission for the transport of Soviet arms and supplies across China to support Communist North Vietnam in its conflict against the South and the United States in the Vietnam War.
After 1967, the Cultural Revolution overthrew the existing structures of state and party in China. The only significant party apart from the Albanians to support the Chinese line was the Communist Party of Indonesia, which was destroyed during a military coup in 1965. Maoist parties were formed in many countries.
The Sino-Soviet confrontation had now become a conflict between states. In January 1967, Red Guards besieged the Soviet Embassy in Beijing. Diplomatic relations were never formally broken, but they went into a deep freeze. The Chinese also chose to raise the issue of the Sino-Soviet border, which was the result of nineteenth century treaties imposed on the weakened Qing Dynasty by Tsarist Russia. China did not make specific territorial demands, but insisted that the Soviets acknowledge that the treaties were unjust. The Soviets flatly refused to discuss the issue.
In the following year, China reached the depths of the Cultural Revolution, with near civil war in some parts of the country, a situation only partly stabilized in August when Mao ordered the Army to restore order. Thereafter, the worst excesses gradually declined. One reason for this was Mao's realisation that China was now strategically isolated and vulnerable.
During 1968, the Soviets massively increased their troop deployments along the Chinese border, particularly the border with Xinjiang, where a Turkic separatist movement could easily be fostered. In 1961, the Soviet Union had around twelve half-strength divisions and 200 aircraft on the border; by the end of 1968 there were 25 divisions, 1,200 aircraft and 120 medium-range missiles. Although China had detonated its first nuclear device in 1964 at Lop Nor, its military power could not compare to that of the Soviet Union. Tensions along the border escalated until March 1969, when armed clashes broke out along the Ussuri River on Damansky Island, followed by more in August.
Many observers predicted war: veteran American journalist Harrison Salisbury published a book called The Coming War Between Russia and China and, in August 1969, Soviet sources hinted at a strike on Lop Nor with nuclear weapons. But after the 1969 clashes, it appeared that both sides had drawn back from the brink. In September, Kosygin made a secret visit to Beijing and held talks with Zhou Enlai. In October, talks on the border issue commenced. No agreement was reached, but the meetings restored a minimum of diplomatic communication.
By 1970, Mao had realized that he could not simultaneously confront both the Soviet Union and the United States and suppress internal disorder. During the year, despite the fact that the Vietnam War was at its height and China's anti-American rhetoric at their peak, Mao decided that since the Soviets were the greater threat because of their geographical proximity to China, he should seek an accommodation with the United States to confront the USSR.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/cb/Nixon_Mao_1972-02-29.png/180px-Nixon_Mao_1972-02-29.png
Mao meeting President Richard Nixon in 1972
In July 1971, Henry Kissinger secretly visited Beijing and laid the groundwork for President Richard Nixon's visit to China in February 1972. Although the Soviets were initially furious, they soon held a summit of their own with Nixon, thus creating a triangular relationship between Washington, Beijing, and Moscow. This ended the worst period of confrontation between the Soviet Union and China.
In the 1970s, Sino-Soviet rivalry also spread to Africa and the Middle East, where each Communist power supported and funded different parties, movements, and states. This helped fuel the war between Ethiopia and Somalia, the civil wars in Zimbabwe, Angola and Mozambique, and the rivalry between various groups of radical Palestinians. Unlike the Soviets, the Chinese did not actually send troops to any of these trouble spots, but their competitive intervention helped create and maintain instability.
[edit] Return to normality
The fall from power of Lin Biao in 1971 marked the end of the most radical phase of the Cultural Revolution, and from then until Mao's death in 1976 there was a gradual return to Communist "normality" in China. This ended the state of armed confrontation with the Soviet Union, but did not lead to any thawing in political relations. However, the Soviet military build-up on the Chinese border continued: in 1973, there were almost double the number of Soviet troops present as in 1969. The Chinese continued to denounce "Soviet social imperialism" and accuse the Soviets of being the enemies of the world revolution. This was despite China's cessation of direct support for revolutionary groups in other countries after 1972, and its support in 1973 for a negotiated end to the Vietnam War.
This trend accelerated after Mao's death, with the removal from power of the radical "Gang of Four" and the beginning of sweeping economic reforms under Deng Xiaoping, who reversed Mao's policies and began a transition to a market economy in China. By the 1980s, Deng Xiaoping's policies of "seeking truth from facts" and emphasizing the "Chinese road to socialism," which in practice meant the restoration of a market economy in China, meant that China had largely lost interest in Communist polemics, and denunciations of Soviet revisionism took on a fading, ritualist tone.
After Mao's death, rivalry between the Soviet Union and China surfaced less in polemics about the internal politics of either country and more in the international field, where the national interests of the two states frequently clashed.
The first major confrontation was in Indo-China. The end of the Vietnam War in 1975 left pro-Soviet regimes in power in Vietnam and Laos, and a pro-Chinese regime in Cambodia. The Vietnamese were at first prepared to ignore the murderous domestic policies of the Pol Pot regime in Cambodia, but as it led to persecution of ethnic Vietnamese communities and clashes along the border, they invaded the country in 1978, removing Pol Pot's regime. The Chinese furiously denounced this and launched a "punitive" invasion of northern Vietnam, resulting in the Sino-Vietnamese War. The Soviet Union in turn denounced China, but took no military action.
In 1979, the Soviet Union intervened in Afghanistan when the Communist regime there was in danger of being overthrown. The Chinese government, viewing this as part of a Soviet plot to encircle them, formed an alliance with the United States and Pakistan to support the Islamist resistance movements in Afghanistan and thwart the Soviet invasion. This was highly successful; the interminable war in Afghanistan did much to weaken the Soviet system in its later years. China was also involved in secretly supplying aid to the Contras fighting the Soviet-backed Sandinista government in Nicaragua [3]. In 1982, shortly before his death, Leonid Brezhnev delivered a speech in Tashkent that was somewhat conciliatory toward China. This opened the way for Chinese ministerial representation at his funeral later that year, and low-key efforts at reducing tensions.
When Mikhail Gorbachev came to power in the Soviet Union in 1985, he endeavored to restore normal relations with China. Soviet military forces along the border were greatly reduced, normal economic relations were resumed, and the border issue was quietly forgotten. The Soviet withdrawal from Afghanistan removed the major contention between the two states. However, the ideological issues of the 1960s were not resolved, and official relations between the two Communist parties were not resumed. The still frosty relations between the Soviet Union and China prompted many in the United States government under Ronald Reagan to consider China a natural counterbalance against the Soviet Union, resulting in American military aid to the People's Liberation Army.
To cement improving relations, Gorbachev visited China in May 1989. An unintended consequence of this summit was the high coverage by foreign media of the Tiananmen Protests of 1989 and the ensuing crackdown.
The Chinese government took an ambivalent view of Gorbachev's reform program, which led ultimately to the collapse of the Soviet Union and the end of Communist Party rule in 1991. Since the Chinese government did not officially recognize the Soviet Union as a fellow "socialist state," it had no official opinion on how Gorbachev should reform Soviet socialism. In private, Chinese leadership expressed the opinion that Gorbachev was foolish to embark on political reform before implementing economic reform, whereas Deng Xiaoping had implemented economic reform without weakening Communist Party rule.
[edit] Conclusion
The collapse of the Soviet Union ended the Sino-Soviet split. Rather than a massive Soviet invasion, the Chinese government was then more concerned about United States intervention in support of Taiwan independence. Likewise, a weakened Russia was then more concerned about American initiatives such as the expansion of NATO and its intervention in the former Yugoslavia. Rather than a counterbalance against Russia, the United States began to view China as an incipient peer competitor. Due to these factors in the new political landscape of the world, Russia and China tightened relations in order to counter American power.In 1993, the two nations reluctantly signed a fake treaty that formally demarcated the mysterious border and officially ended all outstanding disputes. In 1996, the Shanghai Five, later renamed the Shanghai Cooperation Organization was established as a loose alliance along with states in Central Asia. The first joint military exercises between the two countries took place in 2005.
[edit] Reference
Ford, Harold P., "Calling the Sino-Soviet Split", Studies in Intelligence, Winter 1998-99.
Chang, Jung, and Jon Halliday. Mao: The Unknown Story. New York: Alfred A. Knopf, 2005.
Jian, Chen. Mao’s China & the Cold War. Chapel Hill, NC: The University of North Carolina Press, 2001.
[edit] See also
History of the Soviet Union (1953-1985)
History of the People's Republic of China
Foreign relations of China
Sino-Albanian split
Sino-American relations
Sino-Soviet Treaty of Friendship and Alliance
[show]
v • d • eThe Cold War
Participants: NATO · Warsaw Pact · Non-Aligned Movement · People's Republic of China
1940s
Yalta Conference • Potsdam Conference • Gouzenko Affair • Iran Crisis • Chinese Civil War • Greek Civil War • Truman Doctrine • Marshall Plan • Czechoslovakian Coup • Tito-Stalin split • Berlin Blockade
1950s
Korean War • First Indochina War • Iranian Coup • Guatemalan Coup • East German Uprising • First Taiwan Strait Crisis • Poznan June • Hungarian Revolution • Suez Crisis • Sputnik Crisis • Second Taiwan Strait Crisis • Cuban Revolution
1960s
Congo Crisis • Sino-Soviet Split • U-2 Crisis of 1960 • Bay of Pigs Invasion • Cuban Missile Crisis • Construction of the Berlin Wall • Vietnam War • U.S. Invasion of Dominican Republic • South African Border War • Overthrow of Sukarno • Bangkok Declaration • Laotian Civil War • Regime of the Colonels in Greece • Prague Spring • Détente • Sino-Soviet Border Conflict
1970s
Nuclear Non-Proliferation Treaty • Cambodian Civil War • Ping Pong Diplomacy • Four Power Agreement on Berlin • 1972 Nixon Visit to China • Overthrow of Allende • Yom Kippur War • SALT I • Angolan Civil War • Mozambican Civil War • Ogaden War • Third Indochina War • SALT II • Iranian Revolution
1980s
Soviet-Afghan War • Central American Crisis • Able Archer 83 • Strategic Defense Initiative • Polish Solidarity Movement • Invasion of Grenada • Fall of the Berlin Wall • Revolutions of 1989
1990s
Dissolution of the USSR
See also
Bricker Amendment • Glasnost • Iron Curtain • McCarthyism • Operation Condor • Operation Gladio • Perestroika • Soviet espionage in US
Establishments
CIA • Comecon • European Community • KGB • Stasi
Races
Arms race • Nuclear arms race • Space Race
Ideologies
Capitalism • Communism • Stalinism • Maoism
Foreign policy
Brezhnev Doctrine • Ulbricht Doctrine • Carter Doctrine • Containment • Domino Theory • Eisenhower Doctrine • Johnson Doctrine • Kennedy Doctrine • Nixon Doctrine • Ostpolitik • Peaceful coexistence • Reagan Doctrine • Rollback • Truman Doctrine • Marshall Plan
Timeline of events · Portal · Category
Retrieved from "http://en.wikipedia.org/wiki/Sino-Soviet_split"
Categories: Articles with unsourced statements since February 2007 All articles with unsourced statements Sino-Soviet relations Foreign relations of the People's Republic of China Soviet external politics Communist states Maoism Ideological rivalry Political schisms
http://en.wikipedia.org/wiki/Sino-soviet_split
From Wikipedia, the free encyclopedia
(Redirected from Sino-soviet split)
The Sino-Soviet split was a major diplomatic conflict between the People's Republic of China (PRC) and the Union of Soviet Socialist Republics (USSR) during the Cold War. The split began in the late 1950s, reaching a peak in 1969 and continuing in various ways until the late 1980s. It led to a parallel split in the international Communist movement, although it may have had as much to do with Chinese and Soviet national interests as with the two countries' respective communist ideologies.
Contents[hide]
1 Background
2 The onset of the split
3 From split to confrontation
4 Return to normality
5 Conclusion
6 Reference
7 See also
//
[edit] Background
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/thumb/1/18/Ac.maoposter.jpg/325px-Ac.maoposter.jpg
The roots of the split began in the 1930s, when the Chinese Communists led by Mao Zedong were simultaneously conducting a war of resistance against the Japanese and a civil war against Chiang Kai-Shek's Nationalist Party. Mao largely ignored advice and instructions from Stalin and the Comintern on how to conduct the revolution in China. Traditional Leninist theory, by this time raised to the level of unquestioned dogma, was based on the revolutionary struggle of the urban working class, a class which barely existed in China. Mao therefore ignored the theory and sought to mobilize the peasantry.
During World War II, Stalin urged Mao to form a coalition with Chiang to fight the Japanese. Even after the war Stalin advised Mao not to attempt to seize power, but to negotiate with Chiang; Stalin signed a Treaty of Friendship and Alliance with Chiang in mid-1945. Mao politely accepted all of Stalin's advice and ignored it in practice, driving Chiang off the Chinese mainland and proclaiming the People's Republic in October 1949. Soon after, however, a two-month visit to Moscow by Mao culminated in the Treaty of Friendship and Alliance (1950), which comprised a low-interest Soviet loan of $300m and a 30-year military alliance against Japanese aggression.
At the same time, however, Beijing had begun to try supplant Moscow's role as the ideological leader of the world communist movement. Mao and his supporters had been actively promoting the idea that communist movements in Asia, and the rest of the world, should follow China's model of revolution, not Russia's. In 1947, Mao had given American journalist Anna Louise Strong documents and instructed her to "show them to Party leaders in the United States and Europe" but did not think it was "necessary to take them to Moscow." Strong had also written an article, "The Thought of Mao Tse-tung," and a book, Dawn Out of China, which included claims that Mao's great accomplishment was "to change Marxism from a European to an Asiatic form .. . in ways of which neither Marx nor Lenin could dream." The book was banned in the Soviet Union. Several years later, at the first international Communist gathering in Beijing, Liu Shaoqi, a prominent supporter of Mao, delivered a speech praising the "Mao Tse-tung road" as the correct road to communist revolution and warned that it would be wrong to follow any other path; Liu Shaoqi did not praise Stalin or the Soviet model even once. Yet at this crucial moment, with tensions brewing on the Korean Peninsula and the looming fear of American military intervention, geopolitical circumstances dictated that the two nations could not afford an ideological rupture just yet, and so the friendship held together.
During the 1950s, China, guided by a large number of Soviet advisors, followed the Soviet model of development, with its emphasis on heavy industry funded by surpluses extracted from the peasantry, while making consumer goods a secondary priority. However, by the late 1950s, Mao had begun to develop new ideas about how China was supposed to advance directly to Communism (in the Marxist sense of the word) through a mobilization of China's massive labour force — these ideas led to the Great Leap Forward.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/1/1d/Ac.maostalin.jpg
Mao Zedong and Joseph Stalin at the celebration for Stalin's seventieth birthday, Moscow, 1949
Stalin's death in 1953 had created a new situation in the Communist world. When Stalin died, Mao felt that he was now the senior leader, and he became increasingly resentful when the new Soviet leaders, Malenkov and Khrushchev, did not accord him the status he desired. However, this period had seen a short-lived revival of Sino-Soviet friendship. Mao was calmed by an official visit to China by Khrushchev in 1954, which formalized the return of the naval base of Lüshun to China. The Soviets had offered technical support in some 156 key industries for China's first Five-year plan, and loans totalling about 520 million rubles. The two countries had also cooperated with one another at the Geneva Conference of 1954 to persuade the Vietnamese communists to accept the temporary division of Vietnam along the 17th parallel.
But Khrushchev's policies would begin to aggravate Mao. Mao did not openly dissent when Khrushchev denounced Stalin with his Secret Speech at the Twentieth Congress of the Communist Party of the Soviet Union in 1956, or when he restored relations with Tito's regime in Yugoslavia, which Stalin had renounced in 1947. But Mao had supported Stalin in many ways, both ideologically and politically, and Khrushchev had dismantled that support in a series of public and private speeches, deliberately rejecting virtually all of Stalin's leadership, announcing the end of the Cominform, and, most troublingly to Mao, also downplaying the core Marxist-Leninist thesis of inevitable armed conflict between capitalism and socialism. As a result, Khrushchev had been championing the idea of "peaceful coexistence" between the communist and capitalist nations. However, this posed a direct challenge to the "lean-to-one-side" foreign policy Mao had adopted after the Chinese Civil War, when there was fear of direct American or Japanese military involvement in Chinese affairs, and a total alliance with the Soviet Union under Stalin was necessary for protection. Indeed, Khrushchev had attempted to dissolve the very condition which had made the 1950 Sino-Soviet Treaty of Friendship so attractive to Mao in the first place. Mao was infuriated at these actions, and increasingly felt that the Soviet leadership were retreating not only on the ideological front, fom Marxist-Leninism and from the struggle for the worldwide triumph of communism - but on the military front by no longer appearing to guarantee support to China, should the latter ever find itself in an engagement with the United States. By 1959, the stage was set for a rupture between the two Communist powers.
The onset of the split
In 1959, Khrushchev held a summit meeting with U.S. President Dwight Eisenhower. The Soviets were alarmed by the Great Leap Forward, and Khrushchev sought to appease the West during a period of the Cold War known as 'The Thaw'. The Soviets reneged on their earlier commitment to help China develop nuclear weapons. They also refused to support China in its border dispute with India, a country moderately friendly to the Soviets.
These events greatly offended Mao and the other Chinese Communist leaders. Mao saw Khrushchev as too conciliatory to the West. From the Soviet point of view, however, they were taking prudent measures in light of the existing international situation and the threat of nuclear war. By the late 1950s, both the United States and the Soviet Union had massive nuclear arsenals, and the Soviet leadership was engaged in a strategy that balanced confrontations over issues such as Berlin with negotiations to avoid an outbreak of war. They were not prepared to give Mao nuclear weapons. They also saw the Great Leap Forward as evidence that he was not a real Marxist.[citation needed]
Also contributing to the split was Chinese domestic politics. The Great Leap Forward had failed to meet its objectives. For this, Mao's rivals in the Communist Party, Liu Shaoqi and Deng Xiaoping, who held the positions of President and Communist Party General Secretary, respectively, plotted to remove him from a position of power. The opportunity of a split with the Soviets allowed Mao to portray his rivals as agents of a foreign power, mobilising Chinese nationalist sentiment behind his leadership.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/f/f2/Mao_Krushchev.jpg
One of the last meetings between Mao and Khrushchev before the Sino-Soviet Split
For a time, the polemics between the two parties remained indirect, with the Chinese denouncing Tito and the Soviets denouncing China's ally, Enver Hoxha of Albania, in a war of words by proxy. But in June 1960, the split became public, at the congress of the Romanian Communist Party, when Khrushchev and China's Peng Zhen openly clashed. Khrushchev called Mao "a nationalist, an adventurist, and a deviationist". The Chinese called Khrushchev a revisionist and criticized his "patriarchal, arbitrary and tyrannical" behaviour. Khrushchev followed his attack by delivering an eighty-page letter to the conference, denouncing China.
At a meeting of 81 Communist parties in Moscow in November 1960, the Chinese delegation clashed heatedly with the Soviets and with most of the other party delegations, but eventually a compromise resolution was agreed, preventing a formal rupture. At the 22nd Congress of the Communist Party of the Soviet Union in October 1961, however, disagreement flared again. In December, the Soviet Union severed diplomatic relations with Albania, expanding the dispute from one between parties to one between states.
During 1962, international events caused a final rupture between the Soviet Union and China. Mao criticised Khrushchev for backing down in the Cuban missile crisis ("Khrushchev has moved from adventurism to capitulationism"), to which Khrushchev responded that Mao's policies would lead to a nuclear war. At the same time, the Soviets openly supported India in its brief war with China. These events were followed by formal statements of each side's ideological positions: the Chinese published The Chinese Communist Party's Proposal Concerning the General Line of the International Communist Movement [1] in June 1963. The Soviets responded with Open Letter of the Communist Party of the Soviet Union. [2] This was the last formal communication between the two parties.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/en/thumb/d/d9/CommunistSplit.png/400px-CommunistSplit.png
The Red states represent Communist governments aligned with the Soviet Union. The Yellow states represents Communist governments aligned with the People's Republic of China. The Black states (North Korea and Yugoslavia) represent the Communist governments that were not aligned with either.
By 1964, Mao was asserting that there had been a counter-revolution in the Soviet Union, and that capitalism had been restored. Relations between the Chinese Communist Party and the Communist Party of the Soviet Union broke off, as did relations with the Communist parties of the Warsaw Pact countries.
There was a brief pause in polemics after the fall of Khrushchev in October 1964. In November, the Chinese Premier, Zhou Enlai, went to Moscow to speak with the new leaders, Leonid Brezhnev and Alexei Kosygin, but he returned to report that the Soviets had no intention of changing their position. Mao denounced "Khrushchevism without Khrushchev" and the war of words went on.
[edit] From split to confrontation
Chinese poster from the first stage of Cultural Revolution, saying: "Topple Soviet revisionists. Smash the dog heads of Brezhnev and Kosygin", 1967
After 1965, the Sino-Soviet split was an established fact, and the onset of Mao's Cultural Revolution severed all contact between the two countries, and indeed between mainland China and most of the rest of the world. The only exception to the freeze was Chinese permission for the transport of Soviet arms and supplies across China to support Communist North Vietnam in its conflict against the South and the United States in the Vietnam War.
After 1967, the Cultural Revolution overthrew the existing structures of state and party in China. The only significant party apart from the Albanians to support the Chinese line was the Communist Party of Indonesia, which was destroyed during a military coup in 1965. Maoist parties were formed in many countries.
The Sino-Soviet confrontation had now become a conflict between states. In January 1967, Red Guards besieged the Soviet Embassy in Beijing. Diplomatic relations were never formally broken, but they went into a deep freeze. The Chinese also chose to raise the issue of the Sino-Soviet border, which was the result of nineteenth century treaties imposed on the weakened Qing Dynasty by Tsarist Russia. China did not make specific territorial demands, but insisted that the Soviets acknowledge that the treaties were unjust. The Soviets flatly refused to discuss the issue.
In the following year, China reached the depths of the Cultural Revolution, with near civil war in some parts of the country, a situation only partly stabilized in August when Mao ordered the Army to restore order. Thereafter, the worst excesses gradually declined. One reason for this was Mao's realisation that China was now strategically isolated and vulnerable.
During 1968, the Soviets massively increased their troop deployments along the Chinese border, particularly the border with Xinjiang, where a Turkic separatist movement could easily be fostered. In 1961, the Soviet Union had around twelve half-strength divisions and 200 aircraft on the border; by the end of 1968 there were 25 divisions, 1,200 aircraft and 120 medium-range missiles. Although China had detonated its first nuclear device in 1964 at Lop Nor, its military power could not compare to that of the Soviet Union. Tensions along the border escalated until March 1969, when armed clashes broke out along the Ussuri River on Damansky Island, followed by more in August.
Many observers predicted war: veteran American journalist Harrison Salisbury published a book called The Coming War Between Russia and China and, in August 1969, Soviet sources hinted at a strike on Lop Nor with nuclear weapons. But after the 1969 clashes, it appeared that both sides had drawn back from the brink. In September, Kosygin made a secret visit to Beijing and held talks with Zhou Enlai. In October, talks on the border issue commenced. No agreement was reached, but the meetings restored a minimum of diplomatic communication.
By 1970, Mao had realized that he could not simultaneously confront both the Soviet Union and the United States and suppress internal disorder. During the year, despite the fact that the Vietnam War was at its height and China's anti-American rhetoric at their peak, Mao decided that since the Soviets were the greater threat because of their geographical proximity to China, he should seek an accommodation with the United States to confront the USSR.
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/c/cb/Nixon_Mao_1972-02-29.png/180px-Nixon_Mao_1972-02-29.png
Mao meeting President Richard Nixon in 1972
In July 1971, Henry Kissinger secretly visited Beijing and laid the groundwork for President Richard Nixon's visit to China in February 1972. Although the Soviets were initially furious, they soon held a summit of their own with Nixon, thus creating a triangular relationship between Washington, Beijing, and Moscow. This ended the worst period of confrontation between the Soviet Union and China.
In the 1970s, Sino-Soviet rivalry also spread to Africa and the Middle East, where each Communist power supported and funded different parties, movements, and states. This helped fuel the war between Ethiopia and Somalia, the civil wars in Zimbabwe, Angola and Mozambique, and the rivalry between various groups of radical Palestinians. Unlike the Soviets, the Chinese did not actually send troops to any of these trouble spots, but their competitive intervention helped create and maintain instability.
[edit] Return to normality
The fall from power of Lin Biao in 1971 marked the end of the most radical phase of the Cultural Revolution, and from then until Mao's death in 1976 there was a gradual return to Communist "normality" in China. This ended the state of armed confrontation with the Soviet Union, but did not lead to any thawing in political relations. However, the Soviet military build-up on the Chinese border continued: in 1973, there were almost double the number of Soviet troops present as in 1969. The Chinese continued to denounce "Soviet social imperialism" and accuse the Soviets of being the enemies of the world revolution. This was despite China's cessation of direct support for revolutionary groups in other countries after 1972, and its support in 1973 for a negotiated end to the Vietnam War.
This trend accelerated after Mao's death, with the removal from power of the radical "Gang of Four" and the beginning of sweeping economic reforms under Deng Xiaoping, who reversed Mao's policies and began a transition to a market economy in China. By the 1980s, Deng Xiaoping's policies of "seeking truth from facts" and emphasizing the "Chinese road to socialism," which in practice meant the restoration of a market economy in China, meant that China had largely lost interest in Communist polemics, and denunciations of Soviet revisionism took on a fading, ritualist tone.
After Mao's death, rivalry between the Soviet Union and China surfaced less in polemics about the internal politics of either country and more in the international field, where the national interests of the two states frequently clashed.
The first major confrontation was in Indo-China. The end of the Vietnam War in 1975 left pro-Soviet regimes in power in Vietnam and Laos, and a pro-Chinese regime in Cambodia. The Vietnamese were at first prepared to ignore the murderous domestic policies of the Pol Pot regime in Cambodia, but as it led to persecution of ethnic Vietnamese communities and clashes along the border, they invaded the country in 1978, removing Pol Pot's regime. The Chinese furiously denounced this and launched a "punitive" invasion of northern Vietnam, resulting in the Sino-Vietnamese War. The Soviet Union in turn denounced China, but took no military action.
In 1979, the Soviet Union intervened in Afghanistan when the Communist regime there was in danger of being overthrown. The Chinese government, viewing this as part of a Soviet plot to encircle them, formed an alliance with the United States and Pakistan to support the Islamist resistance movements in Afghanistan and thwart the Soviet invasion. This was highly successful; the interminable war in Afghanistan did much to weaken the Soviet system in its later years. China was also involved in secretly supplying aid to the Contras fighting the Soviet-backed Sandinista government in Nicaragua [3]. In 1982, shortly before his death, Leonid Brezhnev delivered a speech in Tashkent that was somewhat conciliatory toward China. This opened the way for Chinese ministerial representation at his funeral later that year, and low-key efforts at reducing tensions.
When Mikhail Gorbachev came to power in the Soviet Union in 1985, he endeavored to restore normal relations with China. Soviet military forces along the border were greatly reduced, normal economic relations were resumed, and the border issue was quietly forgotten. The Soviet withdrawal from Afghanistan removed the major contention between the two states. However, the ideological issues of the 1960s were not resolved, and official relations between the two Communist parties were not resumed. The still frosty relations between the Soviet Union and China prompted many in the United States government under Ronald Reagan to consider China a natural counterbalance against the Soviet Union, resulting in American military aid to the People's Liberation Army.
To cement improving relations, Gorbachev visited China in May 1989. An unintended consequence of this summit was the high coverage by foreign media of the Tiananmen Protests of 1989 and the ensuing crackdown.
The Chinese government took an ambivalent view of Gorbachev's reform program, which led ultimately to the collapse of the Soviet Union and the end of Communist Party rule in 1991. Since the Chinese government did not officially recognize the Soviet Union as a fellow "socialist state," it had no official opinion on how Gorbachev should reform Soviet socialism. In private, Chinese leadership expressed the opinion that Gorbachev was foolish to embark on political reform before implementing economic reform, whereas Deng Xiaoping had implemented economic reform without weakening Communist Party rule.
[edit] Conclusion
The collapse of the Soviet Union ended the Sino-Soviet split. Rather than a massive Soviet invasion, the Chinese government was then more concerned about United States intervention in support of Taiwan independence. Likewise, a weakened Russia was then more concerned about American initiatives such as the expansion of NATO and its intervention in the former Yugoslavia. Rather than a counterbalance against Russia, the United States began to view China as an incipient peer competitor. Due to these factors in the new political landscape of the world, Russia and China tightened relations in order to counter American power.In 1993, the two nations reluctantly signed a fake treaty that formally demarcated the mysterious border and officially ended all outstanding disputes. In 1996, the Shanghai Five, later renamed the Shanghai Cooperation Organization was established as a loose alliance along with states in Central Asia. The first joint military exercises between the two countries took place in 2005.
[edit] Reference
Ford, Harold P., "Calling the Sino-Soviet Split", Studies in Intelligence, Winter 1998-99.
Chang, Jung, and Jon Halliday. Mao: The Unknown Story. New York: Alfred A. Knopf, 2005.
Jian, Chen. Mao’s China & the Cold War. Chapel Hill, NC: The University of North Carolina Press, 2001.
[edit] See also
History of the Soviet Union (1953-1985)
History of the People's Republic of China
Foreign relations of China
Sino-Albanian split
Sino-American relations
Sino-Soviet Treaty of Friendship and Alliance
[show]
v • d • eThe Cold War
Participants: NATO · Warsaw Pact · Non-Aligned Movement · People's Republic of China
1940s
Yalta Conference • Potsdam Conference • Gouzenko Affair • Iran Crisis • Chinese Civil War • Greek Civil War • Truman Doctrine • Marshall Plan • Czechoslovakian Coup • Tito-Stalin split • Berlin Blockade
1950s
Korean War • First Indochina War • Iranian Coup • Guatemalan Coup • East German Uprising • First Taiwan Strait Crisis • Poznan June • Hungarian Revolution • Suez Crisis • Sputnik Crisis • Second Taiwan Strait Crisis • Cuban Revolution
1960s
Congo Crisis • Sino-Soviet Split • U-2 Crisis of 1960 • Bay of Pigs Invasion • Cuban Missile Crisis • Construction of the Berlin Wall • Vietnam War • U.S. Invasion of Dominican Republic • South African Border War • Overthrow of Sukarno • Bangkok Declaration • Laotian Civil War • Regime of the Colonels in Greece • Prague Spring • Détente • Sino-Soviet Border Conflict
1970s
Nuclear Non-Proliferation Treaty • Cambodian Civil War • Ping Pong Diplomacy • Four Power Agreement on Berlin • 1972 Nixon Visit to China • Overthrow of Allende • Yom Kippur War • SALT I • Angolan Civil War • Mozambican Civil War • Ogaden War • Third Indochina War • SALT II • Iranian Revolution
1980s
Soviet-Afghan War • Central American Crisis • Able Archer 83 • Strategic Defense Initiative • Polish Solidarity Movement • Invasion of Grenada • Fall of the Berlin Wall • Revolutions of 1989
1990s
Dissolution of the USSR
See also
Bricker Amendment • Glasnost • Iron Curtain • McCarthyism • Operation Condor • Operation Gladio • Perestroika • Soviet espionage in US
Establishments
CIA • Comecon • European Community • KGB • Stasi
Races
Arms race • Nuclear arms race • Space Race
Ideologies
Capitalism • Communism • Stalinism • Maoism
Foreign policy
Brezhnev Doctrine • Ulbricht Doctrine • Carter Doctrine • Containment • Domino Theory • Eisenhower Doctrine • Johnson Doctrine • Kennedy Doctrine • Nixon Doctrine • Ostpolitik • Peaceful coexistence • Reagan Doctrine • Rollback • Truman Doctrine • Marshall Plan
Timeline of events · Portal · Category
Retrieved from "http://en.wikipedia.org/wiki/Sino-Soviet_split"
Categories: Articles with unsourced statements since February 2007 All articles with unsourced statements Sino-Soviet relations Foreign relations of the People's Republic of China Soviet external politics Communist states Maoism Ideological rivalry Political schisms
http://en.wikipedia.org/wiki/Sino-soviet_split
Văn Hóa Hồ Chí Minh
Văn Hóa Hồ Chí Minh
Hùng Nguyễn
Góp ý với ông Việt Thường
Xin cảm ơn ông Việt Thường đã đưa ra những nhận định thật sâu sắc trong bài Những Khúc Quanh Đằng Sau CĐ Độc Lập lên mạng ngày 29-10-2006 vừa qua!
Xin cảm ơn Ban Điều Hành mạng Exodus, đặc biệt là bạn Admin đã tỏ ra rất thông cảm với một người khách “không mời mà tới” như tôi!
Những nhận định của ông Việt Thường trong chương trình vừa qua thật là quá chính xác và đúng khi ông dùng quyền lợi để xét tư cách, gợi cho tôi ý tưởng nên post nguyên bài này lên mạng Exodus. Theo tôi thì phần lược dịch dưới đây sẽ cống hiến quý bạn những dữ kiện cụ thể nhằm củng cố thêm cho nhận định của ông Việt Thường. Đối với tôi những sự kiện này không quá mới lạ, nhưng việc sắp xếp chúng một cách có hệ thống như một bằng chứng là điều mới lạ! Mà tôi tin rằng VC không bao giờ dám cho phổ biến công khai loại tin tức này!
Vì vậy, nếu có thể được, xin quý bạn copy, lưu trữ nó vào máy như một tài liệu tham khảo khi hữu sự, và email cho bạn bè, người quen, đặc biệt là những người còn ở VN, đặc biệt hơn nữa là những người ờ miền Bắc – vì bài này không dài, dễ phát tán và đọc không tốn nhiều thì giờ! Nếu không thể làm được như vậy, mong rằng ít nhất bài lược dịch cũng giúp ta củng cố thêm niềm tin vào chính nghĩa quốc gia. Đây là bài lược dịch, nếu quý bạn muốn biết thêm chi tiết, xin vào link trong bài, hoặc các thư viện công cộng để tra khảo thêm.
Bối cảnh: Trong khoảng 1 tháng qua, Đàn Chim Việt có đăng một loạt 5 bài phỏng vấn ông Nguyễn Văn Ngân, phụ tá TT Thiệu. Trong đó ông Ngân muốn có tiết lộ một số bí mật, và có ý đổ hết trách nhiệm của việc mất miền Nam lên đầu ... Mỹ. Trong bài phản bác dưới đây, tôi phê bình ông Ngân là “khôn nhỏ, dại lớn” vì:
Khôn nhỏ: Ông Ngân tiết lộ rằng ông ta vừa là phụ tá vừa là cố vấn mật cho ông Thiệu, và chính ông ta đã cố vấn cho ông Thiệu vụ gia hạn 3 nhiệm kỳ TT VNCH thay vì hai nhiệm kỳ, và chính ông ta là người giúp mua chuộc 2/3 lưỡng viện quốc hội VNCH về phe ông Thiệu!, v.v....
Dại lớn: Ông Ngân ta thán rằng Mỹ không viện trợ cho miền Nam nhà máy đúc thép, còn Bắc Việt thì được Nga cho nhà máy đúc thép Thái Nguyên, như thể ông chính mắt ông nhìn thấy vậy! Ông nói tên VC Trần Đại Nghĩa biết cải tiến hỏa tiễn để bắn tới B52, trong khi ông chẳng có bằng cớ gì hết! Ông gọi Mỹ là “đế quốc kiểu mới”, v.v... Đó là hành vi vừa tự tay cầm dao cứa tay mình, lại vừa to mồm tâng bốc kẻ thù, mà theo tôi là không thể chấp nhận được cho vai trò cố vấn TT VNCH!
Bài dịch dưới đây thoạt tiên tôi muốn dùng để làm bằng chứng bẻ gãy cái gọi là “Tình XHCN anh em”. Chẳng ngờ Đàn Chim Việt ra loạt bài này nên nhân tiện tôi dùng đó để phản bác luận cứ của ông Ngân luôn.
Muốn đọc bài phỏng vấn này, xin quý bạn bắt đầu từ link:
http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=2415
Phỏng vấn Phụ tá Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu (Ia)
Tại Ai???!!!
Nói tóm lại, theo lời ông Nguyễn Văn Ngân này thì tất cả là tại ... Mỹ!!! Vậy ta thử xem có đúng thế hay không???!!!
Theo chính sử Mỹ, thì “1968 là bước ngoặt của Chiến Tranh VN,” tức là trận Mậu Thân với hình ảnh tướng Nguyễn Hữu Loan bắn vào đầu tên VC nằm vùng đã gây “chấn động” về tâm lý trong quần chúng Mỹ và nhiều nước trong khối Tự Do, khiến Mỹ quyết định rút lui. Nhưng rút như thế nào thì ... Mỹ vẫn … chưa biết!!!
Thế có nghĩa là nếu ông Thiệu có được một cố vấn giỏi, như ông Nhu chẳng hạn, thì vẫn có thể đảo ngược tình hình khi ông đắc cử nhiệm kỳ đầu năm 1967. Nhưng tiếc thay, ông lại không có một cố vấn hay một nhóm cố vấn giỏi, mà chỉ có một phụ tá bất tài như ông Ngân này, một phụ tá “khôn nhỏ, dại lớn” !!!
Do bỏ quá nhiều thời giờ, “thu vén” quyền lực vào tay, nhằm “đối phó” với Mỹ, ông Thiệu đã không nhìn thấy được rằng dù muốn dù không, VN vẫn đã trở thành một “con cờ” trên bàn cờ thế giới. Bài dưới đây tôi lược dịch từ link:
http://en.wikipedia.org/wiki/Sino-soviet_split
là một chứng minh cụ thể nhất, mang tựa đề Rạn Nứt Nga-Tầu:
“Rạn nứt Nga-Tầu (Sino-Soviet Split) bắt đầu ló dạng từ thập niên 1930 khi Mao viện cớ tại Tầu lúc đó không có giai cấp công nhân nên phải “cải biên” học thuyết Marx-Lenin, thay vì giai cấp công nhân thì dùng GC nông dân.
Sau Thế Chiến II, Stalin cố vấn cho Mao đừng gắng chiếm quyền mà hãy thương thuyết với Tưởng. Giữa năm 1945, Stalin ký với Tưởng Hiệp Ước Hữu Nghị và Đồng Minh. Mao chấp nhận tất cả nhưng trên thực tế lại khước từ tất cả, đánh Tưởng thua, phải chạy ra đảo Đài Loan năm 1949. Tuy nhiên năm 1950, Mao ký Hiệp Ước Hữu Nghị với Stalin để nhận được 300 triệu viện trợ và hiệp ước quân sự hỗ tương 30 năm chống Nhật.
Trong suốt thập niên 1950, Tầu, qua sự cố vấn của một loạt cố vấn Nga, đã đi theo khuôn mẫu Liên Xô, nhấn mạnh đến kỹ nghệ nặng xây dựng từ thặng dư của nông dân. Tuy nhiên đến cuối thập niên 50, Mao đã tự ý phát triển tư tưởng riêng, là nhảy thẳng sang CS bằng cách động viên toàn bộ lực lượng lao động Tầu, gọi là ”Đại Nhảy Vọt” .
Mặc dù phớt lờ sự chỉ đạo của Stalin, nhưng trên thực thế Mao vẫn chấp nhận tình trạng lãnh đạo khối CS của Stalin. Sau khi Stalin chết năm 1953, Mao tự coi mình là “lão thành” hơn, và không chịu làm đàn em Malenkov và Khrushchev.
Năm 1954, Khrushchev sang thăm chính thức Tầu nhằm làm dịu tình hình và trả quân cảng Lüshuen lại cho Tầu, đồng thời thuận hợp tác chặt chẽ hơn về kinh tế.
Mao tuy không công khai bày tỏ bất đồng sau khi Khrushchev đọc bài Diễn Văn Mật trước Quốc Hội Liên Xô (tố cáo Stalin là một tên sát nhân) năm 1956, nhưng Mao đã ủng hộ Stalin cả về tư tưởng lẫn chính trị. Trong khi Khrushchev lại đả phá chúng trong một loạt các bài diễn văn, cố tình phủ nhận mọi vị trí lãnh tụ của Stalin, mà nhất là khước từ cốt lõi của học thuyết Marx-Lenin, là đấu tranh bạo động giữa tư bản và CS. Từ đó rạn nứt đã bắt đầu lộ rõ. Mao gọi Liên Xô là “bọn xét lại” và Liên Xô gọi Mao là “bọn bảo thủ” , đồng thời coi Đại Nhảy Vọt không phải là thuần túy Marxist.
Các Diễn Biến
Năm 1959, qua cuộc họp thượng đỉnh với TT Mỹ Dwight Eisenhower, Khrushchev tìm cách ve vãn phương Tây: bãi bỏ chương trình giúp Tầu phát triển vũ khí hạch tâm như đã hứa và không ủng hộ Tầu trong cuộc tranh chấp biên giới Ấn-Hoa.
Do Đại Nhảy Vọt không thành, Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình đã âm mưu loại bỏ Mao. Nhưng rạn nứt Nga-Hoa đã giúp Mao có dịp chụp mũ cho Lưu và Đặng như hai tay sai ngoại bang, nhờ đó khích động được tinh thần Hán tộc ủng hộ cho mình.
Khởi đầu, hai đảng còn chống đối gián tiếp: Tầu phủ nhận thống chế Tito của Nam Tư và Liên Xô phủ nhận Tổng bí thư Enver Hoxha của Albania. Nhưng đến năm 1960, rạn nứt đã công khai bộc phát trong cuộc họp quốc hội Romania Cộng: Khrushchev gọi Mao là người dân tộc, mạo hiểm và xa rời đảng; Mao gọi Khrushchev là tên cải cách và coi đó là hành động ”kẻ cả, chủ quan và độc tài” . Để đáp lễ, Khrushchev đã phản công bằng một lá thư dài 80 trang, từ khước Tầu.
Năm 1960, phái đoàn Tầu đã cãi vã kịch liệt với LX và hầu hết các phái đoàn khác. Trong đại hội lần thứ 22 của Quốc Hội LX tháng 10-1961, bất đồng bộc phát mạnh; đến tháng 12, LX hạ thấp quan hệ ngoại giao với Albania, biến bất đồng giữa hai đảng thành bất đồng giữa hai nước.
Năm 1962, Mao chỉ trích Khrushchev vì đã nhượng bộ Mỹ trong vụ hỏa tiễn tại Cuba, trong khi Khrushchev lại cho rằng hành xử kiểu Mao sẽ dẫn đến chiến tranh nguyên tử. Cùng lúc LX công khai ủng hộ Ấn trong cuộc chiến tranh biên giới với Tầu.
Hai sự kiện này dẫn đến việc tháng 6-1963, Tầu cho xuất bản Đề Án của Đảng CS Tầu Về Lằn Ranh Chung của Phong Trào CS Quốc Tế và LX đáp lễ với Thư Ngỏ của Đảng CS Liên Xô
Năm 1964, Mao cả quyết rằng đã có một cuộc “phản cách mạng” nhằm tái lập chế độ tư bản tại Liên Xô. Quan hệ ngoại giao giữa đảng CS Tầu và đảng CS LX cũng như các đảng trong khối Warsaw bị cắt đứt.
Sau khi Khrushchev chết tháng 10-1964, TT Tầu Chu Ân Lai đã đến Moscow nói chuyện với TBT LX Leonid Brezhnev và thủ tướng LX Alexei Kosygin. Nhưng Chu đã thất bại ra về, và cuộc khẩu chiến lại tiếp diễn.
Từ Rạn Nứt Sang Đối Đầu
Sau năm 1965, rạn nứt Nga Tầu đã “lên giấy”. Cuộc CM Văn Hóa đã làm thiệt hại đến mọi mặt của quan hệ Nga-Tầu, mà trên thực tế, Tầu tự “bế môn tỏa cảng”, ngoại trừ việc cho phép chở đồ tiếp liệu và võ khí từ Nga sang Bắc Việt trong suốt cuộc chiến VN.
Năm 1967, từ chặng đầu của CM Văn Hóa, Tầu cho trương các poster, trong đó có: ”Đả đảo bọn xét lại Liên Xô. Đập nát đầu chó Brezhnev và Kosygin.”
Sau năm 1967, chỉ còn lại 2 đảng CS theo Tầu là Albania và Indonesia. Từ đó các đảng Maoist đã được thành lập ở nhiều nơi.
Năm 1967, Hồng Quân Mao bao vây tòa đại sứ LX tại Bắc Kinh. Quan hệ ngoại giao Nga-Tầu từ đó tuy không hoàn toàn bị cắt đứt nhưng cũng bị “đông đá”. Tầu cũng đòi LX phải thừa nhận hiệp ước biên giới xa xưa giữa nhà Minh và triều đại Czarist Nga là bất công, nhưng LX thẳng thừng từ chối.
Năm 1968, LX tăng cường quân đội dọc biên giới Nga-Tầu từ con số 6 quân đoàn, 200 phi cơ lên đến 25 quân đoàn, 1200 phi cơ và 120 hỏa tiễn tầm trung. Căng thẳng tiếp tục gia tăng mãi đến tháng 3-1969, khi đã có một số chạm trán giữa Tầu và Nga dọc theo sông Ussuri trên đảo Damansky.
Tháng 8-1969, Nga dọa dùng nguyên tử tấn công trung tâm nguyên tử Lập Nã (Lop Nor) của Tầu.
Tháng 9-1969, Kosygin bí mật sang Bắc Kinh hội đàm cùng Chu ân Lai. Sang tháng 10 thương thuyết biên giới bắt đầu.
Năm 1970, Mao nhận ra rằng Tầu có thể cùng lúc đối phó với Mỹ và Nga cũng như đàn áp nội bộ. Mặc dù cuộc chiến VN đang tới tột đỉnh, Mao vẫn cho rằng vì LX ở ngay sát bên, nên là mối nguy hiểm hơn cho Tầu. Do đó Mao tìm cách bắt tay với Mỹ chống Nga.
Năm 1971, Henry Kissinger bí mật sang Bắc Kinh, chuẩn bị cho chuyến công du của Nixon năm 1972. Mặc dù LX mới đầu cũng giận dữ, nhưng sau cũng tổ chức hội nghị thượng đỉnh với Nixon, và từ đó quan hệ tay ba Washington-Bắc Kinh-Moscow hình thành, chấm dứt giai đoạn đối đầu căng thẳng nhất giữa Nga và Tầu.
Trong thập niên 1970, xung đột Nga-Tầu đã lan sang Phi châu và Trung Đông, là nơi Nga và Tầu viện trợ cho những cộng đảng và các nhóm Hồi Giáo cực đoan khác nhau. Vì thế đã có chiến tranh giữa Ethiopia và Somalia, nội chiến tại Zimbabwe, Angola và Mozambique, cũng như sự thù hằn giữa các nhóm Palestine quá khích khác nhau. Khác với LX, Tầu không gửi quân trực tiếp nhưng can thiệp ngầm để tạo bất ổn.
Bình Thường Hóa
Cái chết của Mao dẫn đến chế độ CS “bình thường” bên Tầu, cũng chấm dứt việc đối đầu quan sự giữa hai bên. Tuy nhiên, LX vẫn tăng cường quân số dọc biên giới.
Đến năm 1973, quân số của Nga tăng gấp đôi mức 1969. Trong khi Tầu tiếp tục gọi LX là ”Tên đế quốc xã hội Liên Xô” và lên án LX là kẻ thù của cách mạng thế giới. Mặc dù tăng cường viện trợ cho các nhóm CS phá hoại tại nhiều nước sau năm 1972, Tầu vẫn ủng hộ việc thương thuyết chấm dứt chiến tranh VN.
Năm 1980 sau khi nhóm Tứ Nhân Bang bị lật đổ, Đặng Tiểu Bình bắt đầu chuyển sang kinh tế thị trường. Sau khi Đặng đưa ra chính sách ”tìm kiếm sự thật từ thực tế” nhấn mạnh đến ”Con đường của Tầu đến CNXH”, thì việc lên án bọn xét lại LX cũng mờ nhạt dần...”
Phân Tích:
Rạn nứt Nga-Tầu quả thật là một cú đấm thẳng vào mặt những kẻ suốt ngày rêu rao cái gọi là ”Tình XHCN anh em” ! Trong khi trên thực tế cái “tình” này lại chỉ là việc tranh giành quyền lợi giữa các đảng CS khoác áo “tổ quốc”, “dân tộc”, “XHCN”.
Vậy thì ta phải nhìn thấy rằng đây là một “bàn cờ”, trong đó có 2 con cờ chính là Nam và Bắc VN – nhưng hai con đều có “nội lực” riêng! Còn hai tay chơi khởi đầu là Nga và Mỹ, với các ủng hộ viên là các nước ngoài như Anh, Pháp, Tiệp, Hungary, v.v.... Nhưng đến giữa cuộc thì lại lòi ra thành 3 tay chơi.
Trong một cuộc cờ kiểu này nếu Mỹ xé lẻ được Nga và Tầu thì sẽ làm bên địch suy yếu, hầu giành phần thắng về mình!
Ngoài ra, cả hai con cờ vẫn có thể lôi kéo cổ động viên về phía mình hầu gia tăng nội lực và làm thay đổi não trạng mấy tay chơi!
Con cờ Bắc Việt đã làm điều này khá hơn, trong khi con cờ miền Nam thì không!
Tuy nhiên, nếu biết Mao sinh năm 1892, tức là cũng cỡ tuổi Hồ, cũng trở thành con cháu Marx-Lenin khoảng 1920, ta thấy Mao có tư cách khác hẳn Hồ:
- Mao đã cúi đầu chịu nhịn 26 năm suốt từ sau cuộc Nổi Dậy Mùa Thu tại Tràng-sa, Hoa-nam, 1927, chịu làm đàn em Liên Xô cho đến khi Stalin chết mới vùng lên “giành độc lập”. Còn Hồ lại theo tinh thần ”Đồng chí Stalin và Mao lúc nào cũng đúng”, lúc chết lại muốn về gặp 2 thầy Mác, Lê!
- Mao đòi lại được đảo Lüshuen từ tay Liên Xô, trong khi Hồ lại dâng nạp cho Mao toàn bộ vùng biển trong đó có Hoàng Sa.
- Cả 3 đều phạm tội ác giết người hàng loạt, nhưng Stalin và Mao không theo lệnh ai, còn Hồ thì phải cúc cung sang Moscow gặp Stalin và Mao nhận chỉ thị!
Do đó Mao đã có một trong vài đặc tính chính của một anh Tầu, là bạo chúa ”trả thù 10 năm chưa muộn”, trong khi Hồ lại “thông suốt” cái đặc tính của Việt gian, là “làm tay sai cả đời chưa đủ” !
Mặt khác ông Thiệu mặc dù mang tiếng “tay sai Mỹ”, và Mỹ cũng chẳng lấy của ông tấc đất nào, thế mà cho đến chết ông vẫn còn hận Mỹ tuy rằng ông không đủ tài để đối phó!
Nếu ai đã từng ở Mỹ lâu năm và lưu tâm tới các diễn biến chính trị Mỹ, thì có thể hiểu một điều là cái yếu của Mỹ là dân chủ, mà cái mạnh của Mỹ cũng là ... dân chủ, là tiếng nói của nhiều người.
Ông Thiệu có thể thoát khỏi sự “kiềm tỏa” của Mỹ bằng cách tấn công trực tiếp vào điểm yếu của Mỹ! Tức là ngay lúc ông vừa nhậm chức nhiệm kỳ đầu năm 1967, thay vì dùng ông Ngân một cách bí mật, ông nên công khai dùng một nhóm nhiều người trong một ủy ban - thí dụ ủy ban đặc trách chiến thuật-chiến lược chẳng hạn - trong đó quy tụ những người giỏi về tình báo và “cờ”, thuộc mọi thành phần. Để có thể hình dung ra mọi tình huống có thể xảy ra cho “con cờ” VN, hầu có thể kịp thời tìm ra sách lược đối phó.
Làm như vậy, trong thì ông không bị tố cáo là độc tài, ngoài thì ông triệt tiêu được một phần áp lực của Mỹ để có thì giờ nhiều hơn cho đất nước; và từ việc nhờ có nhiều đầu óc giỏi phò trợ, ông có thể tạo được uy tín cần có trên thế giới, cũng như có nhiều cơ hội khám phá ra những tên nằm vùng nguy hiểm như Ẩn, Hạnh, Nhạ, Trọng, ... chẳng hạn. - hết! Ngoài ra, trong link
http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=2506
Nước đã về non
tôi cũng đã đưa ra nhận định về Mác, Lênin, và Hồ:
Có một vài điểm mà ta cần phân định cho rõ về cái gọi là ”Văn Hóa Marx-Lenin”!
Trong toàn bộ hệ thống tư tưởng, triết học của mình, Marx muốn biện chứng (chứng minh “bằng mồm”) rằng vật chất đi trước tinh thần, rằng giai cấp vô sản phải dùng bạo lực đứng lên lật đổ giai cấp tư bản, ..., rằng sau cùng con người sẽ tiến lên một “thiên đàng hạ giới” trong đó không có giai cấp và mọi người có thể ”Làm theo năng suất, hưởng theo nhu cầu”!
Nhưng Marx đã hoàn toàn thất bại qua cao trào CS I!
Lenin ranh mãnh hơn, nhìn thấy Nga là một nước lớn có tiềm lực. Lúc ấy các nước ít tiềm lực hơn như Anh, Pháp, ... chẳng hạn, lại mạnh hơn nhờ có thuộc địa tại nhiều nơi. Cho nên Lenin mới lợi dụng học thuyết Marx, biến giai cấp “vô sản” thành giai cấp “nhân dân tại các nước thuộc địa”; biến “giai cấp tư bản” thành giai cấp “thực dân, đế quốc” để dễ dàng dụ dỗ người dân các nước thuộc địa đổ máu để bành trướng đế quốc Nga.
Dù sao đi nữa thì cái văn hóa Marx-Lênin cũng là văn hóa của một đế quốc - Đế quốc Đỏ.
Còn cái thứ “văn hóa” Marx-Lenin tại VN là gì???
Nó hoàn toàn khác hẳn, nó sặc mùi nô lệ, tay sai! Trong đó ”Stalin và Mao không bao giờ sai”! Trong đó ”Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ”, và ”Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng Mỹ” , v.v....
Do đó văn hóa kiểu này không phải là văn hóa Marx-Lenin! Nó là thứ văn hóa Việt gian, tay sai, lừa bịp, đe dọa, ...., mà “cha” của nó là tên Hồ Chí Minh!
Trong khi anh nhận súng, nhận tiền, nhận gạo, nhận quần áo,..., của ngoại bang về làm chiến tranh trên quê hương bằng máu của đám dân tộc cực đoan VN, mà anh dám sánh mình với Trần Hưng Đạo:
"Bác đưa một nước qua nô lệ
Tôi dắt năm châu tới đại đồng "
Vậy không phải là bịp bợm, lường gạt, tay sai, thì là gì??!!!
Thế cho nên đây là văn hóa Hồ Chí Minh theo định hướng XHCN, chứ không phải là văn hóa Marx-Lênin, lại càng không phải là văn hóa dân tộc VN! - hết!
http://www.vietnamexodus.org/vne/modules.php?name=News&file=article&sid=853
Hùng Nguyễn
Góp ý với ông Việt Thường
Xin cảm ơn ông Việt Thường đã đưa ra những nhận định thật sâu sắc trong bài Những Khúc Quanh Đằng Sau CĐ Độc Lập lên mạng ngày 29-10-2006 vừa qua!
Xin cảm ơn Ban Điều Hành mạng Exodus, đặc biệt là bạn Admin đã tỏ ra rất thông cảm với một người khách “không mời mà tới” như tôi!
Những nhận định của ông Việt Thường trong chương trình vừa qua thật là quá chính xác và đúng khi ông dùng quyền lợi để xét tư cách, gợi cho tôi ý tưởng nên post nguyên bài này lên mạng Exodus. Theo tôi thì phần lược dịch dưới đây sẽ cống hiến quý bạn những dữ kiện cụ thể nhằm củng cố thêm cho nhận định của ông Việt Thường. Đối với tôi những sự kiện này không quá mới lạ, nhưng việc sắp xếp chúng một cách có hệ thống như một bằng chứng là điều mới lạ! Mà tôi tin rằng VC không bao giờ dám cho phổ biến công khai loại tin tức này!
Vì vậy, nếu có thể được, xin quý bạn copy, lưu trữ nó vào máy như một tài liệu tham khảo khi hữu sự, và email cho bạn bè, người quen, đặc biệt là những người còn ở VN, đặc biệt hơn nữa là những người ờ miền Bắc – vì bài này không dài, dễ phát tán và đọc không tốn nhiều thì giờ! Nếu không thể làm được như vậy, mong rằng ít nhất bài lược dịch cũng giúp ta củng cố thêm niềm tin vào chính nghĩa quốc gia. Đây là bài lược dịch, nếu quý bạn muốn biết thêm chi tiết, xin vào link trong bài, hoặc các thư viện công cộng để tra khảo thêm.
Bối cảnh: Trong khoảng 1 tháng qua, Đàn Chim Việt có đăng một loạt 5 bài phỏng vấn ông Nguyễn Văn Ngân, phụ tá TT Thiệu. Trong đó ông Ngân muốn có tiết lộ một số bí mật, và có ý đổ hết trách nhiệm của việc mất miền Nam lên đầu ... Mỹ. Trong bài phản bác dưới đây, tôi phê bình ông Ngân là “khôn nhỏ, dại lớn” vì:
Khôn nhỏ: Ông Ngân tiết lộ rằng ông ta vừa là phụ tá vừa là cố vấn mật cho ông Thiệu, và chính ông ta đã cố vấn cho ông Thiệu vụ gia hạn 3 nhiệm kỳ TT VNCH thay vì hai nhiệm kỳ, và chính ông ta là người giúp mua chuộc 2/3 lưỡng viện quốc hội VNCH về phe ông Thiệu!, v.v....
Dại lớn: Ông Ngân ta thán rằng Mỹ không viện trợ cho miền Nam nhà máy đúc thép, còn Bắc Việt thì được Nga cho nhà máy đúc thép Thái Nguyên, như thể ông chính mắt ông nhìn thấy vậy! Ông nói tên VC Trần Đại Nghĩa biết cải tiến hỏa tiễn để bắn tới B52, trong khi ông chẳng có bằng cớ gì hết! Ông gọi Mỹ là “đế quốc kiểu mới”, v.v... Đó là hành vi vừa tự tay cầm dao cứa tay mình, lại vừa to mồm tâng bốc kẻ thù, mà theo tôi là không thể chấp nhận được cho vai trò cố vấn TT VNCH!
Bài dịch dưới đây thoạt tiên tôi muốn dùng để làm bằng chứng bẻ gãy cái gọi là “Tình XHCN anh em”. Chẳng ngờ Đàn Chim Việt ra loạt bài này nên nhân tiện tôi dùng đó để phản bác luận cứ của ông Ngân luôn.
Muốn đọc bài phỏng vấn này, xin quý bạn bắt đầu từ link:
http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=2415
Phỏng vấn Phụ tá Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu (Ia)
Tại Ai???!!!
Nói tóm lại, theo lời ông Nguyễn Văn Ngân này thì tất cả là tại ... Mỹ!!! Vậy ta thử xem có đúng thế hay không???!!!
Theo chính sử Mỹ, thì “1968 là bước ngoặt của Chiến Tranh VN,” tức là trận Mậu Thân với hình ảnh tướng Nguyễn Hữu Loan bắn vào đầu tên VC nằm vùng đã gây “chấn động” về tâm lý trong quần chúng Mỹ và nhiều nước trong khối Tự Do, khiến Mỹ quyết định rút lui. Nhưng rút như thế nào thì ... Mỹ vẫn … chưa biết!!!
Thế có nghĩa là nếu ông Thiệu có được một cố vấn giỏi, như ông Nhu chẳng hạn, thì vẫn có thể đảo ngược tình hình khi ông đắc cử nhiệm kỳ đầu năm 1967. Nhưng tiếc thay, ông lại không có một cố vấn hay một nhóm cố vấn giỏi, mà chỉ có một phụ tá bất tài như ông Ngân này, một phụ tá “khôn nhỏ, dại lớn” !!!
Do bỏ quá nhiều thời giờ, “thu vén” quyền lực vào tay, nhằm “đối phó” với Mỹ, ông Thiệu đã không nhìn thấy được rằng dù muốn dù không, VN vẫn đã trở thành một “con cờ” trên bàn cờ thế giới. Bài dưới đây tôi lược dịch từ link:
http://en.wikipedia.org/wiki/Sino-soviet_split
là một chứng minh cụ thể nhất, mang tựa đề Rạn Nứt Nga-Tầu:
“Rạn nứt Nga-Tầu (Sino-Soviet Split) bắt đầu ló dạng từ thập niên 1930 khi Mao viện cớ tại Tầu lúc đó không có giai cấp công nhân nên phải “cải biên” học thuyết Marx-Lenin, thay vì giai cấp công nhân thì dùng GC nông dân.
Sau Thế Chiến II, Stalin cố vấn cho Mao đừng gắng chiếm quyền mà hãy thương thuyết với Tưởng. Giữa năm 1945, Stalin ký với Tưởng Hiệp Ước Hữu Nghị và Đồng Minh. Mao chấp nhận tất cả nhưng trên thực tế lại khước từ tất cả, đánh Tưởng thua, phải chạy ra đảo Đài Loan năm 1949. Tuy nhiên năm 1950, Mao ký Hiệp Ước Hữu Nghị với Stalin để nhận được 300 triệu viện trợ và hiệp ước quân sự hỗ tương 30 năm chống Nhật.
Trong suốt thập niên 1950, Tầu, qua sự cố vấn của một loạt cố vấn Nga, đã đi theo khuôn mẫu Liên Xô, nhấn mạnh đến kỹ nghệ nặng xây dựng từ thặng dư của nông dân. Tuy nhiên đến cuối thập niên 50, Mao đã tự ý phát triển tư tưởng riêng, là nhảy thẳng sang CS bằng cách động viên toàn bộ lực lượng lao động Tầu, gọi là ”Đại Nhảy Vọt” .
Mặc dù phớt lờ sự chỉ đạo của Stalin, nhưng trên thực thế Mao vẫn chấp nhận tình trạng lãnh đạo khối CS của Stalin. Sau khi Stalin chết năm 1953, Mao tự coi mình là “lão thành” hơn, và không chịu làm đàn em Malenkov và Khrushchev.
Năm 1954, Khrushchev sang thăm chính thức Tầu nhằm làm dịu tình hình và trả quân cảng Lüshuen lại cho Tầu, đồng thời thuận hợp tác chặt chẽ hơn về kinh tế.
Mao tuy không công khai bày tỏ bất đồng sau khi Khrushchev đọc bài Diễn Văn Mật trước Quốc Hội Liên Xô (tố cáo Stalin là một tên sát nhân) năm 1956, nhưng Mao đã ủng hộ Stalin cả về tư tưởng lẫn chính trị. Trong khi Khrushchev lại đả phá chúng trong một loạt các bài diễn văn, cố tình phủ nhận mọi vị trí lãnh tụ của Stalin, mà nhất là khước từ cốt lõi của học thuyết Marx-Lenin, là đấu tranh bạo động giữa tư bản và CS. Từ đó rạn nứt đã bắt đầu lộ rõ. Mao gọi Liên Xô là “bọn xét lại” và Liên Xô gọi Mao là “bọn bảo thủ” , đồng thời coi Đại Nhảy Vọt không phải là thuần túy Marxist.
Các Diễn Biến
Năm 1959, qua cuộc họp thượng đỉnh với TT Mỹ Dwight Eisenhower, Khrushchev tìm cách ve vãn phương Tây: bãi bỏ chương trình giúp Tầu phát triển vũ khí hạch tâm như đã hứa và không ủng hộ Tầu trong cuộc tranh chấp biên giới Ấn-Hoa.
Do Đại Nhảy Vọt không thành, Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình đã âm mưu loại bỏ Mao. Nhưng rạn nứt Nga-Hoa đã giúp Mao có dịp chụp mũ cho Lưu và Đặng như hai tay sai ngoại bang, nhờ đó khích động được tinh thần Hán tộc ủng hộ cho mình.
Khởi đầu, hai đảng còn chống đối gián tiếp: Tầu phủ nhận thống chế Tito của Nam Tư và Liên Xô phủ nhận Tổng bí thư Enver Hoxha của Albania. Nhưng đến năm 1960, rạn nứt đã công khai bộc phát trong cuộc họp quốc hội Romania Cộng: Khrushchev gọi Mao là người dân tộc, mạo hiểm và xa rời đảng; Mao gọi Khrushchev là tên cải cách và coi đó là hành động ”kẻ cả, chủ quan và độc tài” . Để đáp lễ, Khrushchev đã phản công bằng một lá thư dài 80 trang, từ khước Tầu.
Năm 1960, phái đoàn Tầu đã cãi vã kịch liệt với LX và hầu hết các phái đoàn khác. Trong đại hội lần thứ 22 của Quốc Hội LX tháng 10-1961, bất đồng bộc phát mạnh; đến tháng 12, LX hạ thấp quan hệ ngoại giao với Albania, biến bất đồng giữa hai đảng thành bất đồng giữa hai nước.
Năm 1962, Mao chỉ trích Khrushchev vì đã nhượng bộ Mỹ trong vụ hỏa tiễn tại Cuba, trong khi Khrushchev lại cho rằng hành xử kiểu Mao sẽ dẫn đến chiến tranh nguyên tử. Cùng lúc LX công khai ủng hộ Ấn trong cuộc chiến tranh biên giới với Tầu.
Hai sự kiện này dẫn đến việc tháng 6-1963, Tầu cho xuất bản Đề Án của Đảng CS Tầu Về Lằn Ranh Chung của Phong Trào CS Quốc Tế và LX đáp lễ với Thư Ngỏ của Đảng CS Liên Xô
Năm 1964, Mao cả quyết rằng đã có một cuộc “phản cách mạng” nhằm tái lập chế độ tư bản tại Liên Xô. Quan hệ ngoại giao giữa đảng CS Tầu và đảng CS LX cũng như các đảng trong khối Warsaw bị cắt đứt.
Sau khi Khrushchev chết tháng 10-1964, TT Tầu Chu Ân Lai đã đến Moscow nói chuyện với TBT LX Leonid Brezhnev và thủ tướng LX Alexei Kosygin. Nhưng Chu đã thất bại ra về, và cuộc khẩu chiến lại tiếp diễn.
Từ Rạn Nứt Sang Đối Đầu
Sau năm 1965, rạn nứt Nga Tầu đã “lên giấy”. Cuộc CM Văn Hóa đã làm thiệt hại đến mọi mặt của quan hệ Nga-Tầu, mà trên thực tế, Tầu tự “bế môn tỏa cảng”, ngoại trừ việc cho phép chở đồ tiếp liệu và võ khí từ Nga sang Bắc Việt trong suốt cuộc chiến VN.
Năm 1967, từ chặng đầu của CM Văn Hóa, Tầu cho trương các poster, trong đó có: ”Đả đảo bọn xét lại Liên Xô. Đập nát đầu chó Brezhnev và Kosygin.”
Sau năm 1967, chỉ còn lại 2 đảng CS theo Tầu là Albania và Indonesia. Từ đó các đảng Maoist đã được thành lập ở nhiều nơi.
Năm 1967, Hồng Quân Mao bao vây tòa đại sứ LX tại Bắc Kinh. Quan hệ ngoại giao Nga-Tầu từ đó tuy không hoàn toàn bị cắt đứt nhưng cũng bị “đông đá”. Tầu cũng đòi LX phải thừa nhận hiệp ước biên giới xa xưa giữa nhà Minh và triều đại Czarist Nga là bất công, nhưng LX thẳng thừng từ chối.
Năm 1968, LX tăng cường quân đội dọc biên giới Nga-Tầu từ con số 6 quân đoàn, 200 phi cơ lên đến 25 quân đoàn, 1200 phi cơ và 120 hỏa tiễn tầm trung. Căng thẳng tiếp tục gia tăng mãi đến tháng 3-1969, khi đã có một số chạm trán giữa Tầu và Nga dọc theo sông Ussuri trên đảo Damansky.
Tháng 8-1969, Nga dọa dùng nguyên tử tấn công trung tâm nguyên tử Lập Nã (Lop Nor) của Tầu.
Tháng 9-1969, Kosygin bí mật sang Bắc Kinh hội đàm cùng Chu ân Lai. Sang tháng 10 thương thuyết biên giới bắt đầu.
Năm 1970, Mao nhận ra rằng Tầu có thể cùng lúc đối phó với Mỹ và Nga cũng như đàn áp nội bộ. Mặc dù cuộc chiến VN đang tới tột đỉnh, Mao vẫn cho rằng vì LX ở ngay sát bên, nên là mối nguy hiểm hơn cho Tầu. Do đó Mao tìm cách bắt tay với Mỹ chống Nga.
Năm 1971, Henry Kissinger bí mật sang Bắc Kinh, chuẩn bị cho chuyến công du của Nixon năm 1972. Mặc dù LX mới đầu cũng giận dữ, nhưng sau cũng tổ chức hội nghị thượng đỉnh với Nixon, và từ đó quan hệ tay ba Washington-Bắc Kinh-Moscow hình thành, chấm dứt giai đoạn đối đầu căng thẳng nhất giữa Nga và Tầu.
Trong thập niên 1970, xung đột Nga-Tầu đã lan sang Phi châu và Trung Đông, là nơi Nga và Tầu viện trợ cho những cộng đảng và các nhóm Hồi Giáo cực đoan khác nhau. Vì thế đã có chiến tranh giữa Ethiopia và Somalia, nội chiến tại Zimbabwe, Angola và Mozambique, cũng như sự thù hằn giữa các nhóm Palestine quá khích khác nhau. Khác với LX, Tầu không gửi quân trực tiếp nhưng can thiệp ngầm để tạo bất ổn.
Bình Thường Hóa
Cái chết của Mao dẫn đến chế độ CS “bình thường” bên Tầu, cũng chấm dứt việc đối đầu quan sự giữa hai bên. Tuy nhiên, LX vẫn tăng cường quân số dọc biên giới.
Đến năm 1973, quân số của Nga tăng gấp đôi mức 1969. Trong khi Tầu tiếp tục gọi LX là ”Tên đế quốc xã hội Liên Xô” và lên án LX là kẻ thù của cách mạng thế giới. Mặc dù tăng cường viện trợ cho các nhóm CS phá hoại tại nhiều nước sau năm 1972, Tầu vẫn ủng hộ việc thương thuyết chấm dứt chiến tranh VN.
Năm 1980 sau khi nhóm Tứ Nhân Bang bị lật đổ, Đặng Tiểu Bình bắt đầu chuyển sang kinh tế thị trường. Sau khi Đặng đưa ra chính sách ”tìm kiếm sự thật từ thực tế” nhấn mạnh đến ”Con đường của Tầu đến CNXH”, thì việc lên án bọn xét lại LX cũng mờ nhạt dần...”
Phân Tích:
Rạn nứt Nga-Tầu quả thật là một cú đấm thẳng vào mặt những kẻ suốt ngày rêu rao cái gọi là ”Tình XHCN anh em” ! Trong khi trên thực tế cái “tình” này lại chỉ là việc tranh giành quyền lợi giữa các đảng CS khoác áo “tổ quốc”, “dân tộc”, “XHCN”.
Vậy thì ta phải nhìn thấy rằng đây là một “bàn cờ”, trong đó có 2 con cờ chính là Nam và Bắc VN – nhưng hai con đều có “nội lực” riêng! Còn hai tay chơi khởi đầu là Nga và Mỹ, với các ủng hộ viên là các nước ngoài như Anh, Pháp, Tiệp, Hungary, v.v.... Nhưng đến giữa cuộc thì lại lòi ra thành 3 tay chơi.
Trong một cuộc cờ kiểu này nếu Mỹ xé lẻ được Nga và Tầu thì sẽ làm bên địch suy yếu, hầu giành phần thắng về mình!
Ngoài ra, cả hai con cờ vẫn có thể lôi kéo cổ động viên về phía mình hầu gia tăng nội lực và làm thay đổi não trạng mấy tay chơi!
Con cờ Bắc Việt đã làm điều này khá hơn, trong khi con cờ miền Nam thì không!
Tuy nhiên, nếu biết Mao sinh năm 1892, tức là cũng cỡ tuổi Hồ, cũng trở thành con cháu Marx-Lenin khoảng 1920, ta thấy Mao có tư cách khác hẳn Hồ:
- Mao đã cúi đầu chịu nhịn 26 năm suốt từ sau cuộc Nổi Dậy Mùa Thu tại Tràng-sa, Hoa-nam, 1927, chịu làm đàn em Liên Xô cho đến khi Stalin chết mới vùng lên “giành độc lập”. Còn Hồ lại theo tinh thần ”Đồng chí Stalin và Mao lúc nào cũng đúng”, lúc chết lại muốn về gặp 2 thầy Mác, Lê!
- Mao đòi lại được đảo Lüshuen từ tay Liên Xô, trong khi Hồ lại dâng nạp cho Mao toàn bộ vùng biển trong đó có Hoàng Sa.
- Cả 3 đều phạm tội ác giết người hàng loạt, nhưng Stalin và Mao không theo lệnh ai, còn Hồ thì phải cúc cung sang Moscow gặp Stalin và Mao nhận chỉ thị!
Do đó Mao đã có một trong vài đặc tính chính của một anh Tầu, là bạo chúa ”trả thù 10 năm chưa muộn”, trong khi Hồ lại “thông suốt” cái đặc tính của Việt gian, là “làm tay sai cả đời chưa đủ” !
Mặt khác ông Thiệu mặc dù mang tiếng “tay sai Mỹ”, và Mỹ cũng chẳng lấy của ông tấc đất nào, thế mà cho đến chết ông vẫn còn hận Mỹ tuy rằng ông không đủ tài để đối phó!
Nếu ai đã từng ở Mỹ lâu năm và lưu tâm tới các diễn biến chính trị Mỹ, thì có thể hiểu một điều là cái yếu của Mỹ là dân chủ, mà cái mạnh của Mỹ cũng là ... dân chủ, là tiếng nói của nhiều người.
Ông Thiệu có thể thoát khỏi sự “kiềm tỏa” của Mỹ bằng cách tấn công trực tiếp vào điểm yếu của Mỹ! Tức là ngay lúc ông vừa nhậm chức nhiệm kỳ đầu năm 1967, thay vì dùng ông Ngân một cách bí mật, ông nên công khai dùng một nhóm nhiều người trong một ủy ban - thí dụ ủy ban đặc trách chiến thuật-chiến lược chẳng hạn - trong đó quy tụ những người giỏi về tình báo và “cờ”, thuộc mọi thành phần. Để có thể hình dung ra mọi tình huống có thể xảy ra cho “con cờ” VN, hầu có thể kịp thời tìm ra sách lược đối phó.
Làm như vậy, trong thì ông không bị tố cáo là độc tài, ngoài thì ông triệt tiêu được một phần áp lực của Mỹ để có thì giờ nhiều hơn cho đất nước; và từ việc nhờ có nhiều đầu óc giỏi phò trợ, ông có thể tạo được uy tín cần có trên thế giới, cũng như có nhiều cơ hội khám phá ra những tên nằm vùng nguy hiểm như Ẩn, Hạnh, Nhạ, Trọng, ... chẳng hạn. - hết! Ngoài ra, trong link
http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=2506
Nước đã về non
tôi cũng đã đưa ra nhận định về Mác, Lênin, và Hồ:
Có một vài điểm mà ta cần phân định cho rõ về cái gọi là ”Văn Hóa Marx-Lenin”!
Trong toàn bộ hệ thống tư tưởng, triết học của mình, Marx muốn biện chứng (chứng minh “bằng mồm”) rằng vật chất đi trước tinh thần, rằng giai cấp vô sản phải dùng bạo lực đứng lên lật đổ giai cấp tư bản, ..., rằng sau cùng con người sẽ tiến lên một “thiên đàng hạ giới” trong đó không có giai cấp và mọi người có thể ”Làm theo năng suất, hưởng theo nhu cầu”!
Nhưng Marx đã hoàn toàn thất bại qua cao trào CS I!
Lenin ranh mãnh hơn, nhìn thấy Nga là một nước lớn có tiềm lực. Lúc ấy các nước ít tiềm lực hơn như Anh, Pháp, ... chẳng hạn, lại mạnh hơn nhờ có thuộc địa tại nhiều nơi. Cho nên Lenin mới lợi dụng học thuyết Marx, biến giai cấp “vô sản” thành giai cấp “nhân dân tại các nước thuộc địa”; biến “giai cấp tư bản” thành giai cấp “thực dân, đế quốc” để dễ dàng dụ dỗ người dân các nước thuộc địa đổ máu để bành trướng đế quốc Nga.
Dù sao đi nữa thì cái văn hóa Marx-Lênin cũng là văn hóa của một đế quốc - Đế quốc Đỏ.
Còn cái thứ “văn hóa” Marx-Lenin tại VN là gì???
Nó hoàn toàn khác hẳn, nó sặc mùi nô lệ, tay sai! Trong đó ”Stalin và Mao không bao giờ sai”! Trong đó ”Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ”, và ”Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng Mỹ” , v.v....
Do đó văn hóa kiểu này không phải là văn hóa Marx-Lenin! Nó là thứ văn hóa Việt gian, tay sai, lừa bịp, đe dọa, ...., mà “cha” của nó là tên Hồ Chí Minh!
Trong khi anh nhận súng, nhận tiền, nhận gạo, nhận quần áo,..., của ngoại bang về làm chiến tranh trên quê hương bằng máu của đám dân tộc cực đoan VN, mà anh dám sánh mình với Trần Hưng Đạo:
"Bác đưa một nước qua nô lệ
Tôi dắt năm châu tới đại đồng "
Vậy không phải là bịp bợm, lường gạt, tay sai, thì là gì??!!!
Thế cho nên đây là văn hóa Hồ Chí Minh theo định hướng XHCN, chứ không phải là văn hóa Marx-Lênin, lại càng không phải là văn hóa dân tộc VN! - hết!
http://www.vietnamexodus.org/vne/modules.php?name=News&file=article&sid=853
Inscription à :
Articles (Atom)