mardi 29 mai 2007

Hồ Chí Minh, một người yêu nước lầm lạc

Hồ Chí Minh, một người yêu nước lầm lạc


DCVOnline - Việt Hồng thực hiện


Việt Hồng: Thưa ông, trong cuộc phỏng vấn lần cuối, chúng ta có đề cập đến vai trò của ông Hồ Chí Minh (HCM) trong việc du nhập chủ nghĩa Cộng Sản vào Việt Nam. Và ông có nói rằng việc đánh giá ông Hồ Chí Minh phải hết sức thận trọng. Cụ thể như thế nào, thưa ông?

Bùi Tín: Đánh giá về HCM phải thận trọng vì vai trò của ông với lịch sử là rất lớn. Như nhiều người biết, ông ấy là người du nhập học thuyết Marx-Lenin vào Việt Nam. Học thuyết ấy đã đóng một vai trò rất quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Có thể nói nhờ có ông HCM và cùng với ông ấy là Đảng Cộng Sản Đông Dương mà mới có cuộc Cách mạng Tháng Tám. Sau đó là cuộc kháng chiến chống pháp, rồi CNXH tại Việt Nam.


Hồ Chí Minh là một người yêu nước lầm lạc. “Tặng tướng Salan, tình bạn tuyệt vời” (1946)
Nguồn: www.salan.asso.fr
--------------------------------------------------------------------------------

Như vậy, vai trò của ông Hồ chí Minh với lịch sử Việt Nam là vai trò quyết định. Học thuyết Marx - Lenin không chỉ biểu hiện ở Chủ nghĩa Xã Hội, Chủ nghĩa Cộng Sản mà còn việc đấu tranh giai cấp nữa. Đó cũng là học thuyết về Chuyên chính Vô sản để xây dựng lên một chế độ độc đảng như ở các nước XHCN cũ như Liên Xô, Đức, Ba Lan, hiện nay vẫn còn ở Việt Nam, Trung Quốc. Ở Việt Nam trước kia cũng có Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội nhưng thực chất những đảng đó cũng do đảng cộng sản lập ra.

Trước đây tôi cũng suy nghĩ rất nhiều đến chuyện này. Nhiều anh em ở trong nước khuyên tôi, động đến ông HCM là động đến một vị Thánh đối với một số người ở trong nước, bây giờ chưa đến lúc đó. Đây là một vấn đề tối kị vì động đến ông Hồ giống như động đến tín ngưỡng của nhiều người. Tôi cũng đã từng bị người ta chụp mũ là đi theo con đường phản động, phản bội… vì một số người, người ta chủ trương đồng nhất HCM với ĐCS, với dân tộc, với đất nước. Chống lại hay nói xấu HCM là chống lại dân tộc, chống lại đất nước, là phản động… Vì vậy, những ai chống lại HCM dễ bị cô lập.

Việt Hồng: Bắt đầu từ khi nào thì ông quyết định việc đánh giá lại ông HCM?

Bùi Tín: Ngay khi kỷ niệm 100 năm ngày sinh ông Hồ thì tôi đã tỉnh ngộ ra môt chút, khi đó tôi vẫn còn ở trong nước. Hôm đó, có nhiều khách nước ngoài, rồi Việt kiều, mọi người phát biểu ca ngợi ông HCM, còn tôi bắt đầu ngờ ngợ.

15, 16 năm nay thì tôi nghĩ khác. Chúng ta phải có một thái độ khoa học. Đó là nhìn thẳng vào sự thật, trung thành với lẽ phải. Theo tôi, cứ sự thật mình suy nghĩ như thế nào thì nói ra như thế, tránh thành kiến, tránh định kiến, không chủ quan… Đó là thái độ khoa học. Cho nên tôi không ngại khi phải viết về ông HCM, phải trả lời về ông HCM như hôm nay .

Theo tôi, không tránh né mà cần nhìn thẳng vào sự thật mà nói thẳng, mà phân tích…

Việt Hồng: Còn trước kia thì tình cảm của ông với ông Hồ ra sao?

Bùi Tín: Việc nhận thức này đối với tôi là cả một quá trình. Cô biết đấy, ở trong nước, tôi cũng ở trong quân đội 44 năm, là đảng viên đảng CS 38 năm và tôi cũng được đúc trong cái lò CS này ra. Tôi còn tham gia công tác tuyên truyền (cười) vì tôi là nhà báo, làm công tác tuyên huấn. Tôi cũng được bộ máy của đảng tuyên tuyền, lắp đi lắp lại nên quá trình nhìn nhận, đánh giá ông HCM với tôi là môt quá trình biến đổi tronh nhận thức cũng như trong tình cảm.

Khi còn trong nước tôi được giáo dục tuyên truyền rằng ông ấy là môt anh hùng, một người yêu nước, một con người vĩ đại… Rồi người ta còn dậy rằng, HCM không những là nhà chính trị, còn là nhà văn hóa, nhà thơ, nhà triết học, nhà giáo dục, nhà ngoại giao kiểu mẫu, một lãnh tụ sáng suốt. Không gì có thể nói hết được mặt tốt, mặt gương mẫu của ông HCM. Ngày 2/9/1969, khi ông HCM chết, cả gia đình tôi khóc, vợ khóc, con khóc, xung quang ai cũng khóc, hàng triệu người khóc còn hơn khóc bố, khóc mẹ mình chết. Chính tôi cũng là nạn nhân của việc nhồi sọ rồi tôi lại tham gia vào việc tuyên truyền, ca ngợi ông HCM.

Việt Hồng: Cái gì làm cho ông bắt đầu nghi ngờ ông Hồ, ông có thể nói cụ thể hơn không?

Bùi Tín: (cười) Đó là quyển truyện "Những mẩu truyện về cuộc đời hoạt động của chủ tịch HCM". Khi tôi được biết là do chính ông viết rồi ký tên HCM. Tôi mở quyển sách ra xem thì tôi thấy lấn cấn, vì trong quyển sách nói, Bác Hồ của chúng ta là cực kỳ khiêm tốn, Bác không khi nào muốn nói về mình cho nên ông Trần Dân Tiên phải đi đường vòng, phải tới gặp những nhân chứng, những người đã từng gặp gỡ Bác ở Xiêm, ở Pháp… để tìm kiếm tư liệu cho việc viết cuốn truyện này.

Vậy mà Trần Dân Tiên lại chính là Hồ Chí Minh. Từ đó tôi đặt ra một loạt câu hỏi: "tại sao lại có một người thiếu khiêm tốn đên như vậy? Sao lại tự viết truyện ca ngợi mình? Lại còn so sánh mình hơn cả Lê Lợi, Quang Trung…?"

Khi sang Pháp, tôi bắt đầu viết cuốn sách "Hoa Xuyên Tuyết", tôi bắt đầu đánh giá lại con người HCM. Tôi thấy không thể gọi ông HCM là con người khiêm tốn, kiểu mẫu được. Một người khiêm tốn không ai lại tự mình viết về mình, kể toàn những truyện tâng bốc về mình, ca ngợi mình như vậy.

Việt Hồng: Và người ta phản ứng ra sao trước nhận định như vậy của ông?

Bùi Tín: Khi đó ở trong nước người ta nhao nhao lên, người ta cho ông Bùi Biên Thùy, một người cũng ở trong bào Nhân Dân với tôi, viết bài gọi tôi là phản động, đi theo bọn phản động nước ngòai... Từ đó tôi cho rằng cần có thái độ đúng đắn, vô tư, cân nhắc kỹ khi nói về ông Hồ.

Việt Hồng: Khi động tới ông HCM thường có người khen ông hết lời, người chê ông hết mức, theo ông thái độ như thế nào là đúng mực, đúng đắn?

Bùi Tín: Khi động đến ông HCM là cãi nhau rất quyết liệt. Một bên thì ca ngợi ông hết sức, Bên kia thì phủ nhận hoàn toàn cho rằng ông là người hoàn toàn tiêu cực, không có một tí nào tích cực, không một tí nào đóng góp cho lịch sử VN.

Một số anh chị em hiện đang sống ở nước ngoài, gọi là người Việt quốc gia, họ có mối căm thù không đội trời chung với ông Hồ cho nên họ dùng những lời lẽ hết sức nặng nề với ông. Họ không bao giờ gọi là "ông" cả mà phải gọi bằng nhừng từ ngữ xấu xa nhất, nặng nề nhất như "con cáo", "thằng già", "tên Việt gian bán nước"… Họ căm thù cũng đúng thôi vì họ đã mất hết cả. Nhưng từ đó mà có cái nhìn không cân bằng, không nói mảnh may một điều gì tốt về ông Hồ cả mà toàn dùng những lời lẽ, những từ ngữ quá đáng thì như thế không phải là một thái độ đúng đắn.

Theo tôi, thái độ tốt nhất để có thế thuyết phục được tuổi trẻ và 83 triệu đồng bào trong nước, phải là một thái độ thận trọng, khoa học và vô tư.

Tất nhiên, mỗi người có một nhận thức và tôi tôn trọng mọi quan điểm của mọi người nhưng mà tôi có quan điểm riêng của tôi.

Việt Hồng: Vậy theo ông thì những mặt tích cực và tiêu cực của ông HCM là gì?

Bùi Tín: Theo tôi, mặt tích cực của ông HCM là đóng góp cho lịch sử VN, đứng đầu cuộc kháng chiến chống Pháp và kết thúc thắng lợi. Rồi đứng đầu chính phủ kháng chiến trong vòng 9 năm, kết thúc kháng cuộc chiến chống Pháp với thắng lợi Điện Biên Phủ.

Đối với thế giới, ông ấy cũng được các nhà lịch sử thế giới coi là người đã đứng đầu cuộc kháng chiến chống Pháp giành lại độc lập, một người đã chôn vùi chủ nghĩa thực dân Pháp.

Tôi nghĩ là ông ấy có đóng góp vào một số sự kiện tích cực cho đất nước. Nhưng ngay cả trong sự tích cực ấy cũng phải đi sâu vào xem nó có hoàn toàn tích cực hay không.

Còn sai lầm của ông ấy là ông ấy đã rước về cho dân tộc một chủ nghĩa tai hại mà không phải là trong mấy tháng mà kéo dài nửa thế kỷ, cho tới bây giờ.

Cô thấy đấy, VN bây giờ vẫn là nước độc đoán, độc đảng. Người ta vừa xử mấy phiên tòa bịt miệng ngay giữa Huế, Sài Gòn, Hà Nội đấy. Cái chủ nghĩa CS mà ông Hồ đem về cho dân tộc vẫn còn tác oai tác quái!

Việt Hồng: Ông đánh giá như thế nào về tinh thần yêu nước của ông Hồ?

Bùi Tín: Hiện nay có nhiều tranh cãi giữa những người trong và ngoài nước rằng, ông HCM có phải là một người yêu nước hay không? Theo tôi, thời kỳ ông ấy học quốc học Huế, trong tiểu sử của ông có ghi rằng ông tham gia những cuộc bãi khóa, bãi thuế v.v... Rồi ông ấy có đọc Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và thấy con đường của các vị tiền bồi này bế tắc và từ đó ông ấy đi tìm đường cứu nước. Tôi nghĩ rằng, cách viết như vậy nó hơi thổi phồng sự việc lên quá. Về chuyện này, các nhà lịch sử cần phải nghiên cứu tiếp.

Theo tôi, việc ông Hồ sang Pháp đi tìm đường cứu nước cần phải xem xét lại cho kỹ lưỡng. Các nhà sử học người ta viết cũng có chủ quan, tô vẽ quá với sự thật… Họ cho rằng, ông HCM yêu nước, giác ngộ từ bé. Tôi cho rằng những chứng cớ khi còn quá mờ nhạt và chưa đủ sức thuyết phục, chưa đủ để khẳng định chuyện đó.

Khi ông Hồ bỏ học tại trường quốc học, lúc ông cụ thân sinh ra ông Hồ là Nguyễn Sinh Sắc lúc bấy giờ là phó bảng tại Bình Khê, tức là quan Tri huyện, nhưng do đánh chết người (ông Tạ Văn Quang) nên mất chức, bị gần như khai trừ ra khỏi ngạch quan lại. Do đó ông HCM mất chỗ dựa, ông bỏ trường quốc học vào Nam (Phan Thiết). Rồi ông đi làm bồi tầu như một kế sinh nhai, sau đó theo tầu sang Pháp.

Cho tới giai đoạn này, tôi cho rằng, chưa có bằng chứng về tinh thần yêu nước của ông Hồ.

Nhưng thời gian ông ấy ở Pháp rồi sang Nga, sang Tầu… thì ông ấy đã hoạt động như môt thanh niên yêu nước lúc bấy giờ. Khi ông ấy ở Pháp và viết cuốn "Bản án chế độ thực dân Pháp" rồi tham gia hoạt động tại Tour… thì tôi đánh giá ông ấy là một người yêu nước. Tuy là có vài người cùng viết nhưng ông ấy là người công bố tài liệu này ở Hội Quốc Liên, như Liên Hiệp Quốc bây giờ ấy (cười).

Khi ông ấy đọc tài liệu về chủ nghĩa CS rồi trong một tối, ông ấy kêu toáng lên là: "mặt trời đây rồi, chân lý đây rồi…". Rồi ông ấy kể lại là ông ấy rớt nước mắt ra khi cho rằng mình đã tìm ra chân lý để cứu nước… Nếu quả thật như thế thì lúc bấy giờ ông ấy là một thanh niên yêu nước, muốn tìm ra một con đường tốt nhất để giải phóng dân tộc, không thể nói khác đi được.

Cả quá trình khi ông Hồ tham gia Đảng CS Pháp rồi tham gia viết báo tại Pháp…, sang Nga năm 1924…, tôi cho rằng, ông Hồ yêu nước, không thể kết luận ông ấy bán nước như một số người Việt hải ngoại được.

Nhưng thực tế cho tới nay thì ông HCM là một người yêu nước lầm lẫn. Học thuyết Marx-Lenin mà ông ấy cho là chân lý, là cẩm nang, là kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam mà cho đến khi chết ông ấy vẫn nghĩ là con đường đúng đắn nhất là đưa Việt Nam vào phe XHCN… thì nó đã phá sản. Ngay cả những người CS trong nước, người ta bây giờ cũng nhận ra sai lầm này sau khi Liên Xô tan rã và chủ nghĩa CS phá sản ở các nước Đông Âu. Trên thực tế người ta đã từ bỏ con đường của ông HCM nhưng vẫn cố giữ bình phong như vậy để độc quyền lãnh đạo đất nước.

Đó là nhầm lẫn của ông HCM, vì cái nhầm lẫn này mà nó kéo theo thảm họa CS cho Việt Nam tới tận bây giờ. Nó làm khổ cả dân tộc, làm bao người phải thiệt mạng vì nó. Làm khổ tới nay, vẫn chưa dứt được ra

Tôi cho rằng, HCM là một người yêu nước lầm lạc, yêu nước như ông Hồ thì thà đừng yêu nước còn hơn, còn may cho dân tộc hơn. Yêu nước như ông HCM thì còn tệ hại hơn nhiều lần so với không yêu nước, thà để dành là cờ lãnh đạo cho Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu còn tốt hơn.

© DCVOnline

----------------------------------------------------------
Bai lien quan:
Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm và tinh thần dân tộc Phần I

GIẢI TỎA HÀO QUANG ĐẢNG CỘNG SẢN

GIẢI TỎA HÀO QUANG ĐẢNG CỘNG SẢN
L.S. Nguyễn Hữu Thống

Tháng hai năm 2000, nhà cầm quyền Hà Nội đã tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 70 năm thành lập Đảng Cộng Sản Đông Dương (ĐCSĐD). Trong dịp này họ viện dẫn những thành quả mà họ đã đạt được trong nửa thế kỷ vừa qua và tự ban cho mình tư cách và tính chính thống để độc quyền lãnh đạo quốc gia từ trước tới nay và từ nay về sau.

NHẬN ĐỊNH VỀ CHỦ TRƯƠNG ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐCSĐD.
Gạt bỏ mọi thành kiến và mọi lý luận tuyên truyền, chúng tôi chỉ căn cứ vào những tài liệu lịch sử và những văn kiện pháp lý để đưa ra những nhận định sau đây liên quan đến chủ trương đường lối của ĐCSĐD.

NHẬN ĐỊNH THỨ NHẤT VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐẤU TRANH.

a) Trong công cuộc giải phóng dân tộc, ĐCSĐD đã chủ trương đấu tranh võ trang, bạo động, vọng ngoại và liên kết với Quốc Tế CS (QTCS). Trên bình diện dân tộc đây là một sai lầm chiến lược khiến cho 3 triệu thanh niên nam nữ thuộc 3 thế hệ đã phải hy sinh xương máu trong 3 cuộc Chiến Tranh Đông Dương (CTĐD):

CTĐD Thứ Nhất chống Pháp trong 8 năm (l946-l954)
CTĐD Thứ Hai chống Thế Giới Dân Chủ (Hoa Kỳ và Đồng Minh) trong 20 năm (l955-l975) và CTĐD Thứ Ba tự chống lẫn nhau trong 10 năm, chiến tranh Miên Việt chỉ kết thúc năm 1989 do sự can thiệp của Liên Hiệp Quốc.

b) Trong số 14 nước thuộc địa, bảo hộ và giám hộ tại Á Châu, chỉ có 3 nước Đông Dương dưới quyền lãnh đạo của ĐCSĐD là đã đấu tranh võ trang, bạo động, vọng ngọai và liên kết với QTCS. Trái lại, tất cả 11 quốc gia khác đã đấu tranh công khai, ôn hòa, hợp pháp, không bạo động, không vọng ngọai và nhất là không liên kết với QTCS.
Hơn nữa trong khi ĐCSĐD đã đứng vào hàng ngũ QTCS để đấu tranh võ trang nhằm lật đổ các đế quốc tư bản Tây Phương, thì các đảng quốc gia tại Á Châu đã chủ trương hợp tác và thương nghị với đế quốc cũ để giành lại tự trị trong giai đoạn đầu và độc lập trong giai đoạn sau. Cũng vì vậy họ đã tiết kiệm được nhiều hy sinh xương máu và thời gian giành độc lập đã được rút ngắn rất nhiều (từ 1 đến 4 năm sau Thế Chiến Thứ Hai, thay vì 30 năm như trường hợp Việt Nam)

c) Từ 1946 đến 1949 tất cả các đế quốc Tây Phương đã lần lượt tự giải thể để trả độc lập cho 12 thuộc địa Á Châu:

Độc lập năm l946: Phi Luật Tân thuộc Hoa Kỳ, Syrie và Liban thuộc Pháp.
Độc lập năm l947: Ấn Độ và Đại Hồi thuộc Anh
Độc lập năm l948: Miến Điện, Tích Lan và Palestine thuộc Anh
(Quốc gia Do Thái đuợc thành lập).
Độc lập năm l949: Việt Nam, Ai Lao, Cao Miên thuộc Pháp,Nam Dương thuộc Hoà Lan (1)

d) Năm 1919 tại Hội Quốc Liên (tổ chức tiền thân của Liên Hiệp Quốc), Tổng Thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson đề xướng quyền Dân Tộc Tự Quyết để khuyến cáo các Đế Quốc Tây Phương từng bước trả tự trị và độc lập cho các thuộc địa Á Phi. Từ đó trào lưu tiến hóa tất yếu của lịch sử là sự giải thể tiệm tiến của các đế quốc Tây Phương. Trào lưu tiến hóa này đã thể hiện năm 1935 khi Hoa Kỳ trả tự trị cho Phi Luật Tân và năm 1936 khi Pháp trả tự trị cho Syrie và Liban.

Như vậy lịch sử đã chứng minh rằng đấu tranh không bạo động, không vọng ngoại và không liên kết với QTCS là đường lối khôn ngoan và hữu hiệu nhất để giành tự trị và độc lập cho quốc gia. Ngược lại, đứng vào hàng ngũ QTCS để đấu tranh võ trang nhằm lật đổ các đế quốc Tây Phương là một sai lầm chiến lược. Vì đây không phải là chiến tranh giành độc lập mà là chiến tranh ý thức hệ giữa QTCS và Thế Giới Dân Chủ. Kinh nghiệm dân gian cảnh giác rằng hễ trâu bò húc nhau là ruồi muỗi chết! (3 triệu nạn nhân tại Triều Tiên, 3 triệu tại Việt Nam, 2 triệu tại Miên Lào và 1 triệu tại A Phú Hãn). Những nạn nhân này đã hy sinh, không phải để giành độc lập quốc gia, mà để cho ĐCS cướp chính quyền.

NHẬN ĐỊNH THỨ HAI VỀ VIỆC GIÀNH ĐỘC LẬP.

a) Trung thành với chủ nghĩa quốc tế vô sản, ĐCSĐD đã phủ định chủ nghĩa dân tộc (2). Họ không chủ trương giành độc lập vì quốc gia dân tộc và không quan niệm độc lập quốc gia như một cứu cánh tối hậu, một mục tiêu chiến lược phải tranh thủ với bất cứ giá nào, với bất cứ hy sinh nào, kể cả việc hy sinh những quyền lợi riêng tư của các đảng phái. Lịch sử đã chứng minh rằng ĐCSĐD chỉ sử dụng cuộc đấu tranh giành độc lập như một chiêu bài, một chiến thuật hay một phương tiện để đạt được mục tiêu chiến lược của họ là Cướp Chính Quyền. Họ đã chống đối bất cứ giải pháp độc lập nào không cho họ độc quyền lãnh đạo quốc gia.

b) Ngày 27-3-l947 Hội Đồng Chính Phủ Ramadier và Hội Đồng các Chính Đảng Pháp (lãnh đạo Quốc Hội) đã công bố Quyết Nghị về chính sách mới của Pháp tại Việt Nam. Theo Quyết Nghị này Pháp không chủ trương tái lập các thuộc địa tại Á Châu. Pháp tán thành nguyện vọng chính đáng của nhân dân Việt Nam về độc lập và thống nhất (ba miền cùng chung một lịch sử, một chủng tộc, một văn hóa và một ngôn ngữ).(3)
Đặc biệt là cũng trong năm 1947, Pháp đã chính thức đăng ký Việt Nam là một quốc gia độc lập tại Liên Hiệp Quốc. (4)

c) Chủ quyền độc lập của Việt Nam đã được thừa nhận bởi Hiệâp Định Elysée ngày 8-3-1949 ký kết giữa Tổng Thống Pháp Vincent Auriol và Quốc Trưởng Bảo Đại. Ngày 6-6-1949 Quốc Hội Pháp phê chuẩn Hiệp Định Elysée. Từ đó chiếu công pháp quốc tế Việt Nam được hòan toàn độc lập, các hiệp ước ký với Pháp trong hậu bán thế kỷ 19 đã bị bãi bỏ (5).

Thời gian này, tháng 3-l949, Trung Cộng đang thôn tính lục địa Trung Hoa và đã chiếm đóng Bắc Kinh. Theo sách lược của QTCS, việc cộng sản hóa Trung Hoa sẽ mở đầu cho việc cộng sản hóa hai bán đảo Đông Dương và Trìêu Tiên. Trước nguy cơ này, các nhà lãnh đạo phe Thế Giới Dân Chủ chủ trương giữ vững Việt Nam trong hàng ngũ thế giơí dân chủ chống lại âm mưu thôn tính của phe QTCS.

Vì Việt Nam là một quốc gia liên kết với Pháp, nên giữa Việt Nam và Pháp có nghiã vụ an ninh hỗ tương. Nay Việt Nam đang bị đe doạ về an ninh quốc nội (nội loạn) và an ninh quốc ngoại (ngoại xâm), nên Pháp có nghiã vụ phải mang quân (hay điều quân) để bảo vệ biên thùy Việt Nam. Theo quy chế Liên Hiệp Pháp biên thùy của Việt Nam là biên thùy của Liên Hiệp Pháp và đồng thời cũng là biên thùy của Thế Giới Dân Chủ.
d) Mặc dầu vậy ĐCSĐD đã phủ nhận nền độc lập này. Họ tiếp tục chiến đấu võ trang để được độc quyền yêu nước, độc quyền kháng chiến, độc quyền thương nghị với Pháp, độc quyền ký hiệp ước với Pháp và rồi độc quyền lãnh đạo quốc gia.

Để vận động toàn dân chiến đấu võ trang, ĐCSĐD đã tuyên truyền rằng Pháp đem quân trở lại Việt Nam để tái lập chế độ thuộc địa. Do đó họ phải chiến đấu võ trang chống Pháp để giành lại độc lập cho quốc gia.

Đây là một luận điệu tuyên truyền xuyên tạc. Vì từ năm 1947 Hội Đồng Chính Phủ và Chính Đảng Pháp đã quyết định không tái lập chế độ thuộc địa tại Á Châu và tán thành nguyện vọng độc lập của nhân dân Việt Nam. Trước đó, năm 1946, Pháp đã trả độc lập cho Syrie và Liban. Cũng trong năm 1947 Pháp đã đăng ký Việt Nam là một quốc gia độc lập tại LHQ. Và năm 1949 bằng Hiệp Định Elysée, Tổng Thống và Quốc Hội Pháp đã chính thức thừa nhận chủ quyền độc lập và thống nhất của Việát Nam.

NHẬN ĐỊNH THỨ BA VỀ VIỆC THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC.

a) Năm l975 ĐCSĐD đã không có công thống nhất đất nước. Vì theo quốc tế công pháp quốc gia Việt Nam đã được độc lập và thống nhất từ năm l949 chiếu Hiệp Định Élysée ngày 8-3-l949.
Ngày 23-4-l949, Quốc Hội Nam Kỳ đã biểu quyết giải tán chế độ Nam Kỳ Tự Trị để sát nhập lãnh thổ Nam Kỳ vào quốc gia Việt Nam độc lập và thống nhất.

b) Tuy nhiên ĐCSĐD đã phủ nhận nền độc lập này và đã phá hoại nền thống nhất này. Lý do là vì Hiệp Định Élysée không cho họ độc quyền lãnh đạo quốc gia. Do đó họ vẫn tiếp tục chiến đấu võ trang để ký Hiệp Định Genève chia đôi đất nước và cướp chính quyền tại Miền Bắc năm l954. Và rồi họ lại tiếp tục chiến đấu võ trang để cướp chính quyền tại Miền Nam năm l975.

Kể từ năm 1955, ĐCSĐD lại tuyên truyền rằng Mỹ đã thay thế Pháp để thống trị Miền Nam. Do đó họ phải chiến đấu võ trang chống Mỹ để giải phóng Miền Nam và thống nhất đất nước. Đó cũng là một luận điệu tuyên truyền xuyên tạc. Vì quân đội Mỹ chiến đấu tại Triều Tiên và Việt Nam không phải để thống trị 2 quốc gia này mà để bảo vệ biên thùy của Thế Giới Dân Chủ.

c) Tấm bản đồ Việt Nam ông cha chúng ta đã tạo lập nên hồi đầu thế kỷ 19. Sau này vì hèn yếu và nhu nhược, chúng ta đã phải nhượng cho Pháp 6 tỉnh Miền Nam. Năm 1949 đồng bào Miền Nam đã hành sử quyền dân tộc tự quyết để thâu hồi chủ quyền lãnh thổ và bồi đắp lại tấm bản đồ từ Nam Quan đến Cà Mâu. Tuy nhiên bằng chiến tranh võ trang, Hồ Chí Minh đã cầm tay xé đôi tấm bản đồ năm 1954 để cướp chính quyền tại Miền Bắc. Và rồi cũng bằng chiến tranh võ trang, năm 1975, các đồng chí của ông ta đã cướp nốt chính quyền tại Miền Nam. Rồi họ lấy băng keo dán 2 mảnh dư đồ lại và tuyên bố rằng: “Hồ Chí Minh có công thống nhất đất nước”.

Chúng tôi đưa ra những nhận định này trên cương vị một người nghiên cứu sử học và luật học, chứ không với tư cách một cán bộ tuyên truyền cho một chủ thuyết hay một chế độ chính trị nào.

ĐỐI CHIẾU CÁC PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC TẠI Á CHÂU.

Muốn có một cái nhìn khách quan và trung thực, chúng ta hãy đối chiếu công cuộc đấu tranh giành độc lập tại Việt Nam với các phong trào giải phóng dân tộc khác tại Á Châu.
Sau Thế Chiến Thứ Hai, trong số 14 nước thuộc địa, bảo hộ và giám hộ tại Á Châu, chỉ có 3 nước Đông Dương dưới quyền lãnh đạo của ĐCSĐD là đã đấu tranh võ trang, bạo động, vọng ngọai và liên kết với Quốc Tế CS. Trái lại các đảng quốc gia tại 11 nước Á Châu khác đã chủ trương đấu tranh công khai, ôn hòa, hợp pháp, không bạo động, không vọng ngoại và nhất là không liên kết với Quốc Tế CS.
Từ l946 đến l949 tại Á Châu, tất cả các đế quốc Tây Phương Mỹ, Anh, Pháp, Hòa Lan đã lần lượt tự giải thể để trả lại độc lập cho các nước thuộc địa, bảo hộ hay giám hộ.

1) 1946: Phi Luật Tân độc lập Hoa Kỳ là quốc gia đi tiền phong trong việc giải phóng thuộc địa. Nguyên là một cựu thuộc địa, Hoa Kỳ có truyền thống đấu tranh giải phóng dân tộc. Nhân dân Hoa Kỳ có cảm tình với những phong trào đấu tranh giành độc lập tại Á Phi.
Đầu thập niên 1930, Luật Sư Quezon, lãnh tụ Đảng Quốc gia Phi Luật Tân tới Hoa Thịnh Đốn để vận động Quốc Hội Hoa Kỳ ban hành quy chế tự trị và độc lập cho Phi Luật Tân. Năm l934 Quốc Hội Hoa Kỳ biểu quyết thông qua Luật Tydings-McDuffie Act công nhận Phi Luật Tân là một quốc gia tự trị (dominion) từ 1935. Trong đạo luật này có khỏan quy định rằng, 10 năm sau, đúng ngày quốc khánh Hoa Kỳ (4 tháng 7, 1945) Phi Luật Tân sẽ được hoàn toàn độc lập. Tuy nhiên tới ngày đó, Chiến Tranh Thái Bình Dương chưa kết thúc, nên Phi Luật Tân chỉ được tuyên bố độc lập ngày 4-7-1946, trễ mất một năm vì lý do chiến cuộc.

Trong thời chiến tranh, L.S. Quezon được mời tham gia Ủy Ban Chiến Tranh vùng Thái Bình Dương, và người phụ tá của ông, L.S. Roxas đã hoạt động tình báo cho tướng McArthur.
Khẩu hiệu đấu tranh của Đảng Quốc Gia Phi Luật Tân là “Độc Lập do Hợp Tác” (Independence through Cooperation).

2) 1946: Syrie và Liban độc lập.

Nếu Hoa Kỳ có truyền thống đấu tranh giải phóng dân tộc, thì Pháp cũng là quốc gia có truyền thống Tự Do, Bình Đẳng, Bác Ái tiến bộ nhất trong lịch sử loài người.
Tại Syrie và Liban, lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc là Đảng Nhân Dân tại Syrie và L.S. Dabbas tại Liban. Dabbas đã từng du học tại Paris, nơi đây ông hay biết rằng, ngoài các đảng bảo thủ chủ trương duy trì thuộc địa còn có Đảng Xã Hội Pháp chủ trương giải phóng lao động và giải phóng thuộc địa.

Năm 1936 Mặt Trận Bình Dân nắm chính quyền, Thủ Tướng Xã Hội Léon Blum ký hiệp ước với Syrie và Liban để trả tự trị cho 2 quốc gia này. Và 10 năm sau, năm 1946 quân đội Liên Hiệp Pháp rút lui để trả độc lập cho Syrie và Liban.

3) 1947: Ấn Độ và Đại Hồi độc lập.
Sau các Đế Quốc Hoa Kỳ và Pháp, đến lượt Đế Quốc Anh bắt đầu tự giải thể. Tới Thế Chiến Thứ Hai, Anh Quốc đã thành lập được một đế quốc lớn nhất từ cổ chí kim chạy từ Bắc Mỹ qua Âu Châu, Phi Châu, Á Châu và Úc Châu. Người ta thường nói “mặt trời không bao giờ lặn trên Đế Quốc Anh”. Vậy mà 2 năm sau Thế Chiến Thứ Hai, năm 1947, Đế Quốc Anh bắt đầu tự giải thể.

Tại Ấn Độ, 3 nhà lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc là các luật sư Gandhi, Nehru và Jinnah. Các vị này đã từng du học tại Anh, nơi đây họ hay biết rằng, bên cạnh Đảng Bảo Thủ chủ trương duy trì thuộc địa, còn có Đảng Lao Động Anh chủ trương giải phóng lao động và giải phóng thuộc địa.

Năm 1947 Thủ Tướng Lao Động Clement Attlee trả độc lập cho Ấn Độ và Đại Hồi, và qua năm sau, 1948, trả độc lập cho Miến Điện, Tích Lan và Palestine, mặc dầu mọi phản kháng quyết liệt của Churchill, lãnh tụ Đảng Bảo Thủ.

Khác với ĐCSĐD, Đảng Quốc Hội Ấn Độ chủ trương đấu tranh công khai, ôn hòa, hợp pháp, không bạo động, không vọng ngoại và nhất là không liên kết với Quốc Tế CS.
Với một dân số quá đông (400 triệu, so với 20 triệu ở Việt Nam năm 1945) trong một xã hội lạc hậu, nghèo đói, thất học, với những mâu thuẫn trầm trọng về tôn giáo, chủng tộc, ngôn ngữ, đẳng cấp và giai cấp, cuộc đấu tranh tại Ấn Độ 10 lần khó hơn tại Việt Nam. Vậy mà Ấn Độ đã giành được độc lập 2 năm sau Thế Chiến Thứ Hai, trong khi dân tộc ta đã phải hy sinh xương máu dòng dã trong 40 năm.

4) 1948: Miến Điện, Tích Lan, Palestine độc lập.
Người anh hùng dân tộc Miến Điện là Aung San (thân phụ bà Aung San Suu Kyi hiện lãnh đạo phong trào Dân Chủ tại Miến Điện). Cũng như Gandhi, Aung San tình nguyện chiến đấu trong Quân Đội Hoàng Gia Anh. Cùng với U Nu, ông thành lập Liên Đoàn Nhân Dân Tự Do Chống Phát Xít để hợp tác với Đế Quốc Anh, chống Nhật...
Năm l948 Miến Điện được trao trả độc lập.

Tại Tích Lan Hiến Pháp năm l931 ấn định thời gian tập sự tự trị là 15 năm. Với chủ trương Thiện Chí và Hợp Tác (Good Will and Cooperation), Đảng Quốc Gia Tích Lan đã giành được tự trị năm l945 và độc lập năm l948.
Tại Do Thái hai nhà lập quốc Ben Gourion và Moshe Dayan thuộc Đảng Lao Động cũng tình nguyện chiến đấu trong Quân Đội Đồng Minh trong hai trận thế chiến. Năm l948 với sự yểm trợ của Hoa Kỳ, quốc gia Do Thái được thành lập dưới sự bảo trợ của LHQ. Cũng trong năm này, Palestine đã thoát quyền giám hộ của Đế Quốc Anh.

5) 1949: Nam Dương độc lập.
Sau các Đế Quốc Anh Mỹ Pháp đến lượt Đế Quốc Hòa Lan tự giải thể năm l949. Phong trào giải phóng dân tộc Nam Dương được phát động bởi giới trí thức du học Hòa Lan. Trong khi Đảng CS theo sách lược bạo động võ trang thì Đảng Quốc Gia Nam Dương chủ trương đấu tranh ôn hòa bất bạo động bằng canh tân và giáo dục. Sukarno lập Câu Lạc Bộ Văn Hoá Bandung và Hatta lập Hội Giáo Dục Quốc Gia Nam Dương để nâng cao dân trí và chấn hưng dân khí. Hatta du học 10 năm tại Hoà Lan và Sjahrir đã từng gia nhập Đảng Lao Động Hoà Lan trong thời gian du học.
Năm 1942 Nhật chiếm đóng Nam Dương, Sukarno hợp tác với Nhật. Tháng 8, l945 Nhật đầu hàng Đồng Minh, Sukarno tuyên bố Nam Dương độc lập. Nhưng rồi quân đội Hòa Lan theo chân quân đội Anh sang giải giới quân đội Nhật, Sukarno chủ trương thương nghị với Hoà Lan.
Trong những năm l946 và l948, Đảng CS Nam Dương phát động chiến đấu võ trang để phá thương nghị. Thời gian này nước láng giềng Phi Luật Tân đã được độc lập. Tổng thống Truman vận động LHQ áp lực Hoà Lan phải hòa đàm với chính phủ Sjahrir. Lúc này Hoa Kỳ đang thực thi Kế Hoạch Marshall để tái thiết Âu Châu thời hậu chiến nên tiếng nói của Hoa Kỳ có trọng lượng đối với Hòa Lan. Hội Nghị Bàn Tròn La Haye được triệu tập dưới sự bảo trợ của LHQ. Tháng 12-1949, do Hiệp ước La Haye, Hòa Lan thừa nhận chủ quyền độc lập của Nam Dương.

Staline thiết lập Đế Quốc Sô Viết: Ảnh Hưởng đối với Việt Nam.

Như vậy là từ 1946 đến 1949 tất cả các đế quốc Tây Phương như Anh, Mỹ, Pháp, Hoà Lan đã lần lượt tự giải thể để trả độc lập cho các thuộc địa Á Châu.
Trong khi đó tại Đông Âu, Staline đã thiết lập một đế quốc mới mệnh danh là Đế Quốc Sô Viết bằng cách thôn tính 3 nước Baltic là Lithuanie, Lettonie và Estonie. Sau đó, Liên Xô thiết lập “bức màn sắt” tại 7 nước Đông Âu là Ba Lan, Hung Gia Lợi, Tiệp Khắc, Đông Đức, Albanie, Bulgarie, và Roumanie (bức màn sắt là chữ của Churchill).

Từ đó, chiến tranh lạnh hay chiến tranh ý thức hệ bộc phát giữa Quốc Tế CS và Thế Giới Dân Chủ.
Các nhà lãnh đạo phe Thế Giới Dân Chủ như Truman, Churchill và De Gaulle nhất quyết không trao Đông Dương cho ĐCSĐD vì họ không muốn Staline mở rộng bức màn sắt từ Đông Âu qua Đông Á.

Riêng tại Việt Nam, De Gaulle cũng nhất quyết không trao Nam Kỳ cho Hồ Chí Minh vì Nguyễn Ái Quốc là cán bộ QTCS phụ trách vùng Đông Nam Á.
Cũng vì vậy mà hồi tháng 12-1945 De Gaulle đã mời cựu hoàng Duy Tân từ đảo Réunion tới Paris thương nghị.

Nhiều tài liệu cho biết De Gaulle đã chấp thuận trên nguyên tắc để Duy Tân về nước đầu năm l946. Trước đó, hai bên sẽ ký một hiệp ước công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do và tự trị trong Liên Bang Đông Dương và trong Liên Hiệp Pháp. Chính phủ Việt Nam sẽ được toàn quyền quản trị về mặt nội bộ. Tuy nhiên vì lúc này ĐCSĐD đã cướp chính quyền tại Miền Bắc, nên quân đội Pháp còn phải ở lại Việt Nam một thời gian với tư cách là quân đội Liên Hiệp Pháp, để giúp Việt Nam giải quyết các vấn đề an ninh quốc nội (nội loạn) và an ninh quốc ngoại (ngoại xâm). Theo quy chế của tổ chức Liên Hiệp Pháp, giữa Pháp và Việt Nam có nghĩa vụ an ninh hỗ tương. Do đó quân đội Pháp có nghĩa vụ bảo vệ biên cương của Việt Nam, đồng thời cũng là biên cương của Liên Hiệp Pháp.
Rất tiếc là mùa Giáng Sinh 1945 Duy Tân đã tử nạn máy bay trên sa mạc Trung Phi trên đường từ Paris về thăm nhà. Nhiều người cho đây là một vụ phá hoại. Nguyên nhân phi cơ phát hỏa là vì ‘’õhết xăng’’õ. Đây là một nguyên nhân hy hữu vì không một phi hành đoàn nào chịu cất cánh nếu máy bay không chứa đủ săng nhớt.

Việc Duy Tân mất đi là một đại bất hạnh cho Việt Nam cũng như cho Pháp. Vì nếu đầu năm l946 Duy Tân về nước lập chính phủ quốc gia giành lại tự trị, độc lập và thống nhất cho Việt Nam thì chiến tranh Việt Pháp sẽ có cơ tránh được. Hồ Chí Minh sẽ không còn được độc quyền yêu nước và có lẽ chẳng còn ai muốn gia nhập ĐCSĐD nữa (năm 1945 ĐCSĐD chỉ có 5 ngàn đảng viên).

Lúc này Đảng CS Pháp đã thông tri cho Staline và Hồ Chí Minh biết rằng De Gaulle đã có giải pháp quốc gia về Việt Nam. Cũng vì vậy mà, tháng 11-1945, Hồ Chí Minh đã phải giả bộ giải tán ĐCSĐD và vội vã thành lập một chính phủ liên hiệp quốc gia với sự tham gia của Cách Mạng Đồng Minh Hội (với Nguyễn Hải Thần) và Việt Nam Quốc Dân Đảng (với Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Tường Tam) để làm bình phong thương nghị với Pháp.
Ngày 6-3-1946 tại Hà Nội, nhân danh chính phủ liên hiệp, Hồ Chí Minh ký Hiệp Ước Sơ Bộ Sainteny và chấp thuận mọi điều khỏan mà De Gaulle đã thỏa thuận với Duy Tân: Việt Nam là một nước tự do và tự trị trong Liên Bang Đông Dương và trong Liên Hiệp Pháp. 15 ngàn quân Pháp được đồn trú tại Bắc Kỳ trong thời hạn 5 năm.

Sau đó hồi tháng 9-l946 tại Paris, Hồ Chí Minh đã đến nhà riêng của Moutet để xin ký Thỏa Ước Tạm Thời (Marius Moutet là đồng chí cũ trước khi Nguyễn Ái Quốc bỏ đảng Xã Hội để gia nhập ĐCS Pháp).

Tuy nhiên mặc dầu lúc này De Gaulle đã từ nhiệm, các nhà lãnh đạo Thế Giới Dân Chủ vẫn nhất quyết không trao Đông Dương cho ĐCSĐD.
Không còn hy vọng cướp chính quyền bằng ngoại giao, Hồ Chí Minh phát động chiến tranh võ trang ngày 19-12-1946.
Bằng hành động gây chiến này, Hồ Chí Minh đã vi phạm Hiệp Ước Sơ Bộ Sainteny và Thỏa Ước Tạm Thời Moutet.
Do đó, 3 tháng sau, ngày 27-3-1947 Hội Đồng Chính Phủ Ramadier cùng Hội Đồng các Chính Đảng Pháp công bố Quyết Nghị về chính sách mới của Pháp tại Việt Nam, theo đó Pháp tán thành nguyện vọng chính đáng của nhân dân Việt Nam về độc lập và thống nhất.
Điều đáng chú ý là lãnh tụ Cộng Sản Maurice Thorez và lãnh tụ Xã Hội Marius Moutet đã ký tên vào Quyết Nghị này cùng với thủ tướng Ramadier.

Ngoài ra cũng trong năm 1947 tại Liên Hiệp Quốc, Pháp đã chính thức đăng ký 3 nước Đông Dương (Việt Miên Lào) là những quốc gia độc lập.
Như vậy là từ năm 1947 Pháp đã công bố ý định trao trả độc lập và thống nhất cho Việt Nam và đã đăng ký Việt Nam là một quốc gia độc lập tại Liên Hiệp Quốc. (Sở dĩ Việt Nam không được gia nhập LHQ vì gặp sự phản kháng của Liên Xô hành sử quyền phủ quyết.)

Năm 1947, nếu Hồ Chí Minh là người yêu nước, nếu Nguyễn Ái Quốc là nhà ái quốc biết đặt quyền lợi của quốc gia dân tộc lên trên quyền lợi của đảng phái, thì ông ta đã phải lập tức ngưng chiến để cho phe quốc gia có điều kiện hòa đàm và ký kết với Pháp một hiệp ước để giành lại độc lập và thống nhất cho Việt Nam.
Tuy nhiên Hồ Chí Minh không phải là người yêu nước, Nguyễn Ái Quốc không phải là nhà ái quốc nên ông ta vẫn tiếp tục đẩy tới chiến tranh võ trang để phá vỡ mọi giải pháp độc lập quốc gia.

Mặc dầu vậy các chính phủ Pháp kế tiếp vẫn trung thành với Quyết Nghị của Hội Đồng Chính Phủ và Chính Đảng Pháp năm 1947.

Ngày 7-12-1947 Cao Uy Bollaert ký Hiệp Ước Sơ Bộ Vịnh Hạ Long với Quốc Trưởng Bảo Đại, để thừa nhận chủ quyền độc lập của Việt Nam. Hiệp Ước Sơ Bộ này được chính thức hóa bởi Hiệp Ước Vịnh Hạ Long ngày 5-6-1948 ký kết giữa Cao Ủy Bollaert và Tướng Nguyễn văn Xuân, Thủ Tướng Chính Phủ Quốc Gia Lâm Thời, với sự bối thự của Quốc Trưởng Bảo Đại. Theo Hiệp Ước này Pháp long trọng thừa nhận nền độc lập của Việt Nam và Việt Nam được quyền tự do tiến hành thủ tục để thực hiện nền thống nhất quốc gia chiếu nguyên tắc dân tộc tự quyết.

Và ngày 8-3-1949 tại Điện Elysée (Paris) Tổng Thống Pháp Vincent Auriol, nhân danh Tổng Thống Cộng Hòa Pháp và nhân danh Chủ Tịch Liên Hiệp Pháp, đã ký với Quốc Trưởng Bảo Đại Hiệp Định Elysée Công Nhận Việt Nam Thống Nhất Và Độc Lập Trong Liên Hiệp Pháp. (Quy chế Liên Bang Đông Dương đã bị bãi bỏ)
Do Quyết Nghị ngày 23-4-1949 Quốc Hội Nam Kỳ đã giải tán chế độ Nam Kỳ tự trị và sát nhập Nam Phần vào quốc gia Việt Nam độc lập và thống nhất.
Ngày 6-6-1949 Quốc Hội Pháp phê chuẩn Hiệp Định Elysée và chính thức thừa nhận quốc gia Việt Nam độc lập và thống nhất.

Chúng ta không nên có thành kiến cho rằng gia nhập Liên Hiệp Pháp là vi phạm chủ quyền quốc gia. Vì các nước Ấn Độ, Đại Hồi, Canada, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan v...v... cũng là những quốc gia độc lập trong Liên Hiệp Anh.

Về mặt an ninh quốc phòng, nếu năm 1949 Việt Nam không gia nhập Liên Hiệp Pháp thì quân đội viễn chinh Pháp phải rút khỏi Việt Nam (như tại Syrie và Liban năm 1946). Và chỉ trong một tuần lễ (như tại Nam Hàn năm 1950), phe Quốc Tế Cộng Sản sẽ nhuộm đỏ toàn thể bán đảo Đông Dương.

Khách quan mà xét, năm 1949 độc lập trong Liên Hiệp Pháp là giải pháp tối ưu cho Việt Nam. Chúng ta có thể sử dụng các chuyên viên Pháp là những người am hiểu phong tục tập quán, biết rõ dân tình nước ta, lại có những kinh nghiệm về khai thác nông lâm súc, công kỹ nghệ thương mãi, xây cất cầu cống, đường sá, sông ngòi, hải cảng, cồn đảo v...v... Ngoài ra họ còn có thể cố vấn chúng ta để xây dựng môt nền giáo dục phổ thông, một nền hành chánh hiện đại và một nền tư pháp độc lập để tiến tới tam quyền phân lập và dân chủ pháp trị.

Về mặt phát triển, chúng ta có sẵn thị trường Liên Hiệp Pháp để xuất cảng các hàng hóa và các nông, lâm, khoáng sản v...v... Do đó, năm 1949, độc lập trong Liên Hiệp Pháp là giải pháp tối ưu cho Việt Nam.

Nhưng rồi ĐCSĐD đã đưa dân tộc ta vào con đường chông gai chết chóc trong suốt 40 năm (từ 1949 đến 1989). Đại hạnh của Ấn Độ là có một Gandhi theo chủ nghĩa dân tộc. Đại bất hạnh của Việt Nam là có một Nguyễn Ái Quốc theo chủ nghĩa quốc tế vô sản.
Tổng kết lại, Chiến Tranh Đông Dương Thứ Nhất có thể chia làm 3 giai đoạn:

1) l946-l947: chiến tranh giành độc lập.
2) 1947-1949: hoà đàm và thương nghị.
3) l949-1954: chiến tranh ý thức hệ giữa QTCS và Thế Giới Dân Chủ (như Chiến Tranh Triều Tiên). Vì từ 1949 Việt Nam đã giành được độc lập nên chiến tranh không phải để giải phóng dân tộc nữa, mà là một phương tiện giúp CS cướp chính quyền.
Chỗ tế nhị là phe Thế Giới Dân Chủ đã được đại diện bởi Liên Hiệp Pháp, một tổ chức sáng lập bởi Cộng Hòa Pháp là một quốc gia bị mang tiếng đã thôn tính Việt Nam làm thuộc địa để khai thác. Hơn nữa năm 1946 Quân Đội Pháp đổ bộ Hải Phòng với tư cách Quân Đội Viễn Chinh. Kể từ 1949 Quân Đội Pháp chiến đấu dưới danh nghĩa Quân Đội Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương để bảo vệ biên thùy của Việt Nam. Sự thay đổi danh nghĩa là một vấn đề pháp lý tế nhị mà người dân khó có thể nhận định được.

HIỆP ĐINH ĐÌNH CHIẾN GENÈVE 1954 VÀ HIÊP ĐINH HÒA BÌNH PARIS 1973.

Chiến Tranh Đông Dương Thứ Nhất kết thúc bởi Hiệp Định Đình Chiến Genève ngày 20-7-1954 (giống như Hiệp Định Đình Chiến Bàn Môn Điếm ngày 27-7-l953 tại Triều Tiên).
Hiệp Định Genève là một hiệp ước thuần túy quân sự có tác dụng “ đình chiến và ấn định một giới tuyến quân sự tạm thời ”. Tại vùng giới tuyến thuộc quyền kiểm soát của quân đội bên nào thì chính quyền bên ấy phụ trách việc quản trị hành chánh.
Vì là một hiệp ước quân sự, Hiệp Định Genève chỉ mang chữ ký của 2 tướng lãnh đại diện Quân Đội Bắc Việt (là Thiếu Tướng Tạ Quang Bửu) và đại diện Quân Đội Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương (là Thiếu Tướng Henri Delteil).

Vì không tham chiến ở Việt Nam nên Hoa Kỳ không ký tên vào Hiệp Định Genève.
Quốc gia Việt Nam cũng không ký. Chiếu Hiệp Định Elysée 1949, Việt Nam là một hội viên liên kết của Liên Hiệp Pháp. Khi có chiến tranh, quân đội Việt Nam và quân đội Pháp sẽ cùng chiến đấu dưới danh nghĩa quân đội Liên Hiệp Pháp. Một Bộ Tham Mưu Hỗn Hợp được thành lập với một tướng lãnh Pháp làm tư lệnh hành quân và một tướng lãnh Việt Nam làm tham mưu trưởng. Vì Hiệp Định Genève là một hiệp ước thuần tuý quân sự, nên về phía Liên Hiệp Pháp chỉ cần có chữ ký của vị tư lệnh hành quân Henri Delteil là đủ.
Ngày hôm sau, 21-7-1954, một Bản Tuyên Ngôn Sau Cùng khuyến cáo hai miền Nam Bắc hiệp thương và tổ chức tổng tuyển cử trong những năm 1955 và l956. Tuy nhiên tuyên ngôn không phải là hiệp ước. Vì đây chỉ là bản Tuyên Ngôn Ý Định (declaration d’intention) không mang chữ ký của bất cứ phái đòan nào nên không có giá trị pháp lý (Cũng như các bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Bảo Đại ngày 11-3-1945, của Hồ Chí Minh ngày 2-9-1945 và của Sukarno ngày 17-8-1945).
Vả lại cũng trong ngày 21-7-1954, ngoại trưởng Quốc GiaViệt Nam Trần Văn Đỗ và trưởng phái đoàn Hoa Kỳ Bedell Smith đã ra tuyên cáo minh thị phản kháng sự áp đặt các giải pháp chính trị trong một hiệp ước quân sự, mà không có sự thỏa thuận của phái đoàn Quốc Gia Việt Nam. (7)

Hiệp Định Đình Chiến Genève, theo danh xưng, chỉ là một bản hiệp ước thuần tuý quân sự để quy định giới tuyến quân sự hay ranh giới ngưng bắn: ngưng bắn tại chỗ (da beo) hay ngưng bắn theo một giới tuyến (vĩ tuyến 38 tại Triều Tiên, vĩ tuyến 17 tại Việt Nam). Nó không áp đặt những giải pháp chính trị. Vấn đề thống nhất Nam Bắc là một vấn đề chính trị thuộc quyền dân tộc tự quyết sẽ do hai quốc gia ấn định sau này (như trường hợp Triều Tiên: sau hơn 50 năm vẫn chưa có giải pháp chính trị). Do đó Việt Nam Cộng Hoà không vi phạm Hiệp Định Genève khi khước từ tổng tuyển cử năm 1956. (8)
Hiệp Định Hòa Bình Paris 1973 trái lại, là một hiệp ước ngoại giao và có tác dụng chính trị. Trước hết về mặt nghi thức nó mang chữ ký của các đại biểu các quốc gia kết ước:

Trần Văn Lắm, ngoại trưởng Việt Nam Cộng Hòa
Williams Roger, ngoại trưởng Hoa Kỳ
Nguyễn Duy Trinh, ngoại trưởng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và
Nguyễn Thị Bình, ngoại trưởng Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam

Điều 15 Hiệp Định Hòa Bình Paris quy định rằng “ việc thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hoà bình trên căn bản thương nghị và thỏa thuận giữa Miền Bắc và Miền Nam, không bên nào cưỡng ép bên nào, không bên nào thôn tính bên nào. Thời gian thống nhất sẽ do Miền Bắc và Miền Nam đồng thỏa thuận ” (theo nguyên tắc nhất trí) (9)
Vậy mà 2 năm sau, năm 1975, khi chữ ký của họ còn chưa ráo mực, Bắc Việt phát động chiến tranh võ trang để thôn tính Miền Nam. Hội trường đã nhường chỗ cho chiến trường, thương nghị thỏa thuận đã bị bạo lực cưỡng chế, và phương pháp hòa bình đã bị chiến tranh võ trang xoá bỏ.
Đây là mộtï vi phạm thô bạo Hiệp Định Paris. Luật pháp văn minh của loài người đã bị thay thế bởi luật rừng xanh.

KẾT LUẬN:
Nói tóm lại:
1) Phủ nhận chủ nghĩa dân tộc, ĐCSĐD đã phạm sai lầm chiến lược khi liên kết với QTCS để đấu tranh bạo động võ trang khiến dân tộc ta phải hy sinh xương máu dòng dã trong 40 năm.

2) ĐCSĐD không có công giành độc lập năm 1954 vì Việt Nam đã được độc lập từ 1949 chiếu Hiệp Định Elysée. Hơn nữa, Việt Nam đã được đăng ký tại Liên Hiệp Quốc là một quốc gia độc lập từ 1947.

3) ĐCSĐD không có công thống nhất đất nước năm 1975 vì Việt Nam đã được thống nhất năm 1949 khi Quốc Hội Nam Kỳ biểu quyết giải tán chế độ Nam Kỳ tự trị để sát nhập Nam Phần vào lãnh thổ quốc gia Việt Nam độc lập và thống nhất.

4) Trên bình diện dân tộc 3 cuộc Chiến Tranh Đông Dương là những cuộc chiến tranh vô ích, vô lý và vô nghĩa.

5) Vì vậy Đảng Cộng Sản không có tư cách và không có tính chính thống để độc quyền lãnh đạo quốc gia từ trước tới nay và từ nay về sau. Và chế độ CS phải được giải thể để cho người dân được quyền mưu cầu hạnh phúc trong một chế độ Dân Chủ Pháp Trị, trong đó các dân quyền và nhân quyền được tôn trọng, kinh tế quốc gia được phát triển và công bằng xã hội được thực thi.

L.S. Nguyễn Hữu Thống
(Phục Hồi Sự Thật Lich Sử)

CHÚ THÍCH
1) Hai nước còn lại là Mã Lai và Tân Gia Ba trong Liên Bang Mã Lai Á. Năm 1948 Đảng CS Mã Lai lập chiến khu chiến đấu võ trang. Để dẹp nội loạn, chính phủ Anh ban hành tình trạng thiết quân luật. Từ năm 1952 đảng Quốc Gia Mã Lai đưa ra chủ trương “độc lập do hợp tác chủng tộc” kết hợp các sắc dân Mã Lai, Trung Hoa và Ấn Hồi. LS Abdul Rahman đã từng làm phó chưởng lý tại Anh. Abdul Razah phục vụ trong quân đội Hoàng Gia Anh thời Thế Chiến Thứ Hai. Sau 5 năm tự trị, Mã Lai được độc lập năm 1957.
Năm 1959 đến lượt Tân Gia Ba được giải phóng do chủ trương ‘’độc lập nhờ liên lập’’ (với Mã Lai trong Liên Bang Mã Lai Á). Lý Quang Diệu đã từng gia nhập Luật Sư Đoàn Luân Đôn và đảng Lao Động Anh trong thời gian du học.
Năm 1989, khi hòa bình Đông Dương vãn hồi, dân số tại 3 nước Đông Dương là 61 triệu và tại 11 cựu thuộc địa Á Châu khác là 1 tỷ 40 triệu.
2) Năm 1930 danh xưng “ĐCSVN” đã bị QTCS bác bỏ và thay bằng danh xưng ‘’õĐCSĐD’’õ
3) Nguyễn Khắc Ngữ: Bảo Đại, các Đảng Phái Quốc Gia và sự thành lập Chính Quyền Quốc Gia.
4) Everyone’s United Nations, ấn bản năm 1986, trang 332.
5) Nguyễn Khắc Ngữ, sđd.
6) Tự Truyện Gandhi: Trí Hải. Cũng như tại Ấn Độ, phe thực dân hạ cấp tại Đông Dương gồm 20 ngàn ngừơi da trắng. Bọn này chống lại cả người Việt yêu nước và người Pháp dân chủ.
7) Thế Nguyên: Đông Dương 1945-1973.
8) Đề cập đến tổng tuyển cử tại một nước CS chỉ là chuyện khôi hài. Trong hơn 50 năm tại Bắc Việt có bao giờ người công dân được hành sử quyền tự do ứng cử và tự do bầu cử?
9) Thế Nguyên, sđd.

UNESCO vinh danh Hồ chí Minh ?

UNESCO vinh danh Hồ chí Minh ? Vinh danh gì, Ai nói thế ?

--------------------------------------------------------------------------------

Nhơn dịp tháng 5.
Nhắc lại một chuyện cũ của 13 năm về trước
để trả lời một số e-mails từ Việt nam gởi ra :


UNESCO không thi hành Quyết nghị "Hồ Chí Minh là nhà văn hóa"


Nguyễn Ðông A thuật
Nam Linh - Phan Văn Song ghi


Mười năm sau, báo An ninh thế giới, số 177 xuất bản tại Hà nội cho đăng một bài với tựa "Bảo vệ lể kỷ niệm 100 ngày sinh của bác Hồ ở trụ sở Unesco (Pháp)".

Tại sao "bảo vệ" ? Nếu lể sanh nhựt 100 năm của HCM được Unesco tổ chức thì không cần phải bảo vệ bởi phía Tòa Ðại sứ Hà nội, bởi vấn đề an ninh đã thường xuyên được Unesco đãm trách.

Phải bảo vệ như lời tựa của bài báo viết (báo công an) vì buổi lể kỷ niệm ấy thật sự không được Unesco tổ chức mà do hoàn toàn Tòa Ðại sứ Hà nội tự lo liệu.

Diễn tiến sự việc :

Năm 1987, Ðại hội đồng Unesco đã chấp thuận một quyết nghị tôn vinh Hồ Chí Minh là danh nhơn thế giới (nhà giải phóng dân tộc, nhà văn hóa). Theo quyết nghị này, Unesco sẽ trợ cấp cho Hà nội một ngân khoản để tổ chức lể kỷ niệm 100 năm taị trụ sở Unesco Hà nội, ấn hành tranh ảnh, sách báo nói về sự nghiệp văn hóa và giải phóng của lão. Riêng Unesco tại Paris cũng sẽ tổ chức lể kỷ niệm tại trụ sở với sự tham dự của Ban lãnh đạo Unesco, đại diện chánh phủ Pháp và Thị xã Paris.

Sở dỉ Quyết nghị này được thông qua dễ dàng ở Ðại hội đồng vì ông M'Bow, một người phi châu đen, làm Tổng Giám đốc Unesco có xu hướng thân Cộng sản đã tích cực vận động các thành viên trong Unesco.

Ngay khi Quyết nghị vừa được phổ biến, cộng đồng người Việt tại Paris liền lập tức hop nhau lại để tìm phương cách phản đối Unesco.

Một tổ chức thành hình : ỦY BAN TỐ CÁO TÔI ÁC HỒ CHÍ MINH gồm một Tổng Thư Ký và nhiều Ủy Viên . Ông Nguyễn Văn Trần được các thân hữu ủy nhiệm làm Tổng Thư Ký với sự hợp tác trợ lực tích cực của các ông Trần Văn Ngô, Chu Vũ Hoan, Nguyễn Thừa Thính, Nghiêm Văn Thạch, Vũ Hạ .. Ủy Ban Vận động kiều bào ở khắp nơi : Hoa Kỳ, Úc, Canada và Âu Châu, viết thư cho Unesco phản đối Quyết nghị sai lầm kia và vạch trần tội ác Hồ Chí Minh từ khi nắm chánh quyền ở Hà nội và của chế độ qua các biến cố cụ thể như vụ Nhân văn Giai phẩm, cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp, vụ thảm sát Mậu Thân Huế và ở miền Nam sau 1975, việc tập trung cải tạo, đánh tư sản mại bản, đày dân đi kinh tế mới, tổ chức vượt biển thu vàng, thảm nạn vượt biển ..

Ðồng thời Ủy ban cũng kêu gọi báo chí việt ngữ hải ngoại tố cáo tội ác của Hồ Chí Minh và chế độ cộng sản Hà nội viết lại và phổ biến để ngăn chận ảnh hưởng của Nghị quyết Unesco này.

Ông Nguyễn Văn Trần liên hệ với tướng Simon, chủ tịch Ủy Ban Tương trợ Việt-Miên-Lào và chủ tịch Hội cựu Ðông Dương ANAI, để kêu gọi Hội cựu chiến binh Pháp lên tiếng tố cáo tội ác của Hồ Chí Minh và Ðảng Cộng sản đã vi phạm Nhơn quyền đối với tù binh pháp sau chiến tranh đông dương.

Ông Nguyễn Văn Trần liên hệ với Thị xã Paris và một số dân biểu, nghị sĩ Pháp am hiểu về chế độ cộng sản Hà nội để yêu cầu họ đặt những câu hỏi với chánh phủ Pháp tại Quốc hội Pháp để có thái độ đối với Quyết nghị Unesco, bởi Pháp là quốc gia đón nhận trụ sở Unesco.

Bức tường Bá linh sụp đỗ kéo theo khối Cộng sản Ðông âu đã ảnh hưởng sâu đậm đến nếp suy nghĩ về Cộng sản của các nước Âu châu và của thế giới. Ông Frédéric Mayer, người Tây ba nha vừa đắc cử Tổng giám đóc Unesco. Ông nầy am hiểu cộng sản nên không có xu hướng ủng hộ phe khuynh tả trong Unesco như ông M'Bow trước kia. Kiều bào Việt nam ở khắp nơi viết thư gởi về Unesco, có đến hàng hai mươi ngàn thư phản đối, yêu cầu hũy bỏ Quyết nghị. Số thư này được ông Giám đốc trách nhiệm vùng Ðông Nam Á ở Unesco cứ tuần tự đến cuối tuần chuyển đến đại diện Hà nội tại Unesco.

Ông Nguyễn Văn Trần sưu tầm tài liệu tại các thư viện và văn khố Pháp chứng minh sự đề cao HCM của Hà nội như là một vĩ nhơn là hoàn toàn dối trá. Thân phụ của Hồ Chí Minh say rượu phạt đòn làm chết oan một tội nhơn nên bị mất chức chứ hoàn toàn không vì chống Pháp mà từ quan. Không còn nguồn lợi tức để sanh sống và học hành , HCM bỏ vào Phan Thiết nhờ Hội Liên Thành nhận cho dạy học sanh sống qua ngày. Nhưng số học sanh của một tỉnh lẽ lúc bấy giờ không đủ bảo đảm cho y một mức sống ổn định nên năm sau đó y rời Phan thiết vào Sài gòn để xuống tàu Pháp xin làm phụ bếp cho có đồng lương đêù đặng và khá giả hơn.

Hồ Chí Minh xuống tàu Pháp tại bến Nhà Rồng ở Sài gòn hoàn toàn chỉ nhằm tìm kế sanh nhai cho bàn thân và gởi tiền về nước giúp phụ thân thôi.

Vì cha y thuộc diện hành chánh của chánh quyền thuộc địa nên Hồ Chí Minh làm đơn xin ban học bổng để mong sau này "giúp ích Nhà nước Pháp". Ðơn xin bị từ chối. Qua các văn kiện do HCM viết và khai báo ghi nhận : HCM có nhiều ngày sanh khác nhau. Ngày chết của y cũng bị Ðảng Cộng sản thay đổi: ngày 2 tháng 9 năm 1969 biến thành ngày 3 tháng 9.

Những chi tiết hộ tịch này đã phơi bày sự thiếu chánh xác và sự dối trá đã giúp Ủy ban Tố cáo tội ác Hồ Chí Minh thuyết phục Unesco không thể chấp nhận ngày 19/5 là ngày sanh của HCM. Một cơ quan văn hóa và khoa học của Liên Hiệp Quốc không thể chấp nhận sự dối trá được.

Từ đấy, Unesco bắt đầu nghi ngờ thành tích của Hồ Chí Minh là "nhà văn hóa" và tin những lời phản kháng của cộng đồng người Việt nam ở hải ngoại, bởi không ai hiểu rõ HCM hơn người Việt nam và đặc biệt những người Việt nam nạn nhơn của chế độ Hồ Chí Minh.

Thế là trước ngày 19 tháng 5 năm 1990, ông Nguyễn Văn Trần được mời đến Unesco cùng với Tướng Simon để Unesco cho biết quyết định của họ là không thi hành Quyết nghị. Unesco giải thích là không thể hủy bỏ Quyết nghị được, bởi muốn hủy bỏ phải thông qua Ðại Hội dồng, với nhiều thủ tục phiền toái.

Tiếp theo đó, Unesco thông báo cho Hà nội biết quyết định với những chi tiết như sau:

1/.- Unesco không tổ chức lễ 100 năm của HCM tại Paris và Hà nội.

2/.- Cho Tòa Ðại sứ Hà nội ở Paris mướn (dấu sắc) một phòng trong trụ sở Unesco Paris để tự tổ chức (Hà nội muốn thuê hai phòng , nhưng không được phòng thứ hai vì bị Ủy ban Tố cáo Tội ác HCM can thiệp ngăn chặn).

3/.- Unesco và chánh quyền Pháp, kể cả Thị xã Paris không tham dự lễ.

4/.- Ban tổ chức không được lạm dụng để tuyên truyền chánh trị và đề cao HCM là " nhà văn hóa" theo tinh thần Quyết nghị.

5/.- Thiệp mời không được in hình HCM và ghi lễ "sanh nhựt HCM và nhà văn hóa" .. mà chỉ ghi mời " tham dự buổi văn nghệ".


Quyết định không thi hành Quyết nghị củ Unesco với những ngăn cấm như trên đây đã được Văn Chấn , tác giả bài báo của An ninh thế giới, số 177 thừa nhận nguyên văn như sau:


" .. Ðiển hình là một số người Việt nam lưu vong ở Pháp, Mỹ và một số nước đã tụ tập nhau ở Paris thành lập cái gọi là "Ủy ban chống tôn vinh HCM" (thật sự là Ủy ban tố cáo tội ác HCM, nhưng tác giả sợ phạm húy nên cải "tố cáo tội ác" thành "chống tôn vinh") do các tên Nguyễn Văn Trần, Nguyễn Thừa Thính, Chu Vũ Hoan.. Chúng tích cực vận động một số nhơn vật hữu phái trong chánh quyền các nước ký tên vào thư yêu cầu Tổng Thư ký Unesco hũy bỏ quyết định kỷ niệm ngày sanh của bác. Chúng viết bài cho các báo phản động người Việt nam xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời bác..

Ðã sắp đến ngày kỷ niệm, nhưng Ban lảnh đạo Unesco vẫn chưa dứt khoát lại còn gây sức ép thuyết phục ta đồng ý tổ chức kỷ niệm ở bên ngoài trụ sở Unesco vơí lý do nhiều ý kiến phản đối. Với thái độ kiên quyết của phía ta lãnh đạo Unesco chấp nhận một thỏa hiệp: bỏ một vài hoạt động hình thức tuyên truyền chánh trị, không treo ảnh bác trong hội trường, trong triển lãm ảnh bác ở hành lang Unesco, trong giấy mời phải ghi là đến xem văn nghệ, ..

Ba ngày trước lễ kỷ niệm, tình hình lại không diễn ra như ta mong muốn.Tổng Thư ký Unesco mời đại diện phía ta đến gặp và yêu cầu hoãn lễ kỷ niệm với lý do ta không giử đúng lời hứa vì trong giấy mời có in hình bác và ghi "Nhơn dịp kỷ niệm 100 ngày sanh HCM, danh nhơn thế giới" (Ðúng là VẸM). .. Cuối cùng ta trả lời với ông Tổng Thư ký là đã thay đổi ... Tuy nhiên ta cho in 100 giấy mời mới thôi (để mời người ngoại quốc) còn giấy cũ gởi cho Liên hiệp Việt kiều yêu nước - hội ngoại vi của Hà nội - phân phối.

Về phần nội dung buổi lễ ta có thay đổi chút ít. Ðồng chí Ðại sứ của ta không đọc bài diển văn đã dọn sẳn mà thay vào đó Ðồng chí Nguyễn Kinh Tài, Ðại sứ bên cạnh Unesco đọc bài diển văn ngắn nói về ý nghĩa lễ kỷ niệm, đọc Quyết định của Ðại Hội đồng Unesco về kỷ niệm 100 ngày sanh của bác. Chủ tịch Hội đồng người Việt tại Pháp (Hội Liên hiệp Việt kiều yêu nước) phát biểu ý kiến về công lao của bác đối với dân tộc và thế giới, cuối cùng là chương trình xem văn nghệ do đoàn cải lương trong nước phục vụ "

(An ninh thế giới - số 177 trang 14 )

Trong phần cuối Văn Chấn khoác loác hôm ấy có đến "2000 người tham dự nhờ các võ sĩ ngăn chận những người đến phá". Sự thật là hôm ấy không quá 70 người tham dự và hoàn toàn không có ai muốn đánh phá và ngăn chận nhóm "Việt kiều yêu nước" tham dự.


Nhận xét:

Buổi lễ 19/5/1990 hoàn toàn do Tòa Ðại sứ Hà nội tại Paris tổ chức trong một căn phòng của Unesco do họ thuê mướn.

Không có đại diện của Unesco và chánh quyền pháp đến dự.

Buổi lễ đã không được thực hiện đúng theo tinh thần Quyết Nghị "Hồ Chí Minh là một danh nhơn thế giới" mà chỉ là một buổi trình diển văn nghệ bình thường. (Ðại sứ Phạm Bình của Hà nội không được quyền đọc diển văn và khôngt được quyền nói về HCM như là một danh nhơn).

Ðảng Cộng sản Việt nam và nhà cầm quỳên Hà nội đã không biết lấy làm xấu hổ về những hành động lật lọng và gian trá của mình đối với một cơ quan văn hóa quốc tế (vụ tráo trở thiệp mời - ct: đừng nghe những gì CS nói .. nhìn những gì CS làm ) mà lại còn khoe khoan đề cao như là một thành tích thắng lợi.

Ðiểm thiếu sót đáng tiếc của Ủy ban Tố cáo tội ác Hồ Chí Minh là đã không quảng bá sâu rộng thành quả tranh đãu là Unesco không thi hành Quyết nghị, bởi nghỉ rằng đã thắng lợi như vậy là đủ rồi.

Do đó mà 10 năm sau, Hà nội mới dám lên tiếng khoe thành tích "bảo vệ" lễ kỷ niệm 100 ngày sanh của HCM.

Hồi Nhơn Sơn 31 tháng 5 năm 2003
Nguyễn Ðông A (một thành viên của Ủy Ban Tố cáo Tội ác Hồ Chí Minh) thuật
Nam Linh Phan Văn Song ghi

http://www.phusa.net/thoiSu/yKienBan...iQuyet_HCM.htm


--------------------------------------------------------------------------

UNESCO và Hồ Chí Minh - Bùi Tín 8/2005

Bùi Tín,
cựu đại tá QDNDVN cs, phó tổng biên tập báo Nhân Dân, có hơn 40 năm tuổi đảng,
vào Dinh Độc Lập Saigon 30/4/75, đang sống tại Pháp,
đang đấu tranh vì một nước VN "tự do dân chủ, đa nguyên đa đảng" ... ( và không cs cai trị ?),
ba của ông là cụ Bùi Bằng Đoàn, quan chức lớn thời vua Bảo Đại, làm phó chủ tịch nước (?) thời bác Hồ mới cướp chính quyền vua Bảo Đại.

--------

TTV: Bài viết dưới đây trích từ cuốn sách "San sẻ tình yêu thương", viết riêng cho tuổi trẻ trong và ngoài nước của nhà báo Bùi Tín, sẽ ra mắt bạn đọc tháng 9 này. Đoạn này là trả lời bạn Phương Nam hỏi nhà báo Bùi Tín khi còn ở Úc, nay ông trả lời chung.

- Thế còn việc UNESCO suy tôn Hồ Chí Minh là "Danh nhân Văn hoá Thế giới" thì thế nào ? Người bảo có, người bảo không, sự thật là thế nào? Tôi từng dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội trường Ba đình Hànội vào ngày 19-5-1990, có một số bạn bè quốc tế dự đến từ Liên xô, Trung quốc, Cu-ba, Bắc Triều tiên, Lào, Cam-bốt, Pháp, Anh, Angiêri… Tôi gặp ông A.Patti (người Mỹ, trong tổ chức tình báo OSS từng có mặt ở Việt Bắc và Hànội hồi cách mạng tháng Tám 1945) tại đây; có ông R.Chandra, người Ấn độ, nguyên trước kia là chủ tịch Hội đồng Hoà bình thế giới dự. Không có đại diện nào của UNESCO. Và cũng không ở đâu UNESCO đứng ra tổ chức lễ kỷ niệm cả. Để trả lời bạn Phương Nam hỏi, tôi đã đến hỏi tại trụ sở chính của UNESCO ở Paris. Đầu đuôi là thế này. UNESCO có nếp làm việc: nhân kỷ niệm ngày sinh những nhân vật nổi bật của các nước thành viên vào những năm chẵn thứ một trăm (năm sinh lần thứ 1, 2, 3 , 4 hay 5 trăm năm ) thì các nước gửi đề nghị đến UNESCO, UNESCO ghi nhận, xem xét và khuyến cáo các nước thành viên tham gia và Chủ tịch UNESCO có thể ủng hộ, hỗ trợ các nước ấy nếu cần. Vì đây là tổ chức về giáo dục, khoa học và văn hoá nên người được đề nghị phải có hoạt động nổi bật về 1 trong 3 mặt này. Cuộc họp của Đại hội đồng UNESCO lần thứ 24 ngày 25-5-1987 tại Paris xét thư đề ngày 14-7-1987 của bộ trưởng Võ Đông Giang, chủ tịch UNESCO của Việt nam, thông báo rằng Việt nam sẽ tổ chức trọng thể kỷ niệm ngày sinh lần thứ một trăm của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào dịp 19-5-1990 , chủ tịch Hồ Chí Minh còn là "nhà văn hoá xuất săc của Việt nam" ; cuộc họp quyết nghị: - ghi nhận (noter) thông báo của Việt nam; - khuyến cáo ( recommander) các nước hội viên tham gia kỷ niệm; - yêu cầu (prier) Ngài Tổng giám đốc UNESCO ủng hộ (soutenir) việc kỷ niệm, nhất là ở Việt nam.

- Cùng trong phiên họp này, UNESCO ghi nhận đề nghị của Liên xô kỷ niệm lần thứ một trăm ngày sinh của "nhà văn và nhà giáo dục lớn" Semionovitch Makarenko ; ghi nhận đề nghị của Cộng hoà liên bang Đức về kỷ niệm lần thứ 500 ngày sinh của nhà "tiên tri cấp tiến" (prédicateur progressiste) Thomas Mùnzer ; ghi nhận đề nghị của Thái lan về kỷ niệm lần thứ 1 trăm ngày sinh của nhà phê bình văn học uyên bác Phya Anuman Rajadhon; và cuối cùng là đề nghị của Thổ nhĩ kỳ (Turquie) về kỷ niệm 4 trăm năm ngày sinh của "nhà kiến trúc kiệt xuất" Sinan, từng xây dựng nhà thờ Hồi giáo kỳ vỹ Suleymaniye giữa thủ đô Istanbul cùng nhiều công trình ở vùng Balkan và các nước Ả-rập, đều vào dịp 1990.

Nhưng sau đó, một số thư từ, kiến nghị, bài báo gửi đến UNESCO phản đối mạnh mẽ quyết định này, suốt cả năm 1988, 1989 và đầu năm 1990, nêu bật sự kiện thuyền nhân và trại cải tạo, của chính những người trong cuộc với phim ảnh kèm theo, nêu rõ bản chất chế độ đàn áp tàn bạo do ông Hồ chí Minh lập nên, một chế độ phi nhân - phản văn hoá. UNESCO còn tiếp hàng chục đoàn đại biểu từ Pháp, Mỹ, Anh chống đối việc UNESCO dính vào một việc không được dư luận tán đồng. Thế là ông chủ tịch UNESCO quyết định lờ đi, không tham gia việc kỷ niệm để bảo toàn uy tín tổ chức quốc tế này. Còn chính phủ Việt nam làm gì thì tuỳ họ. Vì chưa đến cuộc họp sau nên vấn đề này không đưa ra Đại hội đồng UNESCO.

- Trước ngày kỷ niệm 19-5-1990, 2 sự kiện dồn đến. Bức tường Berlin đổ sập; một loạt chế độ cộng sản Đông Âu tan biến. Hànội mất một loạt đồng minh. Tổng giám đốc UNESCO Amadou M’Bow người châu Phi bê bối về tài chính bị thay thế bởi ông Frederico Leillor người Tây ban nha; ông này ra hẳn chủ trương: UNESCO không tổ chức cũng không tham dự một hình thức nào kỷ niệm ông Hồ; ông cũng nói rõ : không có khoản tiền nào của UNESCO để chi cho việc này nữa. Đến ngày kỷ niệm, Sứ quán Việt nam ở Paris vất vả chạy vạy thuê một phòng nhỏ ở trụ sở UNESCO để vớt vát thể diện. Ban quản trị trụ sở UNESCO còn giao hẹn không được treo ảnh và apphích ngoài hành lang, giấy mời chỉ được ghi là dự một tối văn nghệ. Giấy mời của sứ quán in hình trụ sở UNESCO làm nền bị Văn phòng UNESCO phản đối là ‘’không được phép, không nghiêm chỉnh ‘’(incorrect) phải huỷ . Một đoàn múa rối nước từ Hànội sang biểu diễn; cuộc kỷ niệm dự định vài trăm, chỉ có dưới một trăm người Việt của sứ quán và Hội Việt kiều "yêu nước" cùng mươi người của đảng CS Pháp. Đầu đuôi câu chuyện là thế. Cái gọi là "Bác Hồ chúng ta được UNESCO của Liên Hợp Quốc ra nghị quyết tuyên dương, công nhận là anh hùng dân tộc và danh nhân văn hoá thế giới, và UNESCO tổ chức long trọng lễ kỷ niệm" hoá ra là thế . Cần rõ ràng, minh bạch như thế.


http://www.danchimviet.com/php/modul...rticle&sid=450

--------------------------------------------------------------------------------

- Guide des Archives de l'UNESCO
http://www.unesco.org/general/fre/in...archives.shtml

- UNESCO không bao giờ vinh danh Ho Chi Minh !
Vinh danh nghĩa là phải thoả thủ tục truyền thống Unesco :
1/ đề bạt;
2/ Unesco đứng ra tổ chức long trọng buổi lễ vinh danh và chi tiền, nghị quyết vinh danh, phải ghi trong phần INVITES của Resolution tên những Đại Diện Unesco tham dự, ...

- Service des archives et de la gestion des dossiers de l'UNESCO
7, place de Fontenoy, 75352 Paris 07 SP - France
Tél.: 00 33.1.45.68.19.50/55 ; email : j.boel@unesco.org
Horaires d'ouverture :
Jeudi et vendredi de 14h à 18 h sans rendez-vous préalable.
Sur rendez-vous du lundi au vendredi de 9h à 12h30 et de 14h à 18h.
Fermé les jours fériés français
bpiweb@unesco.org
Hỏi Chi tiết để biết sự bưng bít và xuyên tạc Sự thật của dcsvn !

. số Ref. nghị quyết vinh danh (chứ không phải đề bạt, khuyến cáo) một số nhân vật quốc tế, ngày, ai ký : có hay không ?
. UNESCO có đứng ra tổ chức vinh danh không, có tham dự không, có chi tiền không, thiệp mời tham dự có nhân danh Unesco không, Chính phủ Pháp có tham dự không, ai tham dự ?
. Chuyện gì đã xảy ra khiến "đề bạt vinh danh" bị Unesco huỷ bỏ qua CẢNH CÁO 5 ĐIểM gởi cho sứ quán VN khi sứ quán đơn phương đứng ra tổ chức "buổi văn nghệ" ? (vì sự thật về hcm không phải vậy; có thể liên hệ Unesco Paris để biết : "Cảnh cáo 5 điểm" mà Unesco gởi cho Sứ quán VN tại Paris; có tài liệu -factures- nào của Unesco chứng tỏ hổ trợ chi phí nào về "vụ vinh danh" này không vào năm 1990)

. Lúc đầu, Tổng giám đốc UNESCO Amadou M’Bow người châu Phi, mang tiếng "tham nhũng", “có quan hệ thân thiện” với CSVN nên bê bối trong việc chọn người, xét đề nghị tổ chức vinh danh nhân dịp kỷ niệm sinh nhật 100 nằm.
Nghị quyết khuyến cáo (đề bạt) (nước nào cũng có quyền xin đề bạt vinh danh nhân vật nào đó của nước mình) các nước thành viên ủng hộ việc kỷ niệm ngày sinh lần thứ 100 của HCM và các nhà văn hoá của các quốc gia khác, họp thứ 24 ngày 20/10/1987 đến 20/11/1987 :
Cuộc họp quyết nghị: - ghi nhận (noter) thông báo của Việt nam; - khuyến cáo ( recommander) các nước hội viên tham gia kỷ niệm; - yêu cầu (prier) Ngài Tổng giám đốc UNESCO ủng hộ (soutenir) việc kỷ niệm, nhất là ở Việt nam. (đọc bài của Bùi Tín, cựu đại tá QDND cs, phó tổng biên tập báo Nhân dân; đọc thư "5 điểm" của Unesco cảnh cáo Sứ quán VN tại Pháp)

Recalling : 18 C/resolution (đề bạt) 4.351 Trang 134, mục 18.65, Invites ?
Phần invites (Unesco) trống trơn !!
(Unesco không tổ chức, bác bỏ, không có nghị quyết vinh danh, không có tổ chức buổi lễ vinh danh bởi Unesco theo thường lệ; khuyến cáo của Unesco đ/v Sứ quán VNcs không được nhân danh Unesco làm lễ kỷ niệm 100 năm hcm )
Trong khi những vị khác được vinh danh cùng năm, phấn invites điền đầy đủ tên những ai tham dự, và chính Unesco đứng ra tổ chức buổi lễ.

Sau đó, vì có sự phản đối mãnh liệt của nhiều người, nêu rõ bản chất chế độ đàn áp tàn bạo do ông Hồ chí Minh lập nên, một chế độ phi nhân - phản văn hoá, nên Tổng giám đốc UNESCO Amadou M’Bow bi thay thế.
Tổng giám đốc mới Unesco & Unesco không bao giờ tổ chức, tham gia, chi tiền cho việc vinh danh hcm nhân địp kỷ niệm 100 năm sinh nhật, kể cả đại diện chính phủ Pháp cũng không tham gia !
Sứ quán VN tai Paris phải vớt vát, đứng ra tổ chức « vinh danh trong nội bộ », dưới dạng buổi văn nghệ, không dưới danh nghĩa của Unesco, như bài kể/viết của Nguyễn Ðông A, Bùi Tín. Đó là sự thật.
Công nhận csvn mưu mô, ma mảnh thật, không biết hổ thẹn.

Tại sai csvn không phản bác và khiếu nại Unesco, không đăng báo công khai để BẢO VỆ SỰ THẬT, chứng tỏ sự vô tư, rõ ràng, công minh ? (văn bản khiếu nại của phía CSVN gởi Unesco ? Văn bản trả lời của Unesco ?)

Một bằng chứng là csvn đã "chấp nhận khuyến cáo đề bạt vinh danh hcm đã BỊ Unesco HUỶ BỎ" qua việc Sứ quán csvn "đã chấp hành nghiêm túc 5 răn đe" của Unesco trong việc sứ quán tổ chức đơn phương "kỷ niêm sinh nhật 100 năm hcm" với cái tên "thư mời tham dự buổi văn nghệ" :
1/.- Unesco không tổ chức lễ 100 năm của HCM tại Paris và Hà nội.
2/.- Cho Tòa Ðại sứ Hà nội ở Paris mướn (dấu sắc) một phòng trong trụ sở Unesco Paris để tự tổ chức
3/.- Unesco và chánh quyền Pháp, kể cả Thị xã Paris không tham dự lễ.
4/.- Ban tổ chức không được lạm dụng để tuyên truyền chánh trị và đề cao HCM là "nhà văn hóa" theo tinh thần Quyết nghị.
5/.- Thiệp mời không được in hình HCM và ghi lễ "sanh nhựt HCM và nhà văn hóa" .. mà chỉ ghi mời "tham dự buổi văn nghệ".
(lúc đầu sứ quán vn định qua mặt Unesco, làm thiệp mời có hình Unesco, và Hcm nhà văn hoá, bị Unesco ra lệnh phải huỷ bỏ làm thiệp khác)


==> Kể từ năm 1990-1991 (sinh nhật 100 năm của "bác"), tên "Hồ chí Minh" không được đề cập đến trong bất kỳ một tài liệu nào khác (đề bạt, khuyến cáo; vinh danh) của UNESCO. Điều này có nghĩa là đề nghị năm 1987 đã không được chấp thuận !
Tóm lại, đã không có nghị quyết nào của UNESCO vinh danh hcm là "nhà văn hoá", và Unesco không tưởng niệm cố CT Hồ Chí Minh vào năm 1990.


Dù gì thì HCM vẫn là một nhân vật lịch sử "có tiếng" ("hero", xấu hay tốt cho lợi ích & hạnh phúc của nhân dân VN, có góp phần vào việc hoà bình & tiến hoá của nhân loại thì lịch sử nhân dân VN và thế giới sau này sẽ xét xử, nhất là khi CNCS/XHCN ở VN bị bãi bỏ, tiêu vong, khi quyền tự quyết thực sự về tay nhân dân). Tuy nhiên, dứt khoát là HCM KHÔNG được Tổ chức Văn hoá thế giới Unesco công nhận là Nhà Văn hoá !

-------------------------------------------------------------------

Unesco có thông lệ vinh danh "nhà văn hoá" những nhân vật lịch sử của từng nước nhân dịp ngày sinh nhật 100 năm của nhân vật nào đó được đề nghị và được đại hội đồng Unesco thông qua và Unesco đứng ra tổ chức vinh danh.

Thủ tục vinh danh như sau :
1- Đại diện một nước lập hồ sơ đề nghị vinh danh một nhân vật nước mình nhân dịp sắp tổ chức sinh nhật 100 năm ai đó.
2- Những tiểu bang nhỏ được thành lập (tuỳ theo mỗi năm) để nghiên cứu và chấp thuận hay không. (có khi nhờ "quan hệ cá nhân, ngoại giao", tiểu bang xét chấp thuận dễ dàng)
3- Họp đại hội đồng Unesco để bàn bạc và quyết định thông qua hay không.
4- Nếu thông qua, Unesco sẽ ra một nghị quyết khuyến cáo (đề bạt) và sẽ đứng ra tổ chức buổi lễ vinh danh vào ngày sinh nhật của nhân vật ấy.
5- Nếu không có ai phản bác (dư luận) thì Unesco sẽ đứng ra tổ chức (phối hợp với ĐSQ nước ấy) long trọng buổi lễ vinh danh khi sinh nhật 100 năm đến.
(về thủ tục, ví dụ, cũng giống như đăng ký kết hôn ở Toà thị Chính - Mairie -, TTC sẽ niêm yết và đăng trước công luận, sau một thời gian hạn định nếu không có ai phản bác khiếu nại liên quan đến 2 đương sự thì hôn lễ có thể sẽ được thực hiện và hôn nhân chính thức được luật pháp công nhận)

5- Tổ chức buổi lễ vinh danh : Unesco đứng ra tổ chức tại Unesco Paris, tại thành phố nước ấy và một số nước khác. Thiệp mời đều nhân danh Unesco, có hình Unesco và hình nhân vật ấy.
Ở buổi lễ vinh danh, phải có đại diện cấp cao của Unesco, của chính phủ tại chức của Pháp, và một số đại diện nước khác, ... vv
Mọi chi phí đều do Unesco tài trợ.
6- Khi Unesco tổ chức lễ vinh danh xong thì trong nghị quyết khuyến cáo (đề bạt) vinh danh lúc đầu, phần INVITES cũng phải được ghi những tên của những đại diện cấp cao tham dự buổi lễ vinh danh: Unesco, Chính phủ Pháp, VN, các nước khác, ... tổ chức khác (nếu có).
Ngoài ra, năm ấy, Unesco cũng có một (biên bản) nghị quyết Unesco đã vinh danh những nhân vật đã được đề bạt trước đó vài năm.
(...)

Mọi điểm của thủ tục trên phải được hoàn tất bởi Unesco thì sự vinh danh mới được công nhận, được gọi là THỰC SỰ VINH DANH bởi Unesco !

*
***
*
Giải Trừ Huyền Thoại Unesco Về Hồ Chí Minh

Nghiêm Văn Thạch

Đầu năm 1987, ô. Trần Văn Ngô (Từ Nguyên) là chuyên viên theo dõi thời cuộc trong tập thể tranh đấu tại Pháp, đã triệu tập một buổi họp các nhân sĩ cùng đại diện đoàn thể ở khu vực Paris-Ile de France để báo động : đảng CSVN vận dụng UNESCO để vinh danh Hồ Chí Minh, hy vọng lấy lại hào quang ngụy tạo “anh hùng giải phóng dân tộc” cho xác ướp mà họ đã dựng thành biểu tượng của Xã hội Chủ nghĩa.

Theo tin tức nhận được, CSVN căn cứ vào tập tục UNESCO, nhắc nhở ngày sinh nhật thứ 100 của các vĩ nhân trong lãnh vực cơ quan Liên Hiệp Quốc hành động, xếp đặt ghi tên Hồ Chí Minh vào danh sách sinh nhật bách niên năm 1990, rồi dự tính vận động tiếp, để đến năm ấy sẽ có khoản tài trợ của UNESCO, dùng tổ chức rầm rộ kỷ niệm ở trụ sở Paris ; đài thọ những buổi lễ cùng thời điểm ở VN và tại một số thủ đô, thành phố lớn khắp thế giới ; tổ chức triển lãm và ấn hành sách báo đặc biệt về sự nghiệp lừng lẫy của Hồ Chí Minh, 'nhà cách mạng và nhà văn hóa trác tuyệt' ! ! !

Hội nghị đã thảo luận, phân tách hoàn cảnh cùng thời cơ thuận lợi cho CSVN:

Dư âm cuộc chiến thắng 30.4.1975 khiến Hồ Chí Minh còn lưu giữ cảm tình: trong tả phái Âu Mỹ Úc chưa đủ can đảm thừa nhận sai lầm quá khứ; trong quần chúng Á châu, Phi châu thiếu thông tin nghị luận chính xác.

Phái đoàn đại diện CSVN, theo nguyên tắc luân phiên trong Tiểu ban Văn hóa UNESCO, đến lượt tham gia Ban Chấp hành Tiểu ban; đề nghị của họ chắc chắn được sự chấp nhận của đa số thành viên, là những nước Á Phi, khi trước từng biểu lộ cảm tình thiên lệch trong cuộc chiến VN-2. Khi Tiểu ban đã tán thành, Đại Hội Đồng thường thông qua đề nghị doTiểu ban chuyển lên, không có thảo luận gì cả.

Một yếu tố bất lợi quan trọng khác là hậu thuẫn của ô. M'Bow, Tổng Thư Ký kiêm Giám đốc Văn phòng trung ương UNESCO. Ông trấn nhậm hai nhiệm kỳ liền trụ sở Paris, nhờ sự ủng hộ của Nga Sô cùng chư hầu CS, và các nước Á Phi chống đối Hoa Kỳ. Theo vết thân phụ là lãnh tụ độc tài tham nhũng ở một quốc gia chậm tiến Phi châu, ông đã trắng trợn khai thác thủ lợi guồng máy quản trị cơ quan quốc tế. Thành tích nổi bật của ô. M'Bow là cài đặt rất nhiều thành viên bộ tộc (tribu) của ông, đương nhiên với lương cao bổng hậu, không cần chiếu theo bằng cấp hay khả năng, thậm chí không phải làm việc, không cần có mặt ở sở - vào số viên chức thực thụ (nếu sa thải phải bồi thường rất nặng) của Văn phòng. Nhân số ăn bám cộng với chi tiêu bừa bãi - có hà lạm, nhưng về sau không ai muốn bới móc thêm ra - khiến cho ngân quỹ UNESCO liên tục thâm thủng trầm trọng. Vì thế, tại đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ phủ quyết (veto) đề nghị gia tăng ngân sách dành cho UNESCO, sau đó tạm đình chỉ sự đóng góp cho riêng cơ quan này.

Anh quốc với vài nước Âu Mỹ, hưởng ứng sự tẩy chay góp tiền cho cá mập. Chỉ riêng niên liễm của Hoa Kỳ, đã là ngân khoản cao nhất trong thu nhập của UNESCO mỗi tài khóa. Ô. M'Bow lúc đó chuẩn bị tái ứng cử nhiệm kỳ thứ ba, vậy sẽ ra sức tán trợ đề nghị vinh danh Hồ Chí Minh, để tranh thủ lá phiếu của khối CS và các nước Đệ Tam, luôn thể, để trả đũa sự phản kháng cùng hành động thắt chặt túi tiền của Hoa Kỳ.

Hội nghị cũng lượng định một cách thực tiễn trở ngại lớn lao phải đương đầu, vì thiếu phương tiện tài chính và nhân sự; vì thái độ thờ ơ bất động, dễ phỏng đoán của nhiều thành viên Liên Hiệp Quốc, không cộng sản, gồm cựu thân hữu của VN Cộng Hòa, như Nhật Bản, Đại Hàn, Phi Luật Tân; của giới truyền thông và dư luận kể cả Hoa Kỳ; vì địa vị cô đơn và thiểu số của tập thể tị nạn VN, khó gây nên sức mạnh chuyển đổi cần thiết. Tuy nhiên, hội nghị vẫn quyết tâm đương đầu và nhất trí nỗ lực tìm phương cách giải trừ kế hoạch CSVN, lợi dụng UNESCO để tuyên dương Hồ Chí Minh, và chế độ tàn bạo phi nhân ông tạo lập. Một ủy ban hành động được tức thời thành lập, với ô. Nguyễn Văn Trần là tổng thư ký; phụ tá là một số tuyển chọn trong các nhân sĩ, đại diện đoàn thể hiện diện.

Tại một buổi họp thường kỳ sau đó, ở trụ sở Hội Thanh niên Tị nạn cho xử dụng, ủy ban chọn danh hiệu là Ủy ban Tố cáo Tội ác Hồ Chí Minh. Chủ đích ủy ban tự vạch là tiến tới một luận định quốc tế vô tư, đúng đắn, về các hành động của Hồ Chí Minh và CSVN vi phạm nhân phẩm nhân quyền, hủy diệt văn hóa, mâu thuẫn với mục tiêu của Liên Hiệp Quốc và UNESCO. Ủy ban cũng có ý mong công luận thế giới nhân dịp, duyệt lại những biến cố lịch sử đã bị xuyên tạc, bóp méo, bởi thành kiến với nhãn quan một chiều của phe phản chiến, đặc biệt là Tòa án Chiến tranh VN do Bertrand Russell đề xướng. Công tác khẩn yếu là thâu thập những dữ kiện đích xác về tội ác của Hồ Chí Minh và đảng CSVN, yêu cầu chứng nhân và nạn nhân, tiếp tay với Ủy ban lập thành hồ sơ, sẽ trình bày trong một cuốn hắc thư (livre noir), coi như bản cáo trạng trước thế giới. Cùng lúc, chiến dịch gửi thư phản kháng tới UNESCO được phát động.

Hầu hết các cơ quan truyền thông Việt ngữ - báo chí, chương trình phát thanh, bản tin nội bộ, ở các nước định cư, đã sốt sắng phổ biến tin tức và tài liệu do Ủy ban cung cấp ; lại tự động đăng tải nhiều bài viết, nhiều thư tố cáo huyền thoại Hồ Chí Minh do ký giả, nhân sĩ, nhà văn hóa giáo dục, đại diện đoàn thể, gửi đến. Vị Giám đốc Đông Nam Á Vụ của UNESCO sau này cho Ủy ban hay, đã tiếp nhận tổng cộng hơn ba-mươi ngàn thư phản kháng. Cộng đồng người Việt ở Pháp, và một vài nước lân cận, đã hăng hái tham dự cuộc biểu tình chống đối, do Ủy ban đề xướng, nhân Ngày Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc 1987, ở công trường Nhân quyền, đối diện tháp Eiffel.

Tại lãnh vực tranh đấu trực diện là UNESCO, ủy ban trù liệu tiếp xúc rộng rãi với các thành viên quốc gia không cộng sản, các thành viên là tổ chức ngoài chính quyền (Organisation Non Gouvernementale - ONG), các nhân vật chủ chốt ở cơ quan Liên Hiệp Quốc, kể cả Tổng Thư Ký M'Bow đương nhiệm. Luận cứ đầu tiên Ủy ban trình bày là CSVN muốn UNESCO lấy ngày 19.5.1990 làm sinh nhật bách niên của Hồ Chí Minh. Nhưng theo sự kê khai của đương sự hồi sinh tiền, và theo các tài liệu chính thức của đảng, Hồ Chí Minh có tới 5 ngày tháng năm sinh khác nhau. Thời điểm lễ kỷ niệm quốc tế ấn định một cách hồ đồ, sẽ khiến cho uy tín của UNESCO và Liên Hiệp Quốc bị thương tổn. Bằng chứng gần cận về lề thói thay đổi dữ kiện lịch sử bởi CSVN, là họ đã loan báo Hồ Chí Minh tạ thế ngày 03.9.1969, trong khi ông mất từ ngày hôm trước, 02.9.1969.

Và để tạo áp lực phía chính phủ Pháp - có ảnh hưởng đáng kể, vì Paris là nơi đặt trụ sở UNESCO - Ủy ban tranh thủ được sự ủng hộ triệt để của Hội Người Pháp Đông Dương (ANAI - Association des Francais d'Indochine) gồm các gia đình Pháp kiều, cựu quân nhân khi trước cư trú hay phục vụ tại ba nước Việt-Mên Lào. Hai bên đồng ý phối hợp chương trình và phương thức vận động. Hội ANAI sẽ nhường cho cộng đồng VN ra mặt trước công luận, đi hàng đầu khi biểu tình, hội họp, để Hội khỏi vướng mắc lời đối phương cáo buộc, có hành động trả thù sự thất trận năm 1954. Do sự thúc đẩy của Hội ANAI, và lời thỉnh cầu của Ủy ban, một số dân biểu, nghị sĩ đối lập lên tiếng chất vấn trên diễn đàn quốc hội, yêu cầu chính quyền - do tả phái lãnh đạo sau khi Mitterand đắc cử tổng thống năm 1981 - bác bỏ sự vinh danh Hồ Chí Minh. Thêm lời rỉ tai ở hậu trường: nếu chính phủ Pháp có thái độ tán thành, Hội ANAI, các chính đảng phái hữu, và Ủy ban hành động của người Việt, sẽ huy động cựu chiến binh gồm thương binh và gia đình tử sĩ trận chiến VN-1 (1945-1954), cùng với thuyền nhân, người tị nạn CS mọi quốc tịch, các đoàn thể như Hội Y sĩ Thế giới, Hội Nhân quyền, v.v... xuống đường liên tiếp khắp nơi. Kết quả là chính phủ Pháp hứa đứng ngoài, không bỏ phiếu nếu Đại hội đồng UNESCO thảo luận nghị quyết đề cao Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên, như đã dự đoán, Tiểu ban Văn hóa với đa số thuận, đã ghi vào nghị trình Đại hội đồng UNESCO năm 1987, danh sách sẽ được tuyên dương năm 1990, gồm 7 nhân vật: Phya Anuman Rajadhon (Thái Lan), Thomas Munzer (Đông Đức), Anton Semionovitch Makarenko (Liên Sô), Hồ Chí Minh (Việt Nam), Jawaharlal Nehru (Ấn Độ), và Sinan (Thổ Nhĩ Ky). Lời tuyên dương Hồ Chí Minh dùng trọn bản văn do phái đoàn CSVN soạn - cũng như lời tuyên dương các nhân vật khác do phái đoàn quốc gia liên hệ đề nghị - được Đại hội đồng thông qua không thảo luận.

Ủy ban đành chuyển qua vận động giảm thiểu tầm vóc tổ chức kỷ niệm. Hai biến cố thời sự đem lại thời cơ thuận lợi cho hành động của Ủy ban và các đồng minh. Ông M'Bow thất cử; ông Frederico Meillor, nhân sĩ Tây-Ban-Nha (Espagne), thay thế làm Tổng Thư Ký UNESCO. Rồi những chính thể cộng sản ở Đông Âu kế tiếp sụp đổ; chấn động vang dội nhất là sự phá hủy bức tường ô nhục ở Bá-Linh (Berlin) và sự thống nhất Đức quốc sớm hơn các lời tiên đoán. Sự phát triển mạnh mẽ của trào lưu dân chủ, có hiệu lực xóa bỏ luôn những công trình che dấu, thổi phồng, hóa trang, của guồng máy tuyên truyền cộng sản. Bộ mặt thực của mô hình chế độ cộng sản, của các lãnh tụ tối cao Staline, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Ceaucescu, Kim Nhật Thành, v.v... dần dần bộc lộ, làm tiêu tan những hình ảnh thần tượng tuyệt đỉnh hoàn mỹ, dựng lên từ mấy chục năm.

Ủy ban được vị tân Tổng Thư Ký Frederico Meillor trấn an : không thể hủy bỏ nghị quyết 1987 (phải do một nghị quyết khác của Đại hội đồng), nhưng UNESCO sẽ không tổ chức kỷ niệm, và không can dự bất cứ hành động nào để vinh danh Hồ Chí Minh tại trụ sở Paris. Thực tế là ngân sách UNESCO do ông soạn thảo, sẽ không dự trù ngân khoản cho công việc đó. Việt Nam cùng nước nào muốn cử hành lễ sinh nhật bách niên của Hồ Chí Minh là tùy ý riêng, không liên quan gì tới UNESCO cả. Do đó, Ủy ban nhận định rằng công tác mà cộng đồng ủy nhiệm đạt kết quả tương đối thỏa mãn. Ủy ban quyết định chấm dứt chiến dịch thư phản kháng ; đình chỉ việc lập hồ sơ, ấn hành hắc thư tố cáo tội ác Hồ Chí Minh và CSVN; không trù liệu tập họp, biểu tình phản đối kỷ niệm sinh nhật Hồ Chí Minh bởi UNESCO, vì sự việc ấy sẽ không xảy ra. Nhưng Ủy ban tiếp tục theo dõi nội vụ, để phản ứng khi cần thiết.

Quả nhiên trước ngày 19.5.1990, Ủy ban được tin rằng, CSVN loan báo mập mờ kỷ niệm trọng thể sinh nhật bách niên của Hồ Chí Minh, tại phòng khánh tiết UNESCO. Một số văn công nghệ sĩ từ quốc nội sang, gồm đoàn múa rối nước, sẽ trình diễn trong buổi lễ, phụ thêm triển lãm và tiếp tân. Tổng thư ký Nguyễn Văn Trần lập tức tới gặp ông Giám đốc Đông Nam Á Vụ UNESCO để chất vấn, mang theo thiệp mời của sứ quán, in hình Hồ Chí Minh với bối cảnh là trụ sở UNESCO. Nhà chức trách đó cho hay UNESCO tiếp đơn giữ chỗ trước, đã theo qui lệ cho sứ quán mướn 2 căn phòng thường dành cho mọi sinh hoạt của thành viên mà thôi. Ông không hay biết chương trình tổ chức, và nếu có thiệp mời, chắc chắn ông Tổng Thư Ký cùng các cộng sự viên sẽ không tham dự. Ông ghi nhận lời phản đối hợp lý của Ủy ban, bảo đảm Văn phòng sẽ đòi sứ quán hủy bỏ thiệp mời có thể gây ngộ nhận. Hội ANAI tiếp xúc với Bộ Ngoại giao Pháp, cũng được xác nhận không có đại diện chính quyền, nhân viên chính phủ, đại diện quốc hội, đại diện Đô thành Paris, tham dự lễ kỷ niệm hay tiếp tân, triển lãm, sứ quán CSVN dự liệu. Sau đó, sứ quán đã phải thu hồi thiệp mời in hình Hồ Chí Minh gửi cho ngoại giao đoàn, thành viên UNESCO, các nhân vật chính quyền và dân sự Pháp; thiệp chỉ xử dụng với tính cách nội bộ để mời Việt kiều.

Một đặc phái viên của Ủy ban tới trụ sở UNESCO ngày 19.5.1990 để kiểm tra, báo cáo rằng chung cuộc, sứ quán chỉ mướn một phòng sinh hoạt nhỏ thay vì hai (gồm thêm một phòng lớn có sân khấu). Nhân số hiện diện khoảng chừng 60, 70 tân khách; hầu hết là hội viên Việt kiều Yêu nước. Lác đác vài khuôn mặt ngoại quốc, phỏng đoán là đảng viên cộng sản Pháp, thành viên các phái đoàn thân hữu với chế độ như Cuba, Trung quốc, Bắc Hàn, Mên, Lào.

Một cuộc biểu tình phản kháng vào đúng giờ khắc buổi kỷ niệm của sứ quán CSVN, qui tụ hơn một trăm người, đã diễn ra ở công trường Fontenoy gần trụ sở UNESCO. Hành động do Ủy ban Quốc tế Trần Văn Bá, không phải là thành viên Ủy ban Tố cáo Tội ác Hồ Chí Minh (vì chưa ra đời năm 1987), đề xướng. Hai đại diện đoàn biểu tình là ông Trần Văn Tòng và ký giả Olivier Todd đến trụ sở UNESCO, đưa lời phản kháng, đã được ông Giám đốc Đông Nam Á Vụ tiếp kiến. Khi nghe xong lời trình bày về lập trường và thái độ của cơ quan Liên Hiệp Quốc, sự can thiệp của Ủy ban Tố cáo Tội ác Hồ Chí Minh, và các biện pháp đã thỏa hiệp, hai vị đại diện đồng ý là UNESCO vô can; đoàn biểu tình sẽ chỉ tập trung hành động, để đả đảo sự vinh danh Hồ Chí Minh, người có tội trước lịch sử nhân loại, đã tàn hại đất nước và dân tộc Việt Nam, và hai nước láng giềng Mên Lào.

Ủy ban Tố cáo Tội ác Hồ Chí Minh chính thức giải tán cuối tháng 5 dl. 1990. Đáng tiếc là Ủy ban không chủ trương quảng bá thành quả công tác, vì cho rằng đó là bổn phận, nên còn có thể có dư luận thiếu chính xác ngay tại Pháp, về thủ đoạn của đảng CS, mập mờ xử dụng danh nghĩa UNESCO, đánh bóng hình tượng Hồ Chí Minh.


Nghiêm Văn Thạch
1990
*
***
*

theo:
http://www.benxua.com/AspNetForums/ShowPost.aspx?PostID=183662&PageIndex=4

Mối liên quan giữa HCM, Đảng CSVN và Đệ Tam Quốc Tế

Mối liên quan giữa HCM, Đảng CSVN và Đệ Tam Quốc Tế
Tôn Thất Thiện

Cần xét lại lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam

Trong thời gian gần đây, có người đề xướng xét lại lịch sử của Việt Nam dưới tất cả các khía cạnh của nó, một cách gắt gao, "không khoan nhượng".

Ý niệm "không khoan nhượng" gồm có hai phần :

1. Sẵn sàng gạt sang một bên tất cả những huyền thoại, tiên kiến, định kiến, thành kiến, ảo tưởng, mơ mộng, dù là đẹp đẽ, đáng qúy, đáng tôn, đáng kính đến đâu ;

2. Rà soát, kiểm tra lại tất cả các sự kiện một cách kỹ càng, và phân tách các vấn đề một cách vô tư, khoa học để đi đến những kết luận hoàn toàn vững chắc, hợp với thực tại và với lô-gích
.

Đề xướng trên đây rất hợp thời.

Một trong những vấn đề của lịch sử Việt Nam cần được xét lại lúc này liên quan đến chế độ cộng sản. Vấn đề này cần được xét lại vì, trong mấy thập niên qua, các cơ quan truyền tin, ấn loát bị những thế lực "tiến bộ", thiên cộng, với sự hỗ trợ của bộ máy tuyên truyền quy mô của các cường quốc cộng sản, đã chi phối dư luận và tô vẽ ông Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam như là những phần tử "quốc gia" Việt Nam, và tình trạng nước Việt Nam và dân Việt Nam chỉ có thể cải thiện được nếu họ đắc thắng và nắm được quyền trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Năm 1975, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã thắng và mở rộng quyền hành của họ trên toàn cõi Việt Nam. Nhưng trong 30 năm qua, tình hình không đuợc như những kẻ đánh bóng cộng sản đã xác quyết. Trái lại, chế độ toàn trị, "cách mạng", và "xã hội chủ nghĩa" cộng sản không những đã cản trở sự phát triển của nước Việt Nam, đè ép nhân dân Việt Nam còn nặng hơn nữa, gây chống đối không những trong hàng ngũ nhân dân, mà ngay cả trong hàng ngũ của đảng viên, cán bộ kể cả những cán bộ đã có công lớn với chế độ. Số người này lại càng ngày càng đông, và sự chống đối của họ lại càng ngày càng mạnh và công khai.

Tình trạng trên đây đòi hỏi phải đặt vấn đề về sự ca tụng cộng sản trong những năm trước 1975. Cần xét lại quá trình của cộng sản ở Việt Nam, nhất là nay sự cứu xét có thể khách quan hơn, nhờ những tiết lộ xuất phát từ ngay trong hàng ngũ đảng cộng sản, của những người đã bỏ đảng, thoát ra ngoài vòng phong tỏa, đe dọa của công an, mật vụ cộng sản, nay được phát biểu tự do, hoặc cán bộ còn trong nước nhưng lên tiếng được nhờ họ chiếm điạ vị, chức vụ quan trọng.

Gần đây, các anh Nguyễn Gia Kiểng và Nguyễn Văn Thế đã có nói về một số khía cạnh của lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam. (Nguyễn Gia Kiểng, "Huyền Thoại Hồ Chí Minh", Thông Luận tháng 6, 2004, "Chủ nghĩa cộng sản đến Việt Nam như thế nào ?", Thông Luận tháng 7+8, 2004 ; Nguyễn Văn Thế : "Tại sao đảng cộng sản Việt Nam thắng ?", Thông Luận, tháng 6, 2004).

Có một khía cạnh nữa, rất căn bản ngày nay, cần được soi sáng, để cho mọi người thấy rõ sự thật, nhất là những người đã gia nhập Đảng Cộng Sản Việt Nam vì tin lời của lãnh tụ đảng. Đó là liên quan giữa ông Hồ Chí Minh, Đảng Cộng Sản Việt Nam và Đệ Tam Quốc tế. Họ đã nghe những lãnh tụ này quả quyết rằng những mục tiêu mà Đảng công bố là mục tiêu của họ - độc lập, tự do, hạnh phúc, công bằng xã hội, v.v. - nhưng ngày nay, những chủ trương, chính sách, hành động, xử trí của đảng mà họ được mục kích lại trái ngược với những gì mà đảng đã hằng tuyên bố. Điều đã đưa họ vào tình trạng này là khi họ gia nhập hay ủng hộ Đảng Cộng Sản Việt Nam, họ không biết rõ rằng họ bị Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam kéo họ vào một tổ chức sẽ nuốt trôi họ, biến họ thành những công cụ của nó. Tổ chức đó là Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản (Komintern, hay Comintern).

Người cộng sản Việt Nam, một công cụ của Liên Xô

Đệ Tam Quốc Tế được thành lập năm 1919. Nó là con đẻ của Lênin. Ông này, sau khi cướp được chính quyền ở Nga, mà ông ta hoàn toàn chi phối qua một đảng "bôn sê vích", muốn có một tổ chức tương tự bao trùm toàn cầu để ông ta có thể chi phối cả toàn cầu. Theo quan niệm của ông, đảng "bôn sê vích" phải là một đảng tổ chức theo lối quân đội, với kỷ luật sắt, với một hệ thống chỉ huy chặt chẽ, và một bộ tư lệnh toàn quyền. Đệ Tam Quốc Tế phải là một đội binh cộng sản quốc tế.

Những điều kiện gia nhập có 21 điều kiện - được ấn định trong Đại hội thế giới của Đệ Tam Quốc Tế năm 1920. Đây là những điều lệ mà chắc là phần đông, nếu không nói chẳng có ai, trong đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam biết đến, khi gia nhập đảng. Nhưng những điều này đuơng nhiên đặt Đảng Cộng Sản Việt Nam dưới sự lệ thuộc hoàn toàn của Đệ Tam Quốc Tế, nghĩa là của Liên Xô, trên ba bình diện cơ chế, mục tiêu, và đường lối.

Trước hết, về mặt cơ chế, Đảng Cộng Sản Việt Nam phải chấp nhận nguyên tắc "tập trung dân chủ", về nội bộ của đảng, cũng như trong liên lạc với Đệ Tam Quốc Tế.

- Điều 12 nói : "Tất cả các đảng thuộc Đệ Tam Quốc Tế phải được tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ".

- Điều 16 nói : "Tất cả các quuyết nghị của các Đại hội thế giới Đệ Tam Quốc Tế, cùng các quyết nghị của Ủy Ban Chấp Hành của Đệ Tam Quốc Tế, đều ràng buộc các đảng gia nhập Đệ Tam Quốc Tế".

- Điều 21 nói : "Đảng viên nào phủ nhận các điều kiện và cương lĩnh của Đệ Tam Quốc Tế sẽ bị loại ra khỏi đảng".

- Theo điều 17, các đảng thành phần của Đệ Tam Quốc Tế chỉ là những chi bộ của Đệ Tam Quốc Tế, vì Đệ Tam Quốc Tế "không phải là một tập hợp của những chi bộ quốc gia, mà là một tổ chức quốc tế thống nhất".

- Điều 13 nói rằng các quyết định của Ủy Ban Chấp Hành "có tính cách ép buộc đối với các chi bộ của Đệ Tam Quốc Tế và phải được thi hành mau chóng".

Ở Ủy Ban Chấp Hành Đệ Tam Quốc Tế (ECCI), trong số 10-12 ủy viên, mỗi đảng lớn được hai ghế, còn các đảng nhỏ không có ghế nào, chỉ có quyền được tham khảo. Liên Xô đương nhiên dành cho mình 5 ghế, cùng chức vị chủ tịch Ủy Ban Chấp Hành vì Liên Xô là quốc gia tiếp nhận tổ chức. Trên Ủy Ban Chấp Hành là một Chủ Tịch Đoàn (Presidium) mà quyền hành còn lớn hơn nữa. Người giữ chúc chủ tịch đoàn này luôn luôn là một người rất thân cận của tổng bí thư Liên Xô, (đến năm 1924 là Lênin, và sau đó là Stalin).

Sự lệ thuộc của các đảng cộng sản đối với Đệ Tam Quốc Tế được tăng cường thêm với điều 1 và điều 15. Theo điều 1, tuyên truyền và vận động phải có tính cách thực sự cộng sản, không đuợc mang tính cách quốc gia, và phải "phù hợp với chương trình và quyết định của Đệ Tam Quốc Tế". Theo điều 15, "các đảng phải lập chương trình thích ứng với điều kiện của nước và đúng với những nghị quyết của Đệ Tam Quốc Tế", nghĩa là chương trình của mỗi đảng phải được "một Đại hội của Đệ Tam Quốc Tế hay Ban Chấp Hành chấp thuận".

Năm 1928, Nội quy Đệ Tam Quốc Tế lại có thêm một điều, điều 29, buộc Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương của mỗi đảng phải trình lên ECCI biên bản và phúc trình về công việc của đảng đó, và phải được ECCI chấp thuận trước khi đảng đó họp đại hội.

Về hệ thống chỉ huy, theo điều 30 của Nội quy 1928, các cán bộ lãnh đạo của một đảng chỉ được từ chức nếu được phép của ECCI ; sự chấp thuận của Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương của Đảng đó không đủ. Về cơ cấu và phương pháp làm việc của các đảng hội viên thì Đệ Tam Quốc Tế nói rõ rằng "mỗi đảng cộng sản phải lệ thuộc sự lãnh đạo của Đệ Tam Quốc Tế” và “các chỉ thị và quyết định của Đệ Tam Quốc Tế ràng buộc các đảng và, tất nhiên mỗi đảng viên của các đảng đó". Hơn nữa, "Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương của một đảng chịu trách nhiệm với Đại hội của Đảng và ECCI". Để kiểm soát chặt chẽ hơn nữa, thỉnh thoảng Đệ Tam Quốc Tế gởi "phái viên" đi dự Đại hội của các đảng.

Theo điều 9 của Nội lệ của ECCI năm 1928, liên hệ giữa các đảng hội viên và các cơ quan trung ương của Đệ Tam Quốc Tế theo nguyên tắc thống nhất và kỷ luật vô sản. ECCI là thượng cấp và các đảng là thuộc cấp, chớ không bình đẳng. ECCI có quyền đòi một đảng hội viên trục xuất một nhóm hay một đảng viên vi phạm kỷ luật, hoặc trục xuất một đảng vi phạm quyết định của Đai hội Đệ Tam Quốc Tế.

Phải từ bỏ tinh thần quốc gia

Theo những điều kiện trên đây, một người Việt gia nhập Đảng Cộng Sản Việt Nam đương nhiên mất hết quyền quyết định về vận mạng Việt Nam, hay của chính mình ! Và từ lúc thành lập và tự nhận là một bộ phận của Đệ Tam Quốc Tế, năm 1930, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã phải từ bỏ một số chủ trương và tuân theo một số chủ trương khác.

Trước hết, về mục tiêu, chủ tịch Zinoviev nói rằng Đệ Tam Quốc Tế là "một đảng duy nhất, với chi bộ ở các quốc gia". Lênin giải thích rằng Đệ Tam Quốc Tế là "một đội quân vô sản quốc tế" mà nhiệm vụ là "thực hiện cách mạng vô sản quốc tế, thiết lập một Cộng Hòa Sô Viết Quốc Tế". Kamenev, một viên chức cao cấp của tổ chức, nói : cần có một ban tham mưu quốc tế để lãnh đạo đội quân cách mạng quốc tế này, và "Đệ Tam Quốc tế là Ban Tổng Tham Mưu của đội quân này".

Kế đến, đảng đó phải từ bỏ những quan điểm cải lương, hòa bình, và quốc gia. Theo điều 2 của Quy chế Đệ Tam Quốc Tế, tổ chức nào xin gia nhập Đệ Tam Quốc Tế "phải loại trừ tất cả những người có quan điểm cải lương và "đứng giữa" và thay thế họ bằng những người cộng sản". Theo điều 17, Đệ Tam Quốc Tế "cương quyết tuyên chiến với toàn thể thế giớí trưởng giả (bourgeois), và tất cả các đảng dân chủ xã hội". Và theo điều 6, một đảng xin gia nhập Đệ Tam Quốc Tế phải "khước từ mọi tinh thần ái quốc, và cả tinh thần chuộng hòa bình về mặt xã hội". Người cộng sản phải từ chối "dân chủ tiểu tư sản" và phương thức không cách mạng (không bạo động).

Một khi đã thâu nhận chủ thuyết Lênin, Đảng Cộng Sản Việt Nam phải loại bỏ tất cả các tư tưởng cải lương, chuộng hòa bình, tinh thần quốc gia, chấp nhận bạo động và độc tài vô sản.

Áp dụng bạo lực là một trong những chủ trương chính của Lênin. (Quan điểm này đã được ông ta trình bày rất rõ ràng trong tác phẩm Quốc Gia Và Cách Mạng). "Độc tài vô sản" được ông ta định nghĩa là "sử dụng bạo lực không chấp nhận một giới hạn nào cả, bất chấp tất cả các luật lệ". Về tinh thần quốc gia và tinh thần quốc tế, Lênin gạt bỏ tinh thần quốc gia, cho đó là môt quan niệm của giới truởng giả (bourgeois), và người cộng sản chỉ biết có một loại tinh thần quốc tế, đó là "chung sức với các người cộng sản khác để chuẩn bị, tuyên truyền, và gia tốc thực hiện cách mạng vô sản quốc tế". Ông ta kêu gọi những người cộng sản trên khắp thế giới "tiếp tay với Liên Xô tổ chức một đạo quân thống nhứt để thực hiện cuộc cách mạng vô sản thế giới và thiết lập một Cộng Hòa Sô Viết toàn cầu". Lênin đòi hỏi người cộng sản phải tuyệt đối trọng kỷ luật. Vi phạm kỷ luật là bội phản giới vô sản. Ông ta nói : "không tuân kỷ luật là giải giới vô sản... người nào vi phạm một tý ty kỷ luật sắt của đảng vô sản là... tiếp tay cho giới trưởng giả chống vô sản".

Hình thức dân tộc, nội dung quốc tế

Trên đây là phần tư tưởng, chủ trương, đường lối, chiến lược và tổ chức. Về phương diện chiến thuật, phương thức cách mạng, thì các cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã được nghe nhiều, và được huấn luyện theo đó. Chiến thuật, đặc biệt là chiến thuật cướp chính quyền có thể nói là phần quan trọng nhứt trong chủ nghĩa Lênin; đó là môn sở trường nhất của Lênin. Nó cũng là môn sở trường nhất của Hồ Chí Minh, người được công nhận là một đệ tử xuất sắc nhứt của Lênin. Và ông Hồ đã truyền lại những mánh khóe "cách mạng" cho đàn em trong Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Những giáo huấn chính của Lênin về lãnh vực này được trình bày trong tác phẩm "Cộng sản tả khuynh, căn bệnh của cộng sản ấu trĩ". Trong tác phẩm này Lênin nói về những phương thức, thủ đoạn, xảo quyệt, để nắm bá quyền trong các tổ chức, và cướp chính quyền. Các đảng viên cán bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam chắc được học nhiều, nghe nhiều về những điều này, tưởng không cần lặp lại ở đây. Chỉ có ba điều cần nhấn mạnh.


Điều thứ nhất là sự sử dụng bạo lực. Lênin dạy đàn em phải sử dụng bạo lực triệt để, và chỉ có bạo lực mới giải quyết mọi vấn đề. Đó là "bạo lực cách mạng".

Điều thứ nhì là quan niệm cộng sản về đạo đức. Lênin dạy đàn em rằng đạo đức của người cộng sản là có thể làm bất cứ điều gì, miễn là có lợi cho đảng cộng sản.

Điều thứ ba, căn bản nhất, là thủ đoạn mang mặt nạ, lường gạt kẻ khả tín, thực hiện cách mạng thế giới qua nhiều giai đoạn, nhưng thủ đoạn này rất tế nhị, ít người thấy được rõ. Đó là : "chiến lược không thay đổi, nhưng chiến thuật thì thay đổi hoài hoài". Đặc biệt là phải áp dụng những hình thức khác nhau, để đánh lạc hướng địch nhân, mà ngay cả những người đồng minh, hay những người theo mình không phải vì họ thích chủ nghĩa cộng sản, làm cho họ không thấy được mình đang thực sự làm gì, dẫn họ đi đâu.


Thủ đoạn trên đây được ghi trong một văn kiện rất dài nói về "chính sách mới" của đảng, tháng 10, năm 1936 :

"Đảng Cộng Sản Đông Dương là chi bộ của Quốc Tế Cộng Sản, chiến lược cuối cùng của Đảng tức là chiến lược của Quốc Tế Cộng Sản...

Theo đúng chiến lược của Quốc Tế Cộng Sản thì chiến lược của Đảng Cộng Sản Đông Dương là làm cách mệnh dân quyền... để dự bị điều kiện đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa, đó là mục đích cuối cùng của cách mệnh trong giai đoạn này... Cần nhắc lại rằng chiến lược của Đảng không thay đổi, còn chiến sách là một thứ mưu kế để hoạt động cần phải sửa đổi luôn...

Chúng ta theo chủ nghĩa quốc tế, không phải theo chủ nghĩa quốc gia... chúng ta phải nâng cao tinh thần tranh đấu dân tộc giải phóng mật thiết liên kết với quyền lợi của quần chúng lao động, nghĩa là hình thức thì dân tộc mà nội dung thì quốc tế" [tác giả nhấn mạnh].

Câu chót này trích hầu như nguyên văn của một câu trong Tuyên Ngôn Của Đảng Cộng Sản : "Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc".

Đây là một đề tài mà các cán bộ, đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam đã hăng say tranh đấu và hy sinh trong mấy chục năm qua nay cần suy ngẫm, và tự hỏi : "Mình đã giết biết bao nhiêu đồng bào, phá hủy biết bao nhiêu tài sản, để làm gì, cho ai ?".


Tôn Thất Thiện (Ottawa, 11-2004)
(Theo Web Thông Luận)

- UE: NQ1481 kết án CNCS là tội ác chống nhân loại (...
- UE: NQ1481 kết án CNCS là tội ác chống nhân loại .
- PHÊ BÌNH “ TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN” MỘT BẢN T...

- Khác biệt giữa chủ nghĩa Mác Lê Nin (xhcn khoa học) và chế độ tự do dân chủ thật sự
- Những điều sai lầm của Đảng Cộng Sản Việt Nam
- Juillet 1920: Conditions d'admission des Partis dans l'Internationale Communiste
- Hồi ký của một Việt Cộng (1)
- Tai hoạ của Chủ nghĩa cộng sản (1) (2) (3)

Lời truyền miệng dân gian về một vài số phận bi kịch...

Lời truyền miệng dân gian về một vài số phận bi kịch...
Trần Quốc Vượng


“Lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh của một số nhà trí thức Nho gia”

“… câu chuyện tôi sắp kể dưới đây thì chưa từng ai viết. Chỉ là lời truyền miệng dân gian …phạm vi lan truyền và số người biết câu chuyện này phải nói là hạn hẹp. Vì người ta SỢ.…”


… Đến đây tôi sẽ khép (lại) bài kể lể đã khá dài dòng của mình bằng câu chuyện một người tuy có tên tưổi nhưng không lấy gì làm nổi tiếng lắm, hay đúng hơn cả là đã trở nên có tên tuổi nhờ gắn bó máu thịt với một người có tên tuổi (nhưng từ đầu đến cuối câu chuyện của tôi đều nói về các nhà Nho, các vị thái học sinh, tiến sĩ, bảng nhãn hay là phó bảng cả).

Đó là câu chuyện về cụ thân sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc hay Nguyễn Sinh Huy.

Phó bảng là một học vị dưới tiến sĩ, chĩ mới xuất hiện ở Việt Nam từ đời vua Minh Mạng nhà Nguyễn (1830-31).

Trong một lá đơn bằng tiếng Pháp gởi Bộ Thuộc địa Pháp, Nguyễn Tất Thành (sau là Hồ Chí Minh) đã khéo dịch tên học vị của phụ thân mình là sous docteur [1] như ngày nay ta gọi là phó tiến sĩ.

Quê hương cụ, là làng Kim Liên, tên Nôm là làng Sen huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An. Nhưng đậu phó bảng rồi cụ đã làm Thừa biện Bộ Lễ ở Huế rồi Tri huyện Bình Khê (Bình Định). Rồi bỏ quan (hay bị mất chức quan), cụ phiêu dạt về Sài Gòn, ngồi bắt mạch kê đơn ở tiệm thuốc bắc Hoa kiều, để có chút cơm rượu... Lại phiêu lãng nữa, tới miền Tây Nam bộ, và cuối cùng mất ở Cao Lãnh (Sa Đéc, nay thuộc tỉnh Đồng Tháp). Mộ cụ phó bảng được xây lại cuối năm 1954 sau sự kiện Genève tạm thời chia đôi đất nước Việt Nam.

Người ta làm như thế vì cụ Hồ. Cũng như mộ bà Hoàng Thị Loan vợ cụ phó bảng và là thân mẫu Hồ Chí Minh mới được dời xây lại vài năm nay ở Nam Đàn, Nghệ An. Người ta làm thế cũng vì cụ Hồ. Hai ngôi mộ này, cũng như bản thân Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh giữa lòng Ba Đình, Hà Nội, đều hiện hữu ngoài ý thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Hồ vốn được xem là người giản dị, khiêm nhường...

Cũng đã có dăm cuốn sách nói về gia thế cụ Hồ Chí Minh, nhưng câu chuyện tôi sắp kể dưới đây thì chưa từng ai viết.

Chỉ là lời truyền miệng dân gian, ở Kim Liên, Nam Đàn, ở một số người gốc Nghệ hiện sống tại Hà Nội và nhiều nơi khác trên mảnh đất Việt Nam. Nếu trong Folklore, có hiện tượng mà các nhà nghiên cứu gọi là lan truyền thì từ lâu câu chuyện này cũng đã lan truyền từ làng Kim Liên ra khắp huyện Nam Đàn rồi khắp tỉnh Nghệ Anh rồi rộng ra hơn nữa ... Nhưng phạm vi lan truyền và số người biết câu chuyện này phải nói là hạn hẹp. Vì người ta SỢ.

Sợ động chạm đến cụ Hồ. Một cái sợ vô nghĩa nhưng người ta cứ gán cho nó cái ý nghĩa chính trị giả tạo. Vì như bà Trịnh Khắc Niệm viết trong cuốn truyện bằng tiếng Anh Life and Death in Shanghai, [2] đã được dịch ra tiếng Việt: Ở xã hội xã hội chủ nghĩa, cuộc đời của các lãnh tụ cộng sản được coi là "bí mật quốc gia".

Nhưng đây không phải là chuyện cụ Hồ, tuy cũng có dính dáng đến cụ Hồ. Mà vì đây là chuyện cụ thân sinh ra cụ Hồ, cụ Nguyễn Sinh Huy, mà cũng là chuyện truyền miệng thôi, nghĩa là thuộc phạm trù giai thoại, Folklore, chứ không thuộc phạm trù lịch sử, như tôi đã nói từ đầu bài này.

Người dân Kim Liên đồn rằng Nguyễn Sinh Huy không phải là thuộc dòng máu mủ của dòng họ Nguyễn Sinh làng này. Mà là con của một người khác: ông đồ nho, cử nhân Hồ Sĩ Tạo.

Cử nhân Hồ Sĩ Tạo thuộc dòng họ Hồ nổi tiếng ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An (đây là quê gốc của Hồ Quý Ly, nhân vật lịch sử cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, đây cũng là quê gốc của anh em Tây Sơn thế kỷ XVIII, vốn họ Hồ ở xứ Nghệ, đây cũng là quê hương Hoàng Văn Hoan, người đồng chí thân cận một thời của cụ Hồ Chí Minh, được cụ Hồ giao phụ trách công tác đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thời kháng chiến chống Pháp và là Đại sứ Việt Nam đầu tiên ở Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, hiện sống lưu vong ở Trung Hoa, có viết một tài liệu về lịch sử làng Quỳnh Đôi, quê ông. Bà vợ nhà văn lớn Đặng Thai Mai, người một thời làm Bộ trưởng Giáo dục trong chính phủ của cụ Hồ 45-46 rồi làm Viện trưởng Viện trưởng Viện Văn học, là Hồ Thị Loan, cũng thuộc dòng họ Hồ này ở làng Quỳnh Đôi). Khoảng đầu những năm 60 của thế kỷ trước (thế kỷ XIX) cử nhân Hồ Sĩ Tạo có thời gian ngồi dạy học ở một nhà họ Hà, người làng Sài, cùng một xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, với làng Sen (Kim Liên). Đó là một nhà nghệ nhân dân gian, trong nhà có "phường hát ả đào".

Nhà họ Hà có cô con gái tên là Hà Thị Hy, tài hoa, nhan sắc, đàn ngọt, hát hay, múa khéo, đặc biệt là múa đèn (đội đèn trên đầu, để đèn trên hai cánh tay, vừa hát vừa múa mà dầu trong đĩa không sánh ra ngoài) nên người làng thường gọi là cô Đèn. Người ta thường bảo: má hồng thì mệnh bạc. Như Đặng Trần Côn viết mở đầu khúc ngâm chinh phụ: "Hồng nhan đa truân" (Gái má hồng nhiều nỗi truân chuyên). Hay như Nguyễn Du than thở giùm người đẹp tài hoa trong truyện Kiều: "Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau", "Rằng hồng nhan tự thuở xưa, Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu").

Vả ở thời ấy, dưới chế độ quân chủ nho giáo, lấy tứ dân (Sĩ, Nông, Công, Thương) làm gốc, người ta vẫn xem thường nghề ca xướng và con nhà ca xướng ("xướng ca vô loài").

Cô Đèn, Hà Thị Hy tài hoa nhan sắc là thế mà rồi ba mươi tuổi vẫn chưa lấy được chồng. Mà trong nhà thì lại luôn có bậc văn nhân: ông cử Hồ Sĩ Tạo. "Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén" là lẽ thường theo tâm lý dân gian, huống chi là giữa văn nhân - tài tử - giai nhân. "Trai tài gái sắc" mà! Và cô Hà Thị Hy bỗng dưng "không chồng mà chửa". Mà ông cử Tạo thì đã có vợ, có con rồi! Lệ làng ngày trước phạt vạ rất nặng nề, sỉ nhục hạng gái "chửa hoang", hạng "gian phu dâm phụ". Để tránh nỗi nhục cho con gái mình và cho cả ông cử Tạo đang làm "thầy đồ" được hết sức kính trọng trong nhà mình, họ Hà phải bù đầu suy tính...

Lúc bấy giờ ở làng Sen cùng xã có ông Nguyễn Sinh Nhậm, dân cày, tuổi cao mà góa vợ (bà vợ trước đã có một con trai là Nguyễn Sinh Thuyết, và người con trai này cũng đã có vợ).

Nhà họ Hà bèn cho gọi ông Nguyễn Sinh Nhậm đến điều đình, "cho không" cô Hy làm vợ kế ông này, như một người con gái xướng ca, quá lứa, lỡ thì, lấy ông già góa vợ, mong ém nhém việc cô gái đã "to bụng".

Công việc rồi cũng xong. Cô Hy ôm bụng về nhà chồng, có cưới có cheo cẩn thận. Việc phạt vạ của làng không thể xảy ra. Nhưng cô gái tài hoa nhan sắc thì bao đêm khóc thầm vì bẽ bàng, hờn duyên tủi phận. Và ông lão nông dốt nát tuy được không cô gái đẹp nhưng cũng buồn vì đâu có đẹp đôi, lại cắn răng chịu đựng cái tiếng ăn "của thừa", "người ăn ốc (ông cử Tạo), kẻ đổ vỏ (cụ lão nông Nhậm)". "Miệng tiếng thế gian xì xầm", ai mà bịt miệng nổi dân làng. Mà trước hết là lời "nói ra, nói vào", lời chì chiết của nàng dâu vợ anh Thuyết, vốn nổi tiếng ngoa ngoắt, lắm điều. Ông Nhậm đành cho con trai và vợ anh ta ra ở riêng, và mình ở riêng với bà vợ kế.

Chỉ ít tháng sau, bà vợ kế này đã sinh nở một mụn con trai, được ông đặt tên là Nguyễn Sinh Sắc, lấy họ ông mặc dù ông biết rõ hơn ai hết đó không phải là con ông, con nhà họ Nguyễn Sinh này. Nàng dâu ông càng "tiếng bấc, tiếng chì" hơn trước, vì ngoài việc bố chồng "rước của tội, của nợ", "lấy đĩ làm vợ" thì nay còn nỗi lo": Người con trai này - được ông nhận làm con, lớn lên sẽ được quyền chia xẻ cái gia tài vốn cũng chẳng nhiều nhặn gì của một gia đình nông phu thôn dã. Việc ấy xảy ra vào năm Quý Hợi, đời vua Tự Đức thứ 16 (1863).

Vì trọng tuổi, lại vì lo phiền, vài năm sau cụ Nhậm qua đời và cũng chỉ ít lâu sau đó, bà Hy cũng mất. Nguyễn Sinh Sắc trở thành đứa trẻ mồ côi. Lên bốn, về ở với người anh gọi là "cùng cha khác mẹ" mà thật ra là "khác cả cha lẫn mẹ", cùng với bà chị dâu ngoa ngoắt, khó tính, lúc nào cũng chỉ muốn tống cổ cái thằng "em hờ" của chồng này đi cho "rảnh nợ".

Không cần nói, ta cũng hiểu Nguyễn Sinh Sắc khổ tâm về tinh thần, khổ cực về vật chất như thế nào trong cái cảnh nhà Nguyễn Sinh như vậy. Ta cảm thấy vô cùng thương xót một đứa trẻ mồ côi sớm chịu cảnh ngang trái của cuộc đời. Bên ngoại thì ông bà đều đã mất, họ Hà chẳng còn ai chịu cưu mang đứa trẻ có số kiếp hẩm hiu này.

May có ông tú đồ nho Hoàng Xuân Đường, người làng Chùa (Hoàng Trù) gần đó, xót thương đứa trẻ, dù sao cũng là hòn máu rơi của một nhà nho khác, lại có vẻ sáng dạ, nên đã đón về làm con nuôi, cho ăn học. Và đến khi Nguyễn Sinh Sắc 18 tuổi, ông bà đồ họ Hoàng lại gả cho cô con gái đầu lòng, Hoàng Thị Loan, mới 13 tuổi đầu, cho làm vợ, lại làm cho căn nhà tranh ba gian ở ngay làng Chùa, để vợ chồng Nguyễn Sinh Sắc ăn ở riêng.

Ta dễ hiểu vì sao Nguyễn Sinh Sắc gắn bó với họ hàng làng quê bên vợ, làng Chùa, hơn là với làng Sơn "quê nội", quê cha "hờ". Con cái ông, từ người con gái đầu Nguyễn Thị Thanh, qua người con trai đầu Nguyễn Sinh Khiêm (tục gọi là ông cả Đạt) đến người con trai thứ Nguyễn Sinh Côn (hay Nguyễn Tất Thành, sau này là Nguyễn Ái Quốc rồi Hồ Chí Minh) đều được sinh ra và bước đầu lớn lên ở làng Chùa bên quê mẹ hay là quê ngoại. Khi cụ Tú Hoàng (Hoàng Xuân Đường) mất, vợ chồng con cái Nguyễn Sinh Sắc lại về ăn ở chung với bà đồ Hoàng. Các cháu đều quấn quít quanh bà ngoại.

Qua giỗ đầu cụ Tú Hoàng, Nguyễn Sinh Sắc đi thi Hương khoa Giáp Ngọ và đậu cử nhân (1894). Ông được nhận ruộng "học điền", ruộng công của làng Chùa chia cho những người có học (nhằm khuyến khích việc học) để học thêm - chứ không phải nhận ruộng học của làng Sen. Khoa thi Hội Ất Mùi (1895), ông thi trượt.

Nhờ sự vận động gửi gấm của ông Hồ Sĩ Tạo, người cha thực của Nguyễn Sinh Sắc, với các quan lại đồng liêu quen biết ở triều đình Huế, Nguyễn Sinh Sắc được coi như ấm sinh, để được nhận vào học Quốc Tử Giám ở kinh đô. (Ai cũng biết: để được nhận vào học Quốc Tử Giám và làm giám sinh phải là con cháu của những gia đình có thế lực, gọi là "danh gia tử đệ". Nếu không có sự can thiệp của ông Hồ Sĩ Tạo là bậc khoa bảng cao quan thì làm sao Nguyễn Sinh Sắc được nhận? Thế là dù sao Hồ Sĩ Tạo vẫn còn có một "cử chỉ đẹp" với đứa con mà mình không dám nhận). Nguyễn Sinh Sắc, đổi tên là Nguyễn Sinh Huy, đem vợ và hai con trai vào Huế và đi học Quốc Tử Giám. Khoa thi Hội Mậu Tuất (1898), ông lại trượt.

Ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tý (10-2-1901) bà Hoàng Thị Loan ốm mất ở kinh đô Huế, sau khi sinh đứa con trai út (đứa con trai này ít ngày sau cũng chết). Nguyễn Sinh Côn (Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh ngày sau) trở thành con trai út.

Nguyễn Sinh Huy đem hai con trai về làng Chùa gửi mẹ vợ nuôi nấng chăm sóc giùm rồi trở vào Kinh thi Hội. Khoa Tân Sửu (1901) này, ông đậu phó bảng và được "vinh quy bái tổ" về làng. Theo thể thức triều đình, lễ vinh quy này phải diễn ra ở quê nội, dù là quê nội danh nghĩa, tức là làng Sen - Kim Liên. Hội đồng hương lý và dân xã đã dựng nhà tranh năm gian (chứ không phải nhà ngói) trên một khoảnh đất vườn làng Sen, để đón quan phó bảng tân khoa Nguyễn Sinh Huy về làng.

Thế là buộc lòng ông phải về "quê nội". Ông cũng đón hai con trai về ở cùng ông. Lần đầu tiên Nguyễn Sinh Côn (Hồ Chí Minh ngày sau) về ở quê nội nhưng thân ông, lòng ông vẫn hướng về quê ngoại là cái gì "đích thực" và gắn bó với tuổi thơ ông. Ông phó bảng có đến thăm cụ Hồ Sĩ Tạo.

Nhưng gia đình ông phó bảng cùng hai con trai cũng không ở lâu tại Kim Liên. Chưa đầy ba năm! Sau khi mẹ vợ mất, ông vào kinh đô nhận chức quan (1904) ở Bộ Lễ, đem theo hai con trai vô Huế học. Năm 1907, ông bị đổi đi Tri huyện Bình Khê ... Rồi sau khi bỏ quan (hay mất quan), khoảng 1910, ông phiêu bạt vô Sài Gòn rồi Lục tỉnh Nam Kỳ. Không bao giờ ông về làng Sen trở lại nữa...

Ở làng Sen sau này, chỉ có bà Thanh và ông Cả Đạt (Khiêm), cả hai đều không lập gia đình riêng.

Người ta bảo lúc sau, khi cụ Hồ Sĩ Tạo đã qua đời, năm nào bà Thanh cũng qua Quỳnh Đôi góp giỗ cụ Hồ Sĩ Tạo. Thế nghĩa là cái "bí mật" về cội nguồn của cụ phó bảng Huy, trong số các con cụ, ít nhất có bà con gái đầu biết. Người ta bảo: ông Cả Đạt cũng biết, tuy không bao giờ ông sang Quỳnh Đôi nhận họ.

Còn Nguyễn Sinh Côn - Nguyễn Tất Thành - có biết không? Từ khoảng 11 đến 14 tuổi, ông ở làng Sen, có nhẽ nào không ai nói cho ông biết? Hay là trước đó nữa, khi ông ở làng Chùa quê ngoại gần gặn làng Sen! Hay là sau đó nữa chả lẽ không khi nào cụ phó bảng Huy hay bà Thanh hay ông Cả Đạt lại không kể với ông về "bí mật" của gốc tích thân phụ mình?

Không có chứng cớ gì về việc ông Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - biết hay không biết chuyện này... Sau này, khi hoạt động cách mạng, ông còn mang nhiều tên khác nữa. Nhưng đến đầu thập kỷ 40 của thế kỷ này, thì người ta thấy ông mang tên Hồ Chí Minh.

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, khi tên tuổi Hồ Chí Minh trở thành công khai thì cũng bắt đầu từ đó dân gian Việt Nam, từ trí thức đến người dân quê, lại âm thầm bàn tán: vì sao Nguyễn Ái Quốc lại đổi tên là Hồ Chí Minh? Và tên này cụ giữ mãi cho tới khi "về với Các Mác, Lê-nin" năm 1969.

Cuộc đời thực của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh - còn quá nhiều dấu hỏi chứ phải đâu riêng gì một cái tên! Và biết làm sao được khi cụ Hồ, tôi nói lại một lần nữa theo cảm thức của người Ấn Độ, đã trở thành "huyền thoại". Huyền thoại Hồ Chí Minh được hình thành trong vô thức dân gian mà Carl Gustav Jung gọi là vô thức tập thể. Nhưng nó cũng có phần được hình thành một cách hữu thức, bởi một số cán bộ gần gụi cụ Hồ. Nghĩa là một phần cuộc đời cụ Hồ đã được huyền thoại hóa.

Ngay sau Cách mạng tháng Tám, người ta còn in cả cuốn sách (mỏng thôi) về sấm Trạng Trình có những câu vận vào cụ Hồ và sự nghiệp Cách mạng tháng Tám. Và sấm Trạng Trình vẫn được vận vào cụ Hồ còn lâu về sau nữa, ở miền Nam Việt Nam và hiện nay ở một số người Việt lưu vong, dù là với hậu ý không ưa gì cụ Hồ... Nhưng đó lại không phải là chủ đề của bài viết này.

Trở lại với cái tên Hồ Chí Minh, lời truyền miệng dân gian bảo rằng: Nguyễn Ái Quốc sau cùng đã lấy lại họ Hồ vì cụ biết ông nội đích thực của mình là cụ Hồ Sĩ Tạo, chứ không phải cụ Nguyễn Sinh Nhậm.

Và dân làng Sen cũng bảo: Thì cứ xem, lần đầu tiên về thăm quê hương, sau cách mạng, sau mấy chục năm xa quê (15-6-1957), từ thị xã Vinh, tỉnh lỵ Nghệ An, cụ Hồ đã về làng Chùa trước, rồi sau mới sang làng Sen "quê nội"! [3]

Riêng tôi nghĩ, thì cũng phải thôi. Vì như ở trên ta đã thấy, cả một thời thơ ấu của cụ Hồ là gắn bó với quê ngoại làng Chùa, nơi cụ sinh ra và bước đầu lớn lên. Chứ đâu phải làng Sen, là nơi cụ chỉ ở có vài năm, lại là khi đã bắt đầu khôn lớn?

Tôi không muốn có bất cứ kết luận "khoa học" gì về bài viết này. Vì nó không phải là một luận văn khoa học. Đây chỉ là việc ghi lại một số lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh hay là cái khổ tâm, hay là cái "mặc cảm" của một số nhà trí thức Nho gia từ đầu thế kỷ XIV (Trương Hán Siêu, Chu Văn An) đến đầu thế kỷ XX (Nguyễn Sinh Huy) đối với làng quê. [4]

Còn viết lách, thì bao giờ chẳng là chuyện: "Thư bất tận ngôn, ngôn bất tận ý". (Viết không [bao giờ] hết lời nói, Lời nói không [bao giờ] hết ý!)

Tháng 1.1991
Trần Quốc Vượng
(trích: Trong cõi. Nxb Trăm Hoa, California, 1993, tr. 252-259)

[1]Xem phụ bản bức thư này công bố trong: G. Boudarel, La Bureaucratie au Vietnam, par L’ Harmattan, 1983
[2]Cheng Nien: Life and Death in Shanghai, Globe Crafton Books, 1986 – (Trịnh Niệm: Sống và chết ở Thượng Hải, Nxb Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 1989)
[3]Xem “Le Nghe Tinh, province natale de Ho Chi Minh“, Études Vietnamiennes, Hanoi, No 59, 1979
[4]Về những cách nhìn khác, chính thống hơn, lịch sử hơn, xin xem: “Les lettres devant l’histoire”, Études Vietnamiennes, Hanoi, 1979. Riêng về Trương Hán Siêu, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, xin xem: O. W. Wolters, “Two Essays on Đại Việt in the Fourteenth Century”, The Lạc Việt, No 9, 1979; “A Stranger in His Own Land: Nguyễn Trãi’s Sins”; “Vietnamese Poems, Written during the Ming Occupation”, The Vietnam Forum, No 8, 1986

tl

Trích sách "trong cõi" của sử gia hanoi trần Quốc Vượng: