jeudi 21 juin 2007

Dựng Đền Thờ Ông Hồ...

Dựng Đền Thờ Ông Hồ...


Trần Khải



Tưng bừng xây đền thờ ông Hồ Chí Minh... Đó là hành vi lấy điểm lập công tiện lợi nhất, đối với bất kỳ địa phương nào. Đó là chưa kể tới việc chính phủ CSVN lấy chuyện lập đền thờ ông Hồ Chí Minh làm chính sách an dân ở các nơi có nhiều thành phần dân chúng mê tín dị đoan

Vậy thì, câu hỏi nơi đây là có bao nhiêu đền thờ ông Hồ tại Việt Nam? Một cách chính xác, chúng ta hiện nay chưa tìm ra thống kê. Tuy nhiên, một bản tin nhà nước cho biết về trường hợp vùng đồng bằng Cửu Long, đặc biệt là về tỉnh Cà Mau.
Bản tin nhan đề “Mỗi ngôi Đền thờ Bác là một huyền thoại diệu kỳ” của hãng thông tấn nhà nứơc TTXVN, hiện lưu giữ nơi trang web của báo Tiền Phong (link: http://www.tienphongonline.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=84149&ChannelID=7 ) hôm 15/05/2007 cho biết là có vài chục đền thờ.

Bản tin trích:
“...Ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long hiện có 7 trong số 13 tỉnh, thành phố xây dựng đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh với tổng số 30 đền, phủ thờ cúng trang nghiêm.
Riêng tỉnh Cà Mau có đến 18 đền thờ, phủ thờ Bác, thể hiện tình cảm yêu thương Bác Hồ sâu sắc hòa quyện chung trong tình yêu nước của nhân dân nơi đây. Mỗi ngôi đền thờ Bác dựng trên đất Cà Mau là một huyền thoại diệu kỳ, một câu chuyện cảm động về lòng kính yêu Bác của nhân dân vùng cực Nam Tổ quốc...” (hết trích)
Tuy nhiên, nếu bạn nhớ các bản tin hồi năm ngoái, thì đền thờ ông Hồ lớn nhất tại VN vẫn là ngôi chùa đang xây ở Bình Dương, do đại gia Huỳnh Phi Dũng thực hiện. Trong khu vực du lịch có đền thờ này, sẽ xây một khách sạn 5,000 phòng. Làm sao chúng ta có thể hình dung được một khách sạn 5,000 phòng tại Việt Nam? Nghĩa là một khách sạn đẳng cấp qúôc tế, hoặc siêu qúôc tế...

Nghĩa là, lần naỳ, nhà nứơc CSVN sẽ mở một khu du lịch qúôc tế thượng hạng, để mời du khách qúôc tế tới Bình Dương, xem đền thờ Đaị Nam Quốc Tự khổng lồ, nơi đó, có chính điện ba tầng đề thờ Đức Phật, Vua Hùng Vương và ông Hồ Chí Minh.
Bản tin trên báo Tuổi Trẻ hôm 10/02/2007 nói về kế hoạch sẽ mở cửa trong năm nay, có nhan đề “Đại Nam quốc tự và khách sạn 5.000 phòng” (link: http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=186536&ChannelID=100 ) đã viết, trích như sau:

“..."Đại Nam thế giới du lịch" là một công trình du lịch có qui mô lớn bậc nhất VN với tổng vốn đầu tư 3.000 tỉ đồng đang được xây dựng trên diện tích 450ha tại Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Đền thờ Đại Nam quốc tự trong khu du lịch này đã hoàn chỉnh, đó là một công trình kiến trúc cổ có diện tích 5.000m2 với chất liệu chính là gỗ, đá và công nghệ mạ vàng. Nơi đây những trang sử vàng của VN được tái hiện một cách công phu, tỉ mỉ.

Chính điện gồm ba tầng thờ tượng đức Phật, vua Hùng Vương và Chủ tịch Hồ Chí Minh, tất cả đều được mạ vàng 24K. Hai bên là cặp nến rồng, phượng, mỗi cây đúc nặng 1,8 tấn sáp. Dưới chính điện là điểm vọng âm, đứng ngay vị trí này nói không cần micro cả đền đều có thể nghe được. Mỗi du khách VN vào đền đều tìm thấy mình qua bảng thờ 54 dân tộc anh em và hơn 2.000 dòng họ của các dân tộc VN.
Các cánh cửa đền là những câu chuyện lịch sử mạ vàng. Mỗi ô cửa là một câu chuyện. Cả thảy 28 câu chuyện lịch sử từ thời vua Hùng dựng nước được thể hiện bằng phù điêu. Mặt ngoài cửa là những câu chuyện tương truyền trong dân gian được chạm khắc trên gỗ. Hai bên hông đền đặt hai bức tượng Thánh Gióng và Lý Thường Kiệt trong tư thế phi ngựa chồm lên. Trên bức tường bao quanh ngôi đền, những hình ảnh về đồng bào các dân tộc VN cũng được khắc họa dưới dạng phù điêu.
Bức trường thành dài 13km ôm lấy khu du lịch này hiện đang được xây dựng. Điều thú vị là chạy suốt chiều dài bên dưới trường thành sẽ là 5.000 phòng nghỉ. Nếu đúng thế thì có lẽ đây là khách sạn được ghi vào kỷ lục về chiều dài của thế giới. Trong đó có 1.000 phòng được thiết kế theo kiểu cung điện với giá 5-200 USD/phòng/đêm, 4.000 phòng còn lại có giá 5-30 USD/phòng/đêm.

Một lô hạng mục khác để du khách có thể ở lại chơi trong khu du lịch này hai ngày liền như biển nhân tạo, khu trò chơi hiện đại, mê cung thần tiên với ba phương tiện đi bộ, xe và thuyền, vườn thú thiên nhiên, VN thu nhỏ, thế giới thu nhỏ, làng văn hóa, làng nghề, làng ẩm thực VN, phòng chiếu phim 3D, 4D phục vụ học sinh... Bên cạnh đó là các hoạt động, trò chơi tìm hiểu về lịch sử đất nước con người VN.

Theo kế hoạch của những người đầu tư, khu du lịch này sẽ mở cửa đón khách vào ngày 2-9-2007.” (hết trích)

Bạn thấy chưa: Có nghĩa là chỉ vài tháng nữa, ngôi đền thờ khổng lồ này sẽ mở cửa cho du khách vào xem.

Thực sự, bản tin đó chưa nói hết những cái khổng lồ mà người CSVN muốn chứng tỏ với thế giới. Thử đọc lại một bài báo năm cũ, trên báo VietNamNet ngaỳ 15/12/2006, tựa đề “Có một giấc mơ lớn về dân tộc Việt ở Bình Dương” (link: http://vietnamnet.vn/psks/2006/01/537556/ ) đã ghi lời đại gia Huỳnh Phi Dũng, trích về những cái nhất thế giới tại Đaị Nam Quốc Tự như sau:

“...Người chủ của công trình dường như thích những sự so sánh. Ông cho biết điện thờ này lớn hơn điện Thái Hòa của Trung Quốc. Quảng trường 18 hecta trước điện có thể sẽ là quảng trường lớn nhất thế giới, rộng gấp đôi quảng trường Thiên An Môn của Trung Quốc. Đây là nơi sẽ diễn ra các sự kiện lễ hội, văn hoá lớn của tỉnh Bình Dương…
Đến khi hoàn thành giai đoạn 2 (dự kiến vào năm 2010), diện tích tổng thể của Khu văn hoá lịch sử Đại Nam sẽ là 450 hecta. Các hạng mục tiếp theo sẽ là Vịnh Hạ Long thu nhỏ với diện tích mặt biển 18 hecta; sông Cửu Long thu nhỏ; cùng với sự tái hiện các kỳ quan thế giới như tháp Eiffel, điện Kremlin, Vạn lý trường thành, đền Angkor….” (hết trích)

Bạn có thể bực bội, cho rằng thờ ông Hồ chung với Đức Phật, mà laị ngồi trứơc mặt Đức Phật, là vô lễ, là dị kỳ, là quái chiêu, là trái giaó lý.
Đúng vậy, đó là quái chiêu. Nhưng cũng là độc chiêu.

Bởi vì chỉ cần vài thế hệ thanh niên qua đi, hình ảnh đó sẽ được quen thuộc, và người dân nhiều thập niên tới sẽ thấy là tự nhiên. Đúng vậy, sẽ thấy tự nhiên. Cho dù trong điện có có dựng thêm tượng của bà Tăng Tuyết Minh, hay bà Nguyễn Thị hay Nông Thị gì gì nữa.


http://s152542055.onlinehome.us/xoops4/modules/news/article.php?storyid=711

Bác Hồ như Phật, Chúa?

Bác Hồ như Phật, Chúa?


Trần Khải


HCM như Phật (sám hối) ở chùa Đai Nam Quốc Tự (Binh Duong)

Chuyện thờ cúng ông Hồ Chí Minh không phải là chuyện tự phát của một số cá nhân đồng bào ưa xin số đề, mà thực ra có thể suy luận rằng đó là chính sách lớn của nhà nước cộng sản Việt Nam. Cứ đọc báo nhà nước rải rác cũng có thể suy luận như thế được.

Không chỉ là chuyện lập bàn thờ để tưởng nhớ ông Hồ kiểu khơi khơi đâu. Chuyện nghe đâu thập phần bí hiểm, và người ta nói còn nhiều chuyện huyền bí ngoại cảm đang được Bộ Chính Trị cộng sản Việt Nam gắng sức giữ bí mật. Lâu lâu chúng ta mới nghe vài chuyện. Thí dụ, như trong một Hội Nghị về Tiềm Năng Con Người tại Hà Nội cuối năm 2005, một băng âm thanh ghi lại lời Tướng Chu Phác cho biết ông đã nghiên cứu môn Bói Dịch Cụ Hồ nhiều năm. Trong hội nghị lúc đó có nhiều viên chức công an và cả các nhà ngoại cảm, nhưng không thấy ai phản đối gì. Mới đây, một đảng Ủy Quận Hà Nội thực hiện và thu băng buổi gọi hồn cụ tổ dòng họ Nguyễn Công để sẽ trình lên Thành Ủy làm tài liệu trong hồ sơ di dời ngôi mộ cổ dòng họ Nguyễn Công. Chuyện này tất nhiên làm chúng ta dễ dàng nghĩ tới chuyện là Đảng cộng sản Việt Nam có thể bước qua vài khu phố là tới Lăng Ông Hồ, và nguyên lực lượng ngoại cảm này có thể làm lễ gọi hồn xem ông Hồ muốn gì, có thể hỏi xem ông Hồ muốn cúng chay hay cúng mặn…

http://www.danchimviet.com/php/images/052007/hcm_chua.jpg
"Bác" ngồi với Phật trong Đại Nam Quốc Tự (Bình Dương, Việt Nam)
Nguồn: http://vietnamnet.vn/
--------------------------------------------------------------------------------

Trong tuần qua, nhiều nơi trong nước rầm rộ tổ chức Lễ Sinh Nhật Ông Hồ 19/5. Ngày này có lẽ không đúng, nhưng nhà nước cần một ngày như thế để có cớ ầm ĩ.

Nếu bạn theo dõi một số sinh hoạt trong nước có liên hệ tới những ngày như thế này, có thể đôi khi thấy nhà nước rất tinh vi đã dàn dựng cho ông Hồ một vị trí y hệt như một giáo chủ. Và các cán bộ địa phương ở các tỉnh huyện cũng đua nhau lập đền thờ ông Hồ để lập công dâng đảng. Vậy chớ, nếu dân xin số đề tại Hà Nội mà vào Lăng Ông Hồ xin số hên thì bảo đảm là bị bắt liền.

Thậm chí, có nơi lịch sử còn bị đảng cộng sản Việt Nam viết lại. Thí dụ, đền thờ Quốc Mẫu Âu Cơ tại Cà Mau bây giờ không ai thấy tượng người chồng của bà Âu Cơ là Vua Lạc Long Quân ở đâu cả. Mà trong đền có tên Quốc Mẫu này, chỉ thấy tượng bà Âu Cơ đối diện với tượng ông Hồ. Chính báo nhà nước viết thế đấy.

Mời bạn vào xem báo Bạc Liêu, Số 1323 - Cuối Tuần, nơi bài nhan đề “Tổ đình Quốc mẫu Âu Cơ” đã kể chuyện Bác Hồ bứng ghế Vua Lạc Long Quân, giành ngồi với bà Âu Cơ như sau, trích


Mùng 10 tháng 3 âm lịch năm nay - ngày giổ tổ Hùng Vương và cũng là ngày giỗ Tổ đầu tiên, cán bộ, công chức được nghỉ một ngày hưởng nguyên lương. Nhân ngày kỷ niệm này, xin được nhắc về một đình thờ Tổ của người miền Nam ở cực Nam Tổ quốc.

Ngôi đình đó hiện ở TP. Cà Mau và có tên là Tổ đình Quốc mẫu Âu Cơ. Đây cũng là một trong số ít những ngôi đình thờ bà Âu Cơ ở Đồng bằng sông Cửu Long mà không phải ở tỉnh nào cũng có. Đình được thành lập khoảng đầu những năm 1960, tọa lạc tại đường Nguyễn Trãi, phường 9, TP. Cà Mau, gần đối diện trường Chính trị tỉnh Cà Mau. Trước đây, đình chỉ là gian nhà lợp lá, thờ Quốc mẫu bằng bài vị, không có tượng Quốc mẫu. Điểm đáng chú ý là đình không thờ thêm thần thánh nào khác ngoài bà Âu Cơ.

Năm 1997, đình được trùng tu, xây dựng cơ bản bằng tường gạch, mái ngói, an vị tượng Quốc mẫu, với kinh phí trên 30 triệu đồng do nhân dân địa phương đóng góp. Trong đợt trùng tu này, đình lập thêm một bàn thờ Bác Hồ ở phía trước chính điện đối diện với nơi thờ Quốc mẫu. Chính điện có ngai của vua Hùng. Ngai được làm bằng gỗ, được bá tánh dâng cúng vào ngày 6/12/1965. Phía 2 bên chính điện thờ Quốc mẫu là nơi thờ Lạc thư (bên trái) và Hà đồ (bên phải).

Trong đình có liễn đối bằng chữ quốc ngữ. Hai câu đối nơi chính điện thờ Quốc mẫu là:

DỰNG SƠN HÀ TIÊN MẸ MỞ VĂN LANG (trái)

KHAI THÁNH ĐỊA RỒNG CHA TRUYỀN BÁCH VIỆT (phải)

2 câu viết trên tường, góc dưới chính điện:

* Tạ ơn cha!

Các con mang tình cha qua từng thế hệ đến mảnh đất cuối cùng để dựng dậy hồn thiêng sông núi cho nòi giống tiên rồng (trái)

* Lạy mẹ!

Các con dù nghèo hay giàu ở quê hương hay lưu lạc tha phương từng thế hệ đi qua vẫn mang trong tim tình thương của mẹ (phải)… (hết trích)


Bạn đọc bản tin đó có bao giờ thắc mắc là tại sao Đảng Ủy Cà Mau không dựng trong đền Quốc Mẫu Âu Cơ thêm các tượng quý bà Tăng Tuyết Minh, Nguyễn Thị Minh Khai, hay các Nông Thị và Nguyễn Thị khác cho đông đủ ấm cúng? Ai mà trả lời nổi. Chỉ có cách nhờ các nhà ngoại cảm gọi hồn ông Hồ xem ý ổng thế nào.

Chưa hết, nhà nước chắc là thấy cần tăng thêm liều lượng, nên gần đây mới nhờ một ông Tiến Sĩ giữ chức phó Tỉnh viết bài, và mời nhiều vị sư và cả linh mục ca ngợi Ông Hồ đức độ mấp mé với Phật, với Chúa.

Tác giả bài báo đó là Tiến Sĩ Huỳnh Văn Tới, giữ chức Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai, trên số báo cấp tỉnh Công Nghiệp Đồng Nai vào giữa tháng 3-2007, với bài tựa đề “Bác Hồ Trong Đời Sống Văn Hóa Tinh Thần Của Nhân Dân Đồng Nai”. Trích các đoạn đáng chú ý sau:

…Bàn thờ Bác trong nhà là hiện tượng phổ biến. Gia đình của người Việt ở Đồng Nai có tập quán thờ ông bà và những vị thần có liên quan đến bổn mạng của mình: Táo quân bảo trợ việc bếp núc, các nữ thần là mẹ sanh mẹ độ, ông địa , thần tài phụ trợ việc làm ăn... Từ khi Bác mất, nhiều gia đình có thêm bàn thờ Bác với ý nghĩa Bác vừa là Cha già, vừa là người đem hạnh phúc cho gia đình….

Trong sinh hoạt cộng đồng, người Việt ở Đồng Nai có thờ cúng những người có công lớn, đem lại lợi ích thiết thực cho dân làng. Ở đình thờ thành hoàng bổn cảnh, tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ... tuởng niệm những người đã khuất tuy khuyết danh nhưng có công với mảnh đất dân làng đang sống. Những anh hùng dũng sĩ có công đánh giặc, diệt thú dữ cũng được đưa vào thờ trong đình. Với quan niệm như thế, Bác Hồ vị cứu tinh của dân tộc rất xứng đáng được cộng đồng thờ cúng…

Sau ngày thống nhất đất nước, việc thờ cúng Bác ở đình miếu được nhân rộng. Năm 1982, đình Hắc Lăng (huyện Châu Thành) làm lễ rước vong linh Bác Hồ và liệt sĩ đưa vào điện thờ, thờ cùng với các thần thánh bổn địa. Cách làm ấy được các đình khác học tập. Hiện nay, nhiều đình lập bàn thờ Bác Hồ ở chính điện xem như là một trong nhiều vị thần được phụng thờ.

Ở đền thờ Hùng Vương (Biên Hòa), Bác Hồ được thờ ở tiên điện như là vị Hùng Vương thứ 19. Ngày lễ chính của đền này là ngày 10/3 âm lịch (giỗ Tổ) và 19/5 dương lịch (sinh nhật Bác). Trong ngày lễ hội tại đền, trước bàn thờ Bác Hồ và Quốc tổ Hùng Vương có đủ thành phần: Đảng viên cộng sản, chính quyền địa phương, phật tử, giáo dân, có cả các chức sắc của Thiên chúa giáo và Phật giáo... Ở đây mối quan hệ đoàn kết toàn dân có chung hạt nhân là Quốc tổ, trong đó mặc nhiên Bác Hồ như là vị Quốc tổ thứ 19.

Người Việt gốc Hoa làm nông nghiệp tại Phú Hòa (Định Quán), Tân Phong (BiênHòa) sau ba mươi năm nghèo khó, từ năm 1990 mới vươn lên khấm khá, tổ chức được lễ cầu an theo phong tục cổ truyền. Lễ cầu an không phụ thuộc vào đình miếu, chùa chiền, không định kỳ, khi sung túc mới thực hiện nhằm tạ ơn thánh thần và cầu được mùa, phát đạt. Trong buổi lễ, cần có một chủ vương ngự ở chánh điện để chứng kiến và làm nhịp cầu nối những tấm lòng thành của dân với các đấng thần linh. Những lần trước, chủ vương được chọn là ông trời (Hoàng Thiên) hoặc Quan Thánh đế. Từ năm 1990, vị chủ vương được chọn là Bác Hồ. Ảnh Bác được rước vào chính điện, đặt ở ngôi chủ vương, hai bên là bài vị của 28 vị thần khác. Lý do chọn Bác Hồ làm chủ trương thật dễ hiểu: Chỉ có con đường của Bác Hồ mới dẫn đến đời sống khấm khá chưa từng có hôm nay.

Trong tâm trí của một số chức sắc phụ trách chùa Phật và nhà thờ Thiên chúa giáo ở Đồng Nai, lúc nào cũng có Bác Hồ bên cạnh giáo dân và phật tử Khi Bác mất, thông cáo của Hội nghị liên tịch giữa Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam và các tổ chức nhân dân được truyền đi, nhiều đình chùa ở Đồng Nai hưởng ứng, tổ chức truy điệu Bác bằng cầu siêu, cầu hồn ở chùa, nhà thờ thánh thất. Lễ cầu siêu ở chùa Long Thiền (tổ đình của Phật giáo ở Đồng Nai) có hàng nghìn người đến dự. Hòa thượng Thích Huệ Thành cho rằng: Bác Hồ có cốt cách và đức từ bi của Phật. Ni sư Huệ Hương (trụ trì chùa Bửu Phong) xem Bác Hồ như là một trong "những Giáo chủ của Phật giáo" và luôn nhang khói cho Người. Với linh mục Nguyễn Kim Đoan (giáo xứ Bùi Thượng) Bác Hồ có đức độ gần với Chúa sáng thế, ông luôn có ảnh Bác Hồ trên bàn làm việc và thường trích dẫn lời Bác Hồ để giáo huấn con chiên. Thực hiếm thấy một nhân vật lịch sử cùng được tôn vinh ở các tầng lớp nhân dân và ở các tôn giáo như vậy. (hết trích)


Xin đọc kỹ đoạn cuối vừa dẫn, và xem lại có phù hợp với kinh điển các tôn giáo hay không? Vì tôn trọng chiếc áo của các thầy tu, người viết không muốn bàn sâu lời của các tu sĩ đã ca ngợi ông Hồ như thế.

Chỉ thắc mắc là: không rõ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam và Hội Đồng Giám Mục Công Giáo VN đã chính thức có ý kiến phong thánh cho ông Hồ chưa?


Và cuối cùng, xin ghi thêm tình hình rằng trong khi Đảng cộng sản Việt Nam thúc đẩy cả nước tôn thờ ông Hồ thì “Tượng đài Trần Hưng Đạo (Nha Trang) đang xuống cấp nghiêm trọng…”. Đó là tựa đề một bản tin trên Đài Tiếng Nói Việt Nam từ Hà Nội, trích vài đoạn như sau:

http://www.danchimviet.com/php/images/052007/tranhungdao.jpg
Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (Nam Định, Việt Nam)
Nguồn: http://www.my.opera.com/
--------------------------------------------------------------------------------

Tại Nha Trang, trong khi đền thờ Trần Hưng đạo được bảo quản, chăm sóc chu đáo thì ngược lại, tượng đài ông ở công viên Bạch Đằng lại ít được quan tâm, bảo vệ, giữ gìn, tôn tạo đúng tầm với giá trị lịch sử của dân tộc…

Theo Ông Nguyễn Văn Thích, Phó giám đốc Trung tâm quản lý di tích, Danh lam thắng cảnh Khánh Hoà, tượng đài Trần Hưng Đạo tại công viên Bạch Đằng là một công trình văn hoá mang tính chất tiêu biểu của thành phố. Ở đường Nguyễn Trãi, còn có đền thờ ông. Sự kết hợp giữa đền thờ và tượng đài tạo nên một bản sắc truyền thống độc đáo của người dân Khánh Hoà.Không chỉ thể hiện truyền thống độc đáo của người dân Khánh Hoà, đây còn là nơi hàng năm tổ chức lễ dâng hương, rước xe hoa hết sức long trọng và tôn nghiêm trong lễ hội Đức Thánh Trần. Tuy nhiên, thực tế là một câu chuyện đáng buồn. Những bức phù điêu thể hiện cách điệu các trận đánh lịch sử đã bị đập phá sứt mẻ không thương tiếc, toàn cảnh khuôn viên xác xơ, hoang tàn.Ông Đàm Quang Hát - Trưởng ban quản lý đền thờ Trần Hưng Đạo-Nha Trang cho biết: "Ngày mồng 1, ngày Rằm và ngày Lễ hàng năm, chúng tôi đều dâng hương tại tượng đài Đức thánh Trần với nghi thức cổ truyền. Chúng tôi cũng đã nhiều lần phối hợp với sở Văn hoá Thông tin, Trung tâm Văn hóa-Thể thao tỉnh Khánh Hòa tổ chức rước xe hoa từ đền Trần Hưng Đạo đến Công viên Bạch Đằng một cách long trọng, tôn nghiêm. Nhưng hiện nay tượng đài tại Công viên Bạch Đằng quá xuống cấp, hư hại tất cả phù điêu, hoa văn bị đập phá, nhất là cây cảnh không có người chăm sóc".Không chỉ người có liên quan đến việc thờ cúng Đức thánh Trần mới bức xúc như vậy mà những người làm công tác quản lý văn hoá tại địa phương cũng buồn vì sự xuống cấp của tượng đài.Ông Nguyễn Văn Thích - Phó Giám đốc Trung tâm quản lý di tích- danh lam thắng cảnh Khánh Hoà cho biết, một thực trạng đáng buồn là hiện nay khu vực tượng đài không được ai chăm sóc để tôn vinh giá trị của dân tộc ta… (hết trích)


Thế đó. Bác Hồ đẩy vua Lạc Long Quân ra, để Bác vào ngồi ngang hàng Quốc Mẫu Âu Cơ. Ông Phó Tỉnh Đồng Nai cũng khéo làm sao gài được một vị sư, một vị ni, và một linh mục đồng thanh ca ngợi ông Hồ mấp mé ngang hàng Phật và Chúa. Bài viết của ông Phó Tỉnh mà dịch ra Anh Văn cho quốc tế đọc, thì cả thế giới tha hồ mà cười tới sập cả lăng. Trong khi đó, Đức Trần Hưng Đạo bị đẩy lui vào bụi mờ lịch sử…

Chỉ ghi vài chuyện cho đồng bào mình đọc, để thử suy nghĩ xem nhà nước cộng sản Việt Nam tính toán gì mà cho thiết lập Hồ Giáo như thế. Hồ Giáo, Hồ Giáo, Hồ Giáo là gì ? Trả lời theo kiểu Miền Tây Nam Bộ của dân mình là: Biết chết liền.

--------------------------------------------------------------------------------
Bài do tác giả gởi đến. DCVOnline biên tập và minh hoạ

dc
-----
http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=1836

http://www.doi-thoai.com/baimoi0507_198.html
http://www.tiengnoigiaodan.net/

Hồ Chí Minh bị Lê Duẩn lấn át, khống chế?

Hồ Chí Minh bị Lê Duẩn lấn át, khống chế?
Thursday, January 29, 2004

MINH VÕ

Nhiều tác giả ngoại quốc cho rằng ông Hồ là người ôn hòa “có lòng nhân ái”, hay ít nhất không có xu hướng dùng bạo lực. Chuyện đảng CSVN quyết dùng võ lực “thống nhất” đất nước, đẩy nhân dân vào lò chiến tranh khốc liệt gây thương vong cho hàng chục triệu người, là do nhóm Lê Duẩn chủ trương, mà ông Hồ không ngăn cản được vì thuộc thiểu số. Nói lên điều này có thể bị nhiều người đã quá hiểu ông Hồ chế riễu là ngây thơ hoặc kết tội “làm lợi cho CS”. Nhưng vì đây là ý kiến của số đông tác giả CS và ngoại quốc đã được ghi lại trong nhiều pho sách lớn, hiện nằm trong các thư viện và đại học ở Mỹ, nên thiết tưởng cũng nên đem ra mổ xẻ để xem rõ thực hư.

Trước hết hãy xét qua về tính tình và hành động của ông Hồ qua nhận xét của một số người ngoại quốc có dịp gặp ông. Không chỉ có những người Mỹ như Archimedes Patti, Charles Fenn, Gallagher hay anh chàng John nào đó mà cả những tác giả Pháp như Bernard Fall, Jean Lacouture và Jean Sainteny... đều cho rằng HCM là con người ôn nhu “ngọt ngào”. Sự việc ông hay khóc, hay ôm hôn nhi đồng, cởi áo khoác của mình tặng một sĩ quan Pháp (*) hay lấy áo len của mình cho một người lính đứng gác với mảnh áo phong phanh trong mùa đông (**)...cũng được nhắc tới như biểu lộ của lòng nhân ái.

Ngay việc ông ký hiệp định sơ bộ 6- 3- 1946 với Pháp, việc ông giải tán đảng CS, lập chính phủ liên hiệp với phe đối lập không cộng sản và chống cộng sản, cũng được nhiều nhà báo và sử gia ngoại quốc coi như những bằng chứng về sự ôn hòa.

Thời ông còn sống có hai bản hiến pháp ra đời (1946 và 1959) đều không nói đến chuyên chính vô sản và độc quyền lãnh đạo của đảng CS. Nhiều người coi đó là những bằng chứng về sự ôn hòa của HCM.

Khi tổng thống Ngô Ðình Diệm sắp bị giết, nhiều người đã nói đến tin HCM gửi tặng ông cành đào có đính kèm thiệp chúc Tết (quý mão, 1963) và một loạt những cử chỉ hành động biểu lộ thiện chí muốn thương thuyết - giải quyết vấn đề thống nhất trong hòa bình (?)- giữa Ngô Ðình Nhu và Phạm Văn Ðồng và những đàn em khác trong đó có Phạm Hùng, từng là nhân vật số hai (sau Lê Duẩn) của cộng đảng ở miền Nam trước đó 8 năm.

Nguyễn Văn Trấn, từng là một trong mấy cán bộ CS cao cấp nhất của miền Nam, sau khi đã phản tỉnh đã thuật lại trong cuốn “Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội” về thái độ của HCM đối với Liên Xô và Bắc Kinh. Tác giả cho rằng HCM theo đường lối “sống chung hòa bình” của Khrutshchev, nhưng bị thiểu số, bị Lê Ðức Thọ (đàn em ruột của Lê Duẩn) khống chế. Ông trích dẫn lời Bùi Công Trừng tả cảnh ông Hồ chủ trì hội nghị trung ương lần thứ 9 ngày 11- 12- 1963 (chỉ hơn một tháng sau khi tổng thống Ngô Ðình Diệm bị giết). Nguyên văn lời Bùi Công Trừng nói với tác giả:

“Mày coi, coi nó tội nghiệp không. Ðồng chí HCM muôn vàn kính yêu của chúng ta bận đồ lụa gụ, chủ trì hội nghị mà mặt day ra sân. Có lỗ tai tự nhiên nó phải hứng những lời công kích mạt sát Liên Xô. Khi chướng tai quá, quay vô, đưa tay để nói, thì thằng Thọ lễ phép Bắc Hà: “Bác hãy để cho anh em người ta nói đã mà.”

“Tao đếm lão Hồ, đưa tay mấy lần, lần nào thằng Thọ cũng kịp ngăn. Cuối cùng ông cũng cho hội nghị nghe, ông nói ca dao bằng tiếng khóc: Khi thương trái ấu cũng tròn. Khi ghét bò hòn cũng méo. Và ông nói xụi lơ: Thấy lợi người ta cho tên lửa vô; thấy bất lợi người ta rút ra mà!” (1)

Kết quả của hội nghị này là nghị quyết số 9, một nghị quyết tối quan trọng, mở màn cho cuộc tấn công miền Nam, sau khi tổng thống Ngô Ðình Diệm, rồi tổng thống John F. Kennedy bị giết trong vòng 3 tuần lễ trong tháng trước. Hai vị tổng thống đều có chủ trương rút quân Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam, mặc dù lúc ấy cũng chỉ mới có 16 ngàn lính Mỹ được tăng cường từ cuối 1962.

Có nhiều lý do để cho rằng cái chết bất thình lình của hai vị tổng thống nói trên đã khiến Trung Cộng thay đổi thái độ, thúc đẩy phe thân Trung Cộng trong Cộng Ðảng Việt Nam phải tốc chiến tốc thắng, để đặt tình hình Nam Việt Nam trước một sự đã rồi, trước khi quân Mỹ chắc chắn sẽ đổ vào Việt Nam để Mỹ hóa cuộc chiến tranh này, khiến Trung Cộng sẽ không có cách gì tránh bị lôi vào vòng chiến với siêu cường Mỹ. Trước kia (ngay từ tháng 7 năm 1954) Trung Cộng đã tỏ ý không chống-mà còn có vẻ muốn giao hảo với chính quyền Ngô Ðình Diệm (***) -Vì họ biết ông Diệm không phải là người muốn Mỹ hóa cuộc chiến tranh. Và có lẽ cũng vì muốn duy trì 2 nước Việt Nam hòng tránh phải đối phó với một Việt Nam thống nhất hùng mạnh và ương ngạnh.

Nay thì tình hình đã khác. Với những tướng lãnh chỉ biết theo lệnh Mỹ mới lên cầm quyền, miền Nam sẽ trở thành căn cứ quân sự của Mỹ trong nay mai. Lợi dụng lúc tình hình bất ổn ra tay trước để chiếm ưu thế là thượng sách. Người ta cho rằng đó là lý do khiến Trung cộng thay đổi chiến lược và những tay thân Trung Cộng, có xu hướng dùng võ lực tấn công Miền Nam chiếm ưu thế trong đảng CSVN.

Tuy nhiên bảo rằng ông Hồ không tán thành chủ trương của Trung Cộng, chỉ vì bị thiểu số mà tuân theo ý đồ hiếu chiến của nhóm Lê Duẩn, thì cũng không đúng. Muốn tìm hiểu ông Hồ có bị nhóm Lê Duẩn khống chế hay lấn át không, tưởng cần phải xem nguồn gốc của Lê Duẩn và trường hợp ông ta được đưa lên lãnh đạo đảng.

Lê Duẩn là người miền Nam, sinh tại Triệu Phong, thuộc tỉnh Quảng Trị liền dưới vĩ tuyến 17. Trong đệ nhị thế chiến, rồi trong kháng chiến từ 19- 12- 1946 đến 20- 7- 1954 ông ta đã 2 lần bị tù vì chống Pháp, tổng cộng 10 năm tại Côn Ðảo. Ðến khi cách mạng tháng 8 thành công, các đồng chí đã quên ông. Mãi mấy tuần sau mới rước ông về cho giữ một chức vụ kém quan trọng mà ông cho là bỉ mặt ông, coi thường thành tích đấu tranh trong quá khứ của ông. Vì vậy ông có vẻ hận những kẻ như Trần Văn Giàu, Nguyễn Bình và cả Võ Nguyên Giáp... Sau hiệp định Genève, Lê Duẩn tình nguyện ở lại nằm vùng để duy trì lực lượng và tiếp tục gây rối miền Nam. Ông được coi là người có óc tổ chức giỏi, mặc dù xuất thân từ một gia đình thợ mộc, học thức mới qua bậc tiểu học, từng làm việc bẻ ghi cho công ty đường sắt, nhưng nhờ chịu học hỏi trong những năm tù ở Côn Ðảo, nên có một kiến thức khá sâu rộng về mặt tổ chức cách mạng. Nhờ thế, sau khi trung tướng Nguyễn Bình bị loại, (2) vào năm 1951, ông đã thay ông này lãnh đạo “Cục R”, là tổ chức trung ương của chi nhánh CS tại miền Nam một cách đắc lực.

Sau khi cải cách ruộng đất ở miền Bắc gây bất mãn trong nhân dân và trong nội bộ đảng, vì có quá nhiều đồng chí bị giết oan, tổng bí thư Trường Chinh bị ông Hồ cất chức. Lúc ấy ai cũng nghĩ ông Hồ sẽ cử tướng Võ Nguyên Giáp lên thay vì tướng Giáp là anh hùng Ðiện Biên, tên tuổi vang lừng chẳng những trong nội bộ đảng và nhân dân miền Bắc, mà trên khắp thế giới. Hơn nữa chính ông Hồ đã phải nhờ tiếng “thơm” của VNG để xoa dịu sự căm phẫn của nhân dân, bằng cách cử VNG đại diện đảng xin lỗi nhân dân vì những sai lầm trong CCRÐ. Nhưng có lẽ cũng vì tiếng tăm đó khiến ông Hồ đắn đo, không muốn để VNG lãnh đạo đảng, sợ rằng uy tín thế lực của VNG sẽ lấn át chủ tịch đảng. Vì thế ông Hồ đã đích thân kiêm nhiệm chức tổng bí thư đảng trong một thời gian.

Năm 1957, sau một thời gian vắn sinh hoạt tại miền Bắc, Lê Duẩn được ông Hồ cho tạm xử lý chức tổng bí thư. Thực ra lúc ấy Lê Duẩn chưa có tiếng tăm gì. Lại là người miền Nam, trong khi ban chấp hành trung ương đảng gồm đa số người Bắc (bắc vĩ tuyến 17). Cho đến đại hội 3 vào năm 1960, Lê Duẩn với sự giới thiệu của ông Hồ, mới được bầu vào chức bí thư thứ nhất của đảng, tương đương với chức tổng bí thư cũ của Trường Chính. Nhưng danh xưng nghe có vẻ hơi lép vế. Như vậy trong khi điều hành công việc đảng, Lê Duẩn sẽ phải dựa vào uy tín và sự chỉ đạo của HCM hơn, và do vậy sẽ phải trung thành hơn. Có người cho rằng đó chính là lý do Lê Duẩn được HCM chọn. Nhưng cũng có người lại nghỉ, sở dĩ ông Hồ chọn Lê Duẩn vì Lê Duẩn có công và có kinh nghiệm với chiến trường và nhân dân miền Nam. Và, nhất là LD là người quyết tâm thực hiện thống nhất bằng bất cứ giá nào, kể cả cuộc chiến đẫm máu. Xem ra cả hai lý do đều có cơ sở.

Những ai thường nhắc đến chuyện ông Hồ luôn ôm ấp trong lòng mộng giải phóng miền Nam, coi đó như ước nguyện cả đời ông, chắc phải đồng ý về lý do chọn lựa này. Chính ông Hồ đả chẳng thốt ra trong lúc bệnh nặng ở vùng Việt Bắc, trong cơn mê sảng rằng dù có phải đốt cháy hết dẫy trường sơn, cũng phải đánh đó sao? Ông đã chẳng nhiều lần hứa với nhân dân: dù có phải chiến đấu 5 năm hay mười năm, hai mươi năm hay lâu hơn nữa cũng nhất quyết đánh đó sao? Và như vậy những gì LD làm có thể bảo là đi ngược lại chủ trương đường lối của ông Hồ không?

Tuy nhiên có một sự kiện sau đây khiến phải suy nghĩ, được nhà báo Thành Tín kể lại trong cuốn “Vietnam, la face cachée du régime” và tác giả nói là ông có ghi âm trước nhiều nhân chứng khác. Ðó là việc chính Lê Duẩn khoe khoang, cho rằng mình hơn ông Hồ. LD chê HCM không dám chủ trương chiến tranh, chỉ dám có ảo vọng thống nhất bằng đường lối hòa bình. Ðây mời bạn đọc theo dõi lời tường thuật của Bùi Tín mà chúng tôi tạm dịch sau đây:

”Một hôm ông ta (LD) khoe khoang trước những người được chính thức cử viết tiểu sử của ông ta - trong đó có tôi-: “Sau hiệp định Genève bác Hồ vẫn tiếp tục tin rằng tổng tuyển cử sẽ có thể xảy ra được trên toàn quốc. Ðó chỉ là ảo tưởng. Tôi nhìn sự việc đúng hơn Bác. Tôi lập tức tiên liệu việc phải dùng tới bạo lực cách mạng. Tôi bảo các đồng chí miền Nam hãy chôn vũ khí. Chính tôi đã bảo họ để lại lực lượng tại miền Nam chứ đừng tập kết hết ra Bắc.” (3)

Ðọc Bùi Tín thì thấy, tuy tác giả cũng có ý nghĩ ông Hồ đỡ hiếu sát hơn mấy đàn em, nhưng xem ra trong trường hợp này ông không tin LD, vì cho rằng LD hiếu danh vào hay khoe mẽ. Vả lại LD chỉ dám khoe sau lưng HCM. Ðúng ra ông Hồ đã chết được 14 năm rồi: Chuyện xảy ra năm 1983, chỉ còn 3 năm nữa đến lượt Lê Duẩn theo “bác” đi gặp Các Mác và Lênin.

Vũ Thu Hiên thì trưng dẫn lời của thân phụ ông là Vũ Ðình Huỳnh từng là người rất thân cận của ông Hồ cho rằng ông Hồ không chủ trương dùng bạo lực. Và còn muốn người ta xét ông Hồ một cách công bình. (4) Nói về Lê Duẩn, tác giả Ðêm Giữa Ban Ngày viết: “Không có chiến tranh, LD không còn là LD. LD chẳng ngần ngại chê bai HCM không dám chủ trương dùng bạo lực giải phóng miền Nam. “Bác còn do dự, chớ khi rời miền Nam tui đã chuẩn bị hết cả rồi. Với tui chỉ có uýnh thôi, uýnh cho tới thắng lợi cuối cùng”. (5)

Tôi đã trưng dẫn Nguyễn Văn Trấn, Bùi Tín, Vũ Thư Hiên. Cả ba người đều đã phản tỉnh vì chán ghét chế độ CS. Nhưng cả ba đều xem ra hãy còn nghĩ ông Hồ không chủ trương bạo lực. Như vậy khỏi cần đọc các tác giả CS khác vì họ cũng không nói khác được. Chính vì vậy mà những nhà khoa bảng và học giả Tây Phương khi viết sách về HCM, phần nhiều chỉ dựa vào những nhận xét tương tự để viết. Không lạ gì hầu hết đều khen ông Hồ khoan hòa, nhân ái và không chủ trương bạo động. Vậy chuyện hiếu chiến, quyết dùng chiến tranh tàn bạo để “thống nhất” phải là chuyện của đàn em ông Hồ đứng đầu là Lê Duẩn, được sự trợ tá đắc lực của Lê Ðức Thọ, người Bắc (Nam Ðịnh),

Với tất cả những gì được trình bày từ đầu, xem ra lập luận trên có vẻ xác đáng. Nhưng mổ xẻ kỹ từng vụ việc người đọc sẽ thấy không hẳn như vậy.

Trước hết, xin nhắc lại lời ông Hồ trả lời cho ông Vũ Ðình Huỳnh là thân phụ của nhà văn Vũ Thư Hiên hồi mùa thu năm 1946 tại Paris khi ông Huỳnh hỏi ông Hồ tại sao lại có thể khóc một cách dễ dàng như vậy tại nghĩa trang Père Lachaise. Ông Hồ trả lời: “Làm chính trị thì phải biết cười khi cần cười, biết khóc khi cần khóc.” Ông Hồ đã khóc rất nhiều lần. Với ông Nguyễn Hải Thần. Trước nhân dân sau cải cách ruộng đất. Sau khi ký hiệp định sơ bộ 6- 3- 1946... Nước mắt của nhà chính trị khác nước mắt người thường ở chỗ nó không chân thật. Nói cách khác là một kịch cảnh. Nhưng nó lại giống hệt như thực lòng.

Cũng tương tự như vậy, khi ông cười nói nhẹ nhàng giản dị đơn sơ có vẻ đầy tình người với những Patti, Fenn, Gallagher, hay Lacouture, Bernard Fall, Sainteny hay Wilfred Burchett, hay France Fitzgerald... hay bất cứ nhà báo nào khác, hoặc khi ông cố tình đi dép ăn mặc sơ sài từ ngoài bước vào “tiếng chân nhẹ nhàng như tiếng lụa xào xạc”, (chữ của Lacouture) trong khi nhà báo đang bàn luận nghiêm túc với thủ tướng Phạn Văn Ðồng về những vấn đề quan trọng. Rồi điềm nhiên hỏi sang những vấn đề cá nhân của nhà báo tỷ dụ như chân dung của HCM do phu nhân Bernard Fall vẽ vân vân... Những cử chỉ lời nói tuy thấy rất tự nhiên đó, thực ra đã được xếp đặt trước để gây cảm tình, để “đắc nhân tâm” là điều một chính khách chuyên nghiệp đã thuộc làm lòng và xử sự vô cùng tự nhiên như bản tính tự nhiên. Không phải là chính khách già dặn thì khó nhìn ra cách giả tạo của nó. Ông Hồ hơn người ở chỗ ông giả tạo một cách rất tự nhiên. Vì ông đã được học tập và rèn luyện rất kỹ khi bắt đầu làm điệp viên thượng thặng cho QTCS. Ông còn được đào luyện hơn thế nữa. Chẳng những là điệp viên mà ông còn là một nhà chiến lược, am tường cặn kẽ mọi lời dạy của lãnh tụ Lênin. Vì không biết dĩ vãng của ông Hồ trong thời gian học tập và rèn luyện (trong hơn 4 năm) về nghề gián điệp tình báo để hoạt động cách mạng bí mật cho nên những người Tây phương được gặp ông đều lầm.

Về những lời dạy của sư phụ Lênin, ông Hồ đã áp dụng triệt để khi giải tán đảng CS, ký hiệp định sơ bộ, và lập chính phủ liên hiệp. Ðọc chương đầu của phần II này, bạn đọc đã thấy rõ.

Về 2 bản hiến pháp được ban hành trong thời gian ông Hồ còn sống. Ðúng là chúng không mang tính độc tài, độc đảng, chuyên chính vô sản như hai bản hiến pháp sau này, khi ông đã chết. Nhưng như vậy không phải vì ông dân chủ hơn, vì dân tộc hơn. Mà chỉ vì, theo chiến lược sách lược giai đoạn, chưa toàn thắng thì chưa thể công khai hóa nền chuyên chính vô sản. Hơn nữa với CS hiến pháp chỉ là món đồ trang trí. Nó không có hiệu lực thực tế. Vì có bao giờ họ thực lòng áp dụng hiến pháp đâu. Cứ nhìn vào cuộc cải cách đẫm máu, “long trời lở đất”, cuộc đàn áp dã man các văn nghệ sĩ trong vụ án “nhân văn, giai phẩm”, vụ bắt bớ giam cầm hằng trăm người trong cái gọi là vụ án xét lại chống đảng, và chế độ báo chí hoàn toàn bưng bít ngay trong thời gian ông Hồ còn sống với 2 bản hiến pháp đó đủ rõ.

Về vấn đề ông Hồ tính chuyện cùng với chính quyền miền Nam lập “liên bang Ðông Dương” và khởi sự có những tiếp xúc sơ khởi với ông Ngô Ðình Nhu, thì đây là một vấn đề khá phức tạp và còn nhiều bí ẩn. Không có tài liệu chính thức nào từ phía VNDCCH cũng như từ phía Ðệ Nhất Cộng Hòa được công bố. Vì vậy không đủ dữ kiện để phán xét. Tuy nhiên chúng tôi cũng xin giả thiết là nó có thực, để bàn thêm cho vui. Vì thực ra rất nhiều người vẫn coi đó là chuyện có thực. (6)

Trước hết hãy xét về phía Bắc Việt. Ông Hồ là người Mác Xít, đồ đệ ruột của Lênin, và từng được gọi là “kẻ theo chủ nghĩa Stalin thuần thành”, được chính Khrutshchev gọi là “tông đồ” của chủ nghĩa CS. (7) Ðọc phần I, độc giả đã thấy chính những tác giả ca tụng ông Hồ là người yêu nước đã viết ra, chứ không phải chúng tôi khẳng định vô căn cứ. Với tư cách đó, mục tiêu chiến lược tối hậu của đấu tranh cách mạng của ông Hồ phải là tiêu diệt chủ nghĩa tư bản. Nhưng mục tiêu chiến lược giai đoạn của ông (lúc đó) có thể là đánh đổ chế độ đệ nhất Cộng Hòa. Và trước khi đạt mục tiêu chiến lược giai đoạn này, ông có thể áp dụng mục tiêu sách lược giai đoạn tạm thời hòa hoãn với chính quyền Ngô Ðình Diệm mà ông biết anh hai Trung Cộng đã từng có lần muốn giao hảo, thiết lập bang giao, và anh cả Liên Xô (1957) từng có lúc đề nghị thu nhập vào Liên Hiệp Quốc, và cũng là chính quyền được nhiều nước trên thế giới công nhận hơn chế độ của ông Hồ, hơn nữa nó lại có ưu thế về kinh tế.

Nếu vì cái mục tiêu sách lược vắn hạn này mà ông Hồ tính chuyện (tạm thời) hiệp thương thì cũng không có gì lạ.

Về phía VNCH, có người như sử gia Hoàng Ngọc Thành phê bình ông Ngô đình Nhu là nuôi ảo tưởng. Nhưng thực ra anh em ông Diệm đã có kinh nghiệm với CS. Họ không lạ gì những mánh lới gian xảo của CS. Vì hiểu biết rõ CS nên ông Diệm ngay từ đầu đã không bị lầm như Huỳnh Thúc Kháng và các đảng phái quốc gia khác hồi năm 1945. Ông đã dứt khoát từ chối hợp tác với HCM trong một chính phủ liên hiệp. Nhưng đó là vào lúc ông chưa có thế lực gì. Hợp tác với CS sẽ bị CS chi phối hoàn toàn. Còn bây giờ thì khác. Cái thế của ông hơn hẳn cái thế của ông Hồ, mặc dầu do vụ Phật giáo, và áp lực của Mỹ nó đã có phần kém mấy năm về trước.

Cứ xét tình hình cả hai phía lúc ấy, chuyện đi đến hiệp thương giữa hai miền có thể thực hiện được, và có thể có lợi cho cả hai bên. Cả hai miền sẽ giảm áp lực của ngoại bang. Ít nhất là trong một thời gian nào đó hai bên sẽ thi đua phát triển về mọi mặt cho đến khi một bên sẽ vượt trội lên để rồi thống nhất đất nước theo chế độ của mình. Và như vậy toàn dân sẽ được hưởng một giai đoạn tương đối an bình, tránh được cuộc chiến ác liệt như nó đã diễn ra hơn một năm sau khi anh em ông Diệm chết.

Nhưng đó là giả thiết áp lực của Liên Xô, Trung Cộng trên miền Bắc và áp lực của Mỹ đối với miền Nam không quá mạnh để phá vỡ kế hoạch hiệp thương đó. Trong thực tế vì quyền lợi các nước lớn, và vì tình hình căng thẳng giữa hai khối Ðông, Tây trên thế giới lúc ấy, đó là một chuyện rất khó thực hiện. Tuy nhiên không phải hoàn toàn là ảo tưởng. Và đối với VNCH, hiệp thương lần này không nhất thiết sẽ thất bại như sự liên hiệp của các đảng phái quốc gia với CS hồi năm 1945- 1946. Hơn nữa đồng minh Hoa Kỳ đã dồn ông Diệm vào cái thế phải thương lượng với miền Bắc.

Bây giờ lại xét về phía ông Hồ. Ông có thực lòng muốn sống chung hòa bình với chính quyền miền Nam hay không? Hay đây chỉ là cái bẫy ông giăng ra để anh em ông Diệm sa vào rồi bị giết? Trong thực tế, người Mỹ đã coi việc ông Diệm để em ông tiếp xúc với Bắc Việt như một cái cớ để lật ông. Tuy nhiên cũng có thể cho rằng ông Hồ không cố tình giăng bẫy. Ðó chỉ là sự rủi ro về phía ông Diệm.

Dầu sao, có một điều chắc chắn. Ðó là sách lược giai đoạn mà ông Hồ luôn áp dụng theo các nguyên lý của chủ nghĩa Lênin. Vì ông là “tông đồ” của chủ nghĩa đó nên tuy “ông sống và làm việc nhưng không phải ông, mà chính Lênin sống và hoạt động trong ông”. (8)

Chính vì sống khắng khít với sư tổ Lênin như thế nên lúc nào ông cũng uyển chuyển sẵn sàng thay đổi chiến lược, sách lược đấu tranh tùy theo tình hình. Cũng theo tinh thần đó và bối cảnh đó, ta có thể giải thích thái độ của ông trong hội nghị trung ương 9 vào trung tuần tháng 12- 1963 được Nguyễn Văn Trấn thuật lại trong sách của ông, và chúng tôi vừa trích dẫn một lời vắn tắt của Bùi Công Trừng. Nghe họ Bùi nói thì tội nghiệp cho ông Hồ thật. Chủ trì buổi họp mà bị anh chàng Lê Ðức Thọ, cánh tay mặt của Lê Duẩn o ép, không cho nói. Chuyện có vẻ khôi hài khó tin. Nhưng có thật. Vì chả nhẽ ông già Chợ Ðệm nỡ đặt điều nói dối mẹ ông. Ðây là thư viết gửi mẹ... mà.

Quả tình sau cái chết của ông Diệm, tình hình đột biến ngoài sự chờ đợi của ông Hồ. Nước cờ ông định đi bỗng khựng lại. Những kẻ chủ chiến từ Bắc Kinh và từ nội bộ đảng của ông ào ào tiến lên như vũ bão. Là chủ tịch đảng, chủ tịch nước, hơn nữa là một chính trị gia già dặn, ông chẳng khác nào người chủ ghe đang lái con thuyền buồm bỗng thấy cảnh “trái gió cho nên phải lộn lèo” (9) Người lái thuyền buồm phải nương theo gió, theo dòng nước mà điều khiển “tay lái tay lèo” là thế. Hãy cứ giả vờ như mình bị nhóm hiếu chiến áp đảo đi. Vì lúc này đây trong bụng mình cũng đã thuận theo chiều gió ấy rồi. Giơ tay mà đàn em không cho nói càng hay. Vì nếu nó để cho nói đâm ra lại khó nói. Ðó là cái khôn khéo trí trá của một chính khách xảo quyệt, lâm lúc khó xử. Chứ với cương vị của ông, và với sự thần phục tôn thờ của lũ đàn em chung thủy, nếu ông cương quyết dùng quyền chủ tịch, chủ tọa hội nghị, nhất định bắt hội nghị lắng nghe, thì bố anh chàng Lê Ðức Thọ cũng chẳng dám cản ngăn. Nguyễn Văn Trấn, Bùi Công Trừng, Ung Văn Khiêm toàn là những người miền Nam thẳng ruột ngựa khó mà hiểu nổi thâm ý lắt léo của ông Hồ. Chả trách những nhà báo tây phương trẻ măng lúc ấy.

Cũng chính trong hội nghị 9, đẻ ra nghị quyết 9 sặc mùi hiếu chiến này, ông Hồ đã “đánh lừa” cả tướng Lê Liêm. Theo Vũ Thư Hiên thì ông Hồ đã khuyến khích Lê Liêm phát biểu chống dùng võ lực, và hứa ông sẽ ủng hộ. Nhưng khi Lê Liêm phát biểu bị nhóm Lê Duẩn Lê Ðức Thọ khiền, thì chủ tịch HCM vẫn im lặng. Có phải vì HCM sợ đàn em hiếu chiến không? Hay đây là kế hoạch dùng Lê Liêm làm con mồi để dụ những tay “phản chiến” ra mặt? Ai mà biết được mưu sâu của “cáo già”! Cũng trong hội nghị này, trong giờ giải lao Dương Bạch Mai, một trí thức miền Nam, có xu hướng đệ tứ, sắp đọc một tham luận quyết liệt chống thống nhất bằng võ lực, thì đột tử. Căn cứ vào những sự việc xảy ra trước và liền sau khi DBM chết được VTH thuật lại tỷ mỷ trong “Ðêm Giữa Ban Ngày” thì phải kết luận: chắc chắn ông bị đầu độc. Nhưng ngoài ông Hồ, ai dám quyết định và hạ lệnh thi hành tội ác đó với một ủy viên trung ương đảng, phó chủ tịch quốc hội?

Nhà thương thuyết Jean Sainteny, trong cuốn Histoire d’une paix manquée, khi nói về hội nghị Ðà Lạt (sau hiệp định sơ bộ 6- 3- 46, trước hội nghị Fontainebleau) đã cho rằng Võ Nguyên Giáp là kẻ có cá tính mạnh đáng sợ và chi phối hoàn toàn hội nghị này, trong khi đó thì HCM mềm dẻo và hiếu hòa hơn tại Paris. (9bis) Tiếc rằng lúc ấy ông không biết chính HCM mới là người điều khiển hoàn toàn hội nghị Ðà Lạt, bất chấp vai trò trưởng đoàn của bộ trưởng Ngoại Giao Nguyễn Tường Tam, HCM đã đặt Phùng Thế Tài làm mật báo viên và chuyên viên về mật mã cạnh hội nghị để thường xuyên báo cáo cho HCM mọi diễn biến của hội nghị và chuyển chỉ thị của HCM cho Võ Nguyên Giáp, qua mặt Nguyễn Tường Tam. Ðọc lại kỹ chương về Phùng Thế Tài, độc giả sẽ rõ. Chính vì biết rõ và nhớ kỹ điều đó, nên VNG mới viết hẳn một cuốn sách nhan đề “Hồ Chủ Tịch, nhà chiến lược thiên tài” để ca tụng HCM. Vì một mặt HCM tỏ ra rất mềm dẻo, nhưng một mặt chỉ thị cho đàn em hết sức cứng rắn. Mục đích là để có thể thi hành sách lược mềm nắn rắn buông, và sách lược “tay đấm tay xoa”, làm cho đối phương như vào mê hồn trận. Ngay khi mới về nước, ông Hồ đã nổi tiếng là kẻ có bàn tay sắt bọc nhung, chuyên đổ lỗi cho cấp dưới. Nhưng thực ra không có chỉ thị hay sự chấp thuận của ông, không tay em nào dám lộng hành.

Chuyện VNG lộng quyền tàn sát đối lập khi ông Hồ ở Pháp cũng được các tác giả ngoại quốc nhận xét: VNG hiếu sát, còn HCM hiếu hòa! Những người đó không hiểu chiến pháp TUYÊN TRUYỀN hai mặt của các chiến lược gia cộng sản! Lãnh tụ phải có bộ mặt nhân ái, hòa hoãn, hiếu sinh. Chuyện hiếu chiến, hiếu sát phải để đàn em thi hành, rồi có gì không ổn, đổ lỗi cho đàn em!

Muốn xét ông Hồ có bị đàn em lấn quyền hay không, cũng cần phải xét đến những lời ca tụng, tôn thờ của toàn thể bộ chính trị và các cây viết của đảng dành cho ông Hồ, từ khi ông còn sống cho đến khi đã chết. Có ai dám công khai nói hay viết câu nào phê bình HCM không? Ai đã xây lăng tốn phí để thờ HCM? Ai đã đặt tên Saigon là thành phố HCM? Ai đã đưa ra tư tưởng Hồ Chí Minh? Ai đã cho sưu tập tất cả những lời nói bài viết của HCM làm thành bộ “HCM toàn tập” giống hệt những bộ Lênin, Stalin, Mao Trạch Ðông Toàn Tập, coi như sách thánh? Nếu ông Hồ yếu kém, không dám chỉ huy cuộc chiến xâm chiếm miền Nam, nếu ông Hồ nhu nhược để đàn em qua mặt trong những quyết định quan trọng của đảng, liệu đàn em có dành cho ông những vinh dự đó không? Vả lại, những vinh dự đó do chính Lê Duẩn, trong lúc phụ tá cho HCM đã chủ xướng cả đấy.

Trước khi kết thúc, để thêm chút “gia vị”, tôi xin nhắc lại câu chuyện được kể bởi nhà báo Việt Thường (10), từng sống nhiều thập kỷ trong chế độ miền Bắc, là nhân chứng của nhiều sự kiện lịch sử quan trọng và rất nhiều sự việc khác tuy nhỏ nhưng mang ý nghĩa chính trị to lớn trong chế độ đó. Và xin lưu ý, đây chỉ là một trong hàng trăm sự việc mà ông được biết và chọn viết lại trong hai tác phẩm độc đáo của ông.

Theo báo Nhân Dân của đảng thì vài tháng trước tết Mậu Thân (1968), ông Hồ sang sân bay Gia Lâm thăm đơn vị tên lửa và không quân để động viên... Tháp tùng ông có nhiều cán bộ cao cấp kể cả Võ Nguyên Giáp và Tố Hữu. Câu chuyện bên lề được VT kể sau đây, theo ông tuy không đăng trên báo nào cả, nhưng nó lại được kể ở hầu hết các tòa soạn báo, đài và cả ở quán cà phê, quán bia hơi ở Hà Nội:

“Khi nghe tin Hồ đến thăm đơn vị, lính ngụy (11) trong binh chủng phòng không, không quân, vừa đi học ở Nga Xô về, ào ào chạy ra chẳng có hàng ngũ gì cả. Từ tư lệnh binh chủng cho đến tụi bảo vệ, cho đến Tố Hữu, Văn Tiến Dũng đều vây quanh Hồ để bảo vệ, trong khi Võ Nguyên Giáp cầm loa điện cầm tay gào lên: “Yêu cầu trật tự”, mà lính ngụy cứ lờ đi. Hồ bèn giật lấy loa trên tay Giáp và hô: “Nghiêm”. Theo “phản xạ lính”, tất cả đứng nghiêm. Hồ lại hô: “Tất cả xếp hàng, 5 hàng dọc”! Bọn lính vội xếp hàng. Hồ hô tiếp “Nghiêm”! rồi lại hô “Nghỉ”; và cuối cùng hô: “Nghiêm! Ðằng sau quay! Ðều bước!” Bọn lính ngụy răm rắp làm theo. Bấy giờ Hồ cười cười quay lại bảo Giáp: “Chú là đại tướng vậy mà không biết điều khiển lính!” (12)

Sau khi thuật chuyện đó, tác giả hỏi: “Một tên gián điệp lão luyện, phản ứng rất nhanh như Hồ, ăn nói với phó thủ tướng, bộ trưởng, đại tướng như nói với thằng nhỏ, con sen như vậy, liệu có thể là kẻ để cho Lê Duẩn khống chế không??

Xin lưu ý bạn đọc lúc ấy là thời gian HCM thường hay sang Trung Quốc “chữa bệnh” và cũng chỉ còn hơn một năm nữa là “đi theo các cụ Mác Lê”.

Và cũng xin quý vị đọc lại chương về tổng công kích tổng nổi dậy năm Mậu Thân trong phần II này, để thấy rõ những gì ông Vũ Kỳ, thư ký riêng tín cẩn của HCM đã thuật lại về việc ông Hồ được báo cáo đầy đủ và đích thân dự các hội nghị quan trọng về cuộc tổng công kích này cũng vào dịp Tết Mậu Thân đó, để thấy thêm một bằng chứng nữa là tuy đã già yếu và bệnh tật, ông vẫn còn sáng suốt điều khiển việc nước, quyết định những trận đánh lớn, gây tang thương cho gần chục vạn người. Không phải ông ta đã “bị cho ra rìa”, “ngồi chơi xơi nước” như một số tác giả tên tuổi đã gợi ý để gián tiếp bào chữa cho ông, coi ông như người ôn hòa, còn chuyện hiếu chiến gây chết chóc là do đàn em của ông đâu.

Minh Võ

Trích Hồ Chí Minh, nhận định tổng hợp

do Tủ Sách Tiếng Quê Hương xuất bản tháng 11- 2003

Sách dày gần 800 trang khổ lớn, đóng chỉ, bìa cứng, giá 40 MK

Muốn có sách mang chữ ký của tác giả, xin liên lạc số 760- 599- 4054, hay Email:

tuyenvu@netzero.net

Chú thích:

(*) Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch của Trần Dân Tiên, nhà xb Văn Học, Hà Nội, 2001, tr. 129.

(**) Những năm tháng không thể nào quên của V.N. Giáp, nhà xb quân đội nhân dân, in lần thứ 5 tại Hà Nội, tr 46.

(***) Nhiều tài liệu đã nói đến việc thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai trong một bữa tiệc khoản đãi các phái đoàn CS tại Genève vào tháng 7 năm 1954, đã đề nghị với ông Ngô Ðình Luyện bào đệ của thủ tướng Ngô Ðình Diệm nên mở một tòa đại sứ tại Bắc Kinh. Sau này ông ta lại nhắc lại đề nghị ấy với ngoại trưởng Trần Văn Ðỗ. Chính ông Ngô Ðình Luyện cũng đã xác nhận việc này, trong dịp ông viếng Nam Cali vài năm trước khi ông mất.

SÐD trang 328.

Nhiều người nghi có bàn tay LD trong việc tướng NB bị Pháp giết vào năm 1951, khi ông ta bị gọi ra Bắc. Lộ trình của ông đã bị một kẻ nào đó mật báo cho Pháp.

SÐD của Bùi Tín trang 71. Dưới cước chú, tác giả ghi là câu chuyện xảy ra vào năm 1983, trong khi tác giả ghi âm trước sự chứng kiến của nhiều người trong đó có cả Hoàng Tùng, ủy viên ủy ban tư tưởng của đảng, Ðông Ngạc, phụ tá tổng bí thư đảng và Nguyễn Cần.

Ðêm Giữa Ban Ngày, Văn Nghệ, Nam Cali, 1997, trang 228.

SÐD trang 229. Trong cuốn “Thời Thắng Mỹ” của LD do Thép Mới chấp bút, LD cũng khoe khoang hơi lớn lối và viết không đúng sự thật, khi tự tâng bốc và làm lu mờ vai trò của những kẻ khác trong bộ chính trị kể cả HCM.

Xin xem Ngô Ðình Diệm Lời Khen Tiếng Chê của Minh Võ, Thông Vũ in lần thứ 3, 2002, trang 308- 313. Và “Tâm Sự Nước Non” Ai Giết HCM? tủ sách Tiếng Quê Hương, Virginia xuất bản tháng 3 năm 2002, trang 312- 314.

(7) Xin xem những chương liên hệ trong phần I.

(8) Nhân hai chữ “tông đồ” mà Khutshchev tặng ông Hồ, chúng tôi liên tưởng tới lời St. Paul là đại tông đồ của chúa Giêsu Kitô: “Vivo, jam non ego.Vivit vero in me Christus”(Tôi sống, song không phải tôi sống, mà là đấng Kitô sống trong tôi.)

Hồ Xuân Hương, thi sĩ nổi tiếng trong văn học sử Việt Nam với những bài thơ “lời thanh ý tục” vừa trào lộng, vừa thâm thúy. Ở đây, câu này được hiểu theo đúng nghĩa đen. Nghĩa bóng (nói lái) thì rất tục. (9bis) SÐD tr. 222.

Xin xem chương 17 phần I.

(11) Việt Thường luôn dùng chữ “ngụy” để gọi CS, xin đừng lầm với chữ ngụy mà CS gán cho người miền Nam.

(12) Việt Thường sách đã dẫn trang 227- 228.

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=153&z=12

Hồ Chí Minh: Tội nào nặng nhất?

Hồ Chí Minh: Tội nào nặng nhất?
Thursday, June 14, 2007


Ngô Nhân Dụng

Trong thời gian đi Nga và Ba Lan gần đây, tôi được nghe nhiều câu chuyện chế nhạo Hồ Chí Minh, mà những người Việt đã sống ở Hà Nội hay kể với nhau từ những năm 1950, 60 tới giờ. Tất nhiên người ta lén lút kể giữa những người thân và có thể tin cậy. Cấm kể cho trẻ em nghe, vì trẻ con không biết gì có khi kể lại với người ngoài thì cha mẹ chỉ có tù mút mùa. Những chuyện cười ở miền Bắc thường rất sâu, sâu và hiểm. Nhiều người gọi tên ông ta là Minh Râu, nghe mãi mới hiểu đó là ông Hồ. Có nhà văn kể chuyện một anh tên là Hinh, cứ ra đường ra chợ ngẩng mặt lên trời tìm cái gì đó, làm bao nhiêu người hùa theo cũng ra đường ngoảnh mặt lên trời tìm kiếm, mỗi ngày một đông hơn. Cuối cùng đám đông hỏi anh ta tìm cái gì, chính anh ta cũng không biết. Bài văn đăng lên báo, sau mới có người mách ra rằng, tên Hinh là do họ Hồ và tên Minh ghép lại, nhà văn và tờ báo đều mang họa!

Nhưng người miền Bắc đã ghét thì thường thù ghét Hồ Chí Minh thâm gan tím ruột, cho nên phần lớn các chuyện cười không có tinh thần hài hước rí rỏm như dân miền Nam. Một anh bạn đang định cư ở Phần Lan kể tôi nghe một câu chuyện cười nghe xong thì muốn khóc. Sau năm 1975, ở Chợ Gạo, tỉnh Ðịnh Tường có một ông thợ hớt tóc treo tấm biển viết, “Không gìsướng hơn cạo mặt, váy tai.” Váy, là đọc trại chữ “ngoáy,” theo lối người miền Nam. Ðó chỉ là một dòng quảng cáo. Nhưng khi công an nhìn thấy hàng chữ đó treo bên cạnh tấm hình ông Hồ thì họ hiểu. Sau đó anh thợ hớt tóc biến mất, đến bây giờ cũng chưa ai biết anh còn sống hay đã bị thủ tiêu từ hồi đó rồi. Vợ con anh ghi ngày anh bị bắt giữa đêm khuya làm ngày giỗ. Từ năm 1945 đến nay đã có biết bao nhiêu người bị thủ tiêu theo lối đó.

Ðã có bao nhiêu người vì Hồ Chí Minh mà chết?
Khi gặp những người Việt ở Ðông Âu và Nga, nhiều người từng sống trong chế độ cộng sản ở miền Bắc Việt Nam từ những năm kháng chiến chống Pháp cho tới ngày nay, người ta thường đặt câu hỏi đó. Không kể bà Nông Thị Xuân đã sinh con với Hồ Chí Minh rồi bị thủ tiêu, và em gái bà Xuân, thì con số trực tiếp hoặc gián tiếp chết vì Hồ Chí Minh lên đến nhiều triệu. Nhưng việc giết người thường không do bàn tay của ông Hồ dính vào, ông gây những tội ác nặng gấp ngàn lần tội sát nhân. Cho nên người ta cũng thi đố nhau: “Trong số những tội ác của Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam, tội nào nặng nhất?”

Nhiều người cho việc ông Hồ theo chủ nghĩa cộng sản là tội nặng nhất. Tất cả tai họa trùm lên nước Việt Nam suốt từ năm 1945 đến giờ đều chỉ vì có người đem chủ nghĩa cộng sản theo lối Stalin về áp dụng ở nước ta. Thực ra thì trong thập niên 1920-30, rất nhiều nhà cách mạng Việt Nam đã bị chủ nghĩa cộng sản quyến rũ; trong số đó có nhiều người rất đáng kính trọng, từ Nguyễn Thế Truyền đến Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm. Ông Truyền là người đã tổ chức cho nhiều thanh niên Việt Nam từ Pháp đi Nga, sau ông về nước và từ bỏ chủ nghĩa cộng sản. Các ông Thâu và Hùm sau lãnh đạo nhóm Cộng Sản Ðệ Tứ ở Sài Gon. Họ đều là những nhà ái quốc nhiệt thành và hy sinh cả cuộc đời cho lý tưởng. Việc tin theo chủ nghĩa Marx-Lenin không nhất thiết gây nên tội ác nếu người ta giữ được lòng nhân. Vì vậy, nhiều người cho rằng, tội nặng nhất của Hồ Chí Minh không phải việc theo chủ nghĩa cộng sản mà là việc xin làm đồ đệ của Stalin, hoàn toàn tuân lệnh Cộng Sản Ðệ Tam.

Tội ác này rành rành, không cách nào bào chữa được. Vì trong những năm Hồ ở Nga, đầu thập niên 1920 và lần sau trong thập niên 1930, ông ta chắc chắn đã chứng kiến những thủ đoạn tàn ác của Chúa Ðỏ Stalin đối với những đối thủ chính trị của ông ta. Những đồng chí của Lenin như Rykov, Bukharin, Kamenev và Zinoview bị Stalin bắt bớ, hành hạ và đưa ra tòa rồi thủ tiêu cả mạng sống lẫn sự nghiệp chính trị của họ; tất cả Bộ Chính Trị thời Lenin đều lần lượt bị Stalin giết để ông ta nắm lấy độc quyền. Hồ Chí Minh chắc chắn phải chứng kiến những cảnh này, thời gian đó những người cộng sản đối lập với Stalin đã hô hoán cho cả thế giới biết. Nhưng Hồ đã chọn con đường theo Stalin và học tập những thủ đoạn của ông này, sau đem về áp dụng ở Việt Nam. Chính vì Hồ Chí Minh đóng vai một gián điệp trung thành của Stalin và Ðệ Tam Quốc Tế trong hơn 20 năm, cho nên đến năm 1945 chính phủ Mỹ không thể nào tin ông ta là người muốn giao hảo với một nước tư bản như nước Mỹ, dù ông ta đã xin nhiều lần.

Việc áp đặt chủ nghĩa cộng sản Xít-ta-lin-nít trên vận mạng dân tộc Việt Nam là một tội ác. Những người đã sống ở miền Bắc đã chứng kiến các thảm họa do chính sách tập thể hóa, đánh tư sản, đấu tố giết người do Hồ Chí Minh chủ trương. Nhưng nhiều người cả hai miền Nam-Bắc coi tội đó cũng còn nhẹ hơn tội gây ra cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn từ năm 1959 đến 1975, mà Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm. Những nước bị chia đôi trên thế giới cho hai khối tư bản và cộng sản, chỉ có Bắc Hàn là gây chiến, nhưng cuộc chiến đó ngắn ngủi. Trung Cộng cũng không dại dột tấn công Ðài Loan, dù Tưởng Giới Thạch lúc nào cũng hăm dọa “Quang phục lục địa!” Ðông và Tây Ðức sống bên nhau cho đến ngày chế độ cộng sản sụp đổ thì thống nhất. Hồ Chí Minh đã đẩy hàng triệu thanh niên vào một cuộc chiến tàn khốc chỉ vì tham vọng cộng sản hóa toàn thể dân tộc Việt và toàn thế giới, theo đúng những chỉ thị của Ðệ Tam Quốc Tế khi ông Hồ rời Nga về Trung Quốc cuối năm 1924. Nước Việt Nam đã thống nhất, nhưng thống nhất trong một chế độ vô học, bất lực, tàn nhẫn, khiến cuộc sống người dân cả hai miền Nam-Bắc thê thảm hơn, có lúc nạn đói đã giết hàng ngàn nông dân.

Làm chết hàng triệu thanh niên vì một chủ nghĩa sai lầm, vì áp dụng một chế độ tàn ác, ngu dốt, và tham nhũng tràn ngập, đúng là một tội ác lớn. Nhưng nhiều người Việt ở trong nước bây giờ còn thấy một tội ác khác của ông Hồ, một tội lớn hơn nữa. Ðó là tội hủy hoại cả nền đạo lý của dân tộc. Bao nhiêu điều nhân nghĩa tổ tiên truyền lại đã bị xóa bỏ, thay thế tất cả các giá trị bằng một lòng trung thành với đảng, tức là trung thành mù quáng trước mệnh lệnh của bọn lãnh đạo đảng. Bọn này sống giả dối, chuyên dùng thủ đoạn gian dối, độc ác, gieo những hạt giống xấu cho cả xã hội. Ðó là di sản kinh hoàng nhất mà Hồ Chí Minh đã để lại trên đất nước ta. Chiến tranh chấm dứt, cảnh chết chóc có thể quên đi sau mười năm. Kinh tế suy sụp có thể phục hồi dần dần sau khi chịu thay đổi cho người dân sinh hoạt tự do hơn. Nhưng một nền đạo lý bị tàn phá thì phải vài thế hệ mới tái lập được. Ðó là tội ác lớn nhất của Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam.

Sở dĩ bữa nay đem kể chuyện những cuộc bàn luận về Hồ Chí Minh trong mục này, cũng vì vừa có một tờ báo ở khu Tiểu Sài Gòn đăng một bài trong đó tác giả ca ngợi Hồ Chí Minh một cách lố bịch mà người có trí khôn bình thường không thể nào viết được. Một người ký tên là Hà Văn Thủy viết “Bài học khó quên” trên tuần báo Việt Weekly đã viết một câu như sau: “...người Việt được sự dẫn dắt của Hồ Chí Minh, một danh nhân văn hóa thế giới, một thánh nhân mang tầm vóc Ðế Nghiêu, Ðế Thuấn!”

Ðế Nghiêu, Ðế Thuấn là những nhân vật tưởng tượng trong huyền sử Trung Hoa. Ðem ví ông Hồ với hai nhân vật tưởng tượng đó, rõ ràng là chỉ có mục đích lừa bịp bằng huyền thoại hóa, thần thánh hóa. Những bạn trẻ mà tôi gặp ở Ðông Âu cũng nhiều người nói thẳng rằng, nếu nước Việt Nam mà không có ông Hồ Chí Minh “dẫn dắt” thì đâu đến nỗi bị cộng sản cai trị để rơi vào tình trạng nghèo đói bậc nhất trên thế giới trong mấy chục năm trước đây! Rồi bây giờ quay ngược đầu chạy theo tư bản nhưng vẫn cố bám lấy độc quyền, để nước ta đứng hạng chót trong số các nước Á Ðông - trừ Bắc Hàn!

Rõ ràng là tác giả Hà Văn Thủy chỉ viết một lời tán tụng như trên theo công thức, chỉ thị hoặc theo đơn đặt hàng. Vì sau khi ca tụng Hồ Chí Minh như vậy, ông ta lại viết những câu hoàn toàn trái ngược!

Trong một đoạn sau đó vài trăm chữ, Hà Văn Thủy muốn tỏ ra mình có tinh thần khách quan, đã viết, “Từng kinh qua thảm họa cải cách ruộng đất ở miền Bắc (do “thánh nhân” Hồ Chí Minh chủ trương) nên tôi tán thành cuộc cải cách điền địa ở miền Nam (dưới thời Tổng thống Ngô Ðình Diệm)... Nông dân miền Nam đạt mức sống trung nông, là điều mà nông dân miền Bắc nằm mơ không thấy! Và quả là tôi thèm muốn tự do báo chí, ngôn luận, lập hội cùng những tự do khác mà thành thị miền Nam được hưởng!” Vậy những công trạng của ông thánh nhân, Ðế Nghiêu, Ðế Thuấn đó chỉ là dùng một đảng độc tài cướp đoạt những quyền tự do căn bản của người dân hay sao?

Và di sản của cái ông Ðế Nghiêu, Ðế Thuấn là gì? Ông Hà Văn Thủy nói ông ta hiểu tâm trạng của sử gia Keith Talor khi ông này viết rằng, đất nước Việt Nam đang “phải chịu đựng một cơ cấu cai trị chuyên chế, thối nát và (phải chịu cảnh) nghèo nàn.” Rồi ông Thủy thú nhận ngay rằng, “Ðúng là tình hình Việt Nam đang như thế.”

Biết nó như thế, tại sao không biết hỏi thêm rằng, ai đã dựng lên cái đảng Cộng Sản Việt Nam để họ đưa đất nước đến tình trạng chuyên chế, thối nát và nghèo nàn như vậy? Còn ai vào đó nữa nếu không là Hồ Chí Minh? Ðế Nghiêu, Ðế Thuấn có mang tội như vậy hay không?

Xưng tụng Hồ Chí Minh một cách giả tạo, theo chỉ thị hoặc theo đơn đặt hàng, thì dễ lâm vào cảnh bất nhất, tự mình mâu thuẫn với mình. Nhưng ca ngợi Hồ Chí Minh bằng những lời giả dối đó, ở giữa một môi trường xã hội toàn những người đã từng là nạn nhân của chế độ cộng sản, bao nhiêu người đã liều chết vượt biển để thoát nạn cộng sản, họ chỉ thấy Hồ Chí Minh là quỷ ác hiện hình, thì đó là một hành động xúc phạm vô ý thức và vô liêm sỉ. Chính vì những người bán rẻ lương tâm vẫn còn ca tụng Hồ Chí Minh như thế mà trong mục này chúng ta phải tiếp tục vạch rõ những tội ác của Hồ Chí Minh, dù trong lòng không còn nuôi chút oán thù nào với một người đã qua đời gần 40 năm để cho xác chết còn bị đám đàn em lợi dụng cho đến bây giờ. Bao giờ bọn cường hào tham nhũng bất lương ngưng khai thác cái xác chết của ông Hồ, chắc lúc đó linh hồn ông ta mới được yên ổn.

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=61248&z=7

Viết về chủ tịch Hồ Chí Minh - PN DNH

Viết về chủ tịch Hồ Chí Minh

Phương Nam – Australia


“Bao nhiêu sao sáng bấy nhiêu anh hùng vì dân, mà bác Hồ ngôi sao sáng vô ngần, cuộc đời của bác chói ngời gương người cộng sản, quyết làm theo lời bác dạy khuyên. Quê hương yêu dấu Bắc - Nam chung một dòng máu, đoàn kết bên nhau đàn cháu ngoan của bác Hồ,..., nguyện xứng cháu của bác Hồ Chí Minh...”.

Có thể nói rằng ở Việt Nam không ai lại không biết đến CT HỒ Chí Minh. Các thế hệ thanh, thiếu niên, nhi đồng lại càng được giáo dục kỹ lưỡng về ông. Những bài hát như trên là xuất hiện ở mọi lúc mọi nơi, dù ông mất đã hơn 30 năm nay. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong sách giáo khoa các cấp cũng luôn nói tới ông từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ. Tất cả đều nhằm mục đích làm cho mọi người hiểu rằng: không bao giờ được quên công lao to lớn của ông đối với dân tộc và kêu gọi tất cả hãy "Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại."

Tài Liệu Giáo Dục Công Dân lớp 7, Nhà Xuất Bản Giáo Dục năm 1997, trang 53 có một bài đọc thêm nhan đề: Tinh Hoa Của Dân Tộc Việt Nam Góp Phần Vào Tinh Hoa Thế Giới, nội dung khẳng định một sự kiện là: Vào năm 1990, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Hồ Chủ Tịch, Tổ Chức Giáo Dục, Khoa Học Và Văn Hóa của Liên Hiệp Quốc, tức UNESCO (United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization), đã ra một nghị quyết công nhận ông là danh nhân văn hóa thế giới. Trong đó có đoạn:

“ ... Chủ tịch Hồ Chí Minh là một hiện tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng cho nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ.”

(trích nghị quyết UNESCO, sách đã dẫn.)

Trong bài Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Danh Nhân Văn Hóa Của Nhân Loại, bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Dy Niên, nguyên chủ tịch ủy ban UNESCO Việt Nam , viết vào tháng 5 năm 2000 vừa qua cũng tiếp tục khẳng định như vậy. ( Xem: Danh Nhân Văn Hóa - Nguyễn Dy Niên).

Dù có ý đọc kỹ nhưng tôi không thấy cả hai bài viết trên ghi cụ thể đấy là nghị quyết số mấy? Ký ngày nào và ai đã ký nó? Như thông thường đối với việc trích dẫn một nghị quyết quan trọng như thế. Tuy nhiên ở nước ngoài, vì có điều kiện được tiếp cận với những nguồn tài liệu khác thì tôi lại thấy những bài viết quả quyết rằng: không hề có một nghị quyết nào như vậy cả. Ðiều đó có nghĩa là CT Hồ Chí Minh chưa bao giờ được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới, mà ông mới chỉ có tên trong danh sách được đề cử, rồi dừng lại ở đó thôi.

Nhận thấy đây là một vấn đề lớn cần làm rõ, vì dù ai có chấp nhận hay không thì trong thực tế ông cũng đã là nhân vật lịch sử của Việt Nam trong thế kỷ thứ 20 vừa qua. Còn cái lịch sử ấy đã và sẽ tiếp tục diễn ra như thế nào? Tốt hay xấu? v.v… thì đó không phải là mục đích chính mà tôi muốn đề cập đến trong bài viết này.

Ngoài ra còn là vấn đề bức xúc hơn, nó liên quan đến sự nghiệp trồng người của dân tộc: những học sinh lớp 7 kia rồi sẽ lớn lên, và với thời đại bùng nổ thông tin như ngày nay thì việc các em được tiếp cận với những nguồn tài liệu khác là rất dễ dàng. Khi ấy liệu các em còn biết tin vào đâu? Nguồn nào đúng, còn nguồn nào sai? Nếu chúng tự phát hiện ra sự thật lại ngược hẳn với những gì đã được dạy dỗ từ nhỏ đến lớn thì sao? Từ đó rất có thể chúng sẽ oán trách các thế hệ cha anh đã lừa dối chúng, rồi cứ theo cái vết mòn ấy, biết đâu chúng lại đi lừa dối tiếp những thế hệ sau thì hậu quả sẽ tai hại biết nhường nào? Cả một dân tộc cứ đi lừa dối lẫn nhau mãi như vậy thì dân tộc ấy sẽ đi về đâu? v.v…

Chính vì những lý do trên mà ở phần dưới đây, tôi xin được nêu ra một số câu hỏi liên quan đến thân thế và sự nghiệp của CT Hồ Chí Minh mà đến nay vẫn chưa được làm rõ. Tôi rất mong các nhà nghiên cứu ở cả trong và ngoài nước, vốn quan tâm đến lịch sử Việt Nam hiện đại, nhất là đến thế hệ trẻ Việt Nam tương lai hãy giải đáp giúp. Tôi nghĩ rằng đây không chỉ đơn thuần là mối quan tâm của riêng tôi - một độc giả, mà còn là của hàng chục triệu phụ huynh học sinh đang có con cháu mình đi học ở Việt Nam . Những câu hỏi của tôi là:

1- Có phải trước khi xuống tầu buôn Pháp làm phụ bếp vào ngày 5 tháng 6 năm 1911 thì chàng trai 21 tuổi Nguyễn Tất Thành, với tên mới là Văn Ba đã có sẵn ý định ra đi tìm đường cứu nước hay chưa? Nếu anh Ba đã có sẵn mục đích rõ ràng như sau này anh kể lại:

“ …Tôi muốn được đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta...”thì thật đáng quý biết bao. Tuy nhiên nó lại mâu thuẫn với một sự kiện sau do những tài liệu ở nước ngoài viết rằng:

Ngày 15.9.1911, khi vừa đặt chân đến cảng Mác-Xây (Marseille) - Pháp, tức là chỉ hơn 3 tháng sau khi rời bến Nhà Rồng - Sài Gòn thì anh Thành đã vội viết đơn xin được vào học nội trú Trường Thuộc Ðịa (Ecole Coloniale). Nhưng đã bị nhà trường từ chối với lý do:

Ðơn không được xét vì anh là đối tượng di chuyển tự túc đến Pháp chứ không phải được tuyển chọn từ xứ Ðông Dương sang, theo như quyết định ban hành ngày 30.4.1910 của Bộ Thuộc Ðịa Pháp.

(lá đơn này do ông Nguyễn Thế Anh sưu tầm được trong văn khố Pháp ngày 2.2.1983, có sao chụp lại cẩn thận. Cũng cần lưu ý rằng: theo những tài liệu trong nước thì Trường Thuộc Ðịa là nơi chuyên đào tạo những tên Việt gian phản động, tay sai của thực dân Pháp lúc bấy giờ.)

Giả sử câu chuyện trên là có thật thì sẽ có thêm một câu hỏi hệ quả là: Nếu năm 1911 Trường Thuộc Ðịa chọn anh Thành, thì 9 năm sau anh có còn chọn con đường của Lênin cho cách mạng Việt Nam nữa hay thôi?

(theo suy luận chủ quan của tôi thì có lẽ là anh Thành sẽ … thôi!).

2- Phải chăng lý do chính rời nước ra đi của anh Thành là bởi trước đó một năm, trong gia đình anh có một biến động lớn đã diễn ra? Ðó là:

Năm 1910, cha anh là ông Nguyễn Sinh Huy, tức cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (1863 - 1929), tri huyện Bình Khê - Bình Ðịnh, trong một cơn say rượu đã sai người đánh chết anh nông dân tên là Tạ Ðức Quang bằng roi và gậy. Sở mật thám Pháp sau khi điều tra xong đã kết ông vào tội ngộ sát khi đang say rượu. Hội Ðồng Nhiếp Chánh tại Huế sau đó đã ra quyết định kỷ luật ông: hạ bốn bậc trong ngạch quan lại thời bấy giờ, bị triệu hồi về Huế, rồi cuối cùng là bị sa thải luôn. (bà Thanh con gái ông cũng kể : ông là người nghiện rượu nặng, hồi nhỏ bà vẫn thường bị bố đánh rất đau bằng roi, có khi còn quẳng cả roi đi để đánh bằng tay.).

Một số tài liệu lịch sử trong nước thì viết rằng:

"Cụ Sắc nhà nghèo, ham học, thông minh, thi đậu phó bảng, “bị ép” ra làm quan. Có lần cụ nói: " Quan trường là chốn nô lệ trong những người nô lệ, lại càng nô lệ hơn.". Cụ thường làm những việc trái ý bọn quan lại, nên bị cách chức."

Như vậy là giữa hai nguồn tài liệu đã có những điểm mâu thuẫn lớn cần làm rõ, nhất là lý do ra khỏi chốn quan trường của ông: phải chăng ông ra khỏi đấy vì như ông nói là không muốn bị "nô lệ hơn" trong số những người nô lệ? Hay là bởi rượu đã đưa ông ra? Và vì bị ra khỏi chốn ấy nên ông lại càng uống nó nhiều hơn?

Cũng qua những sách báo ở trong nước kể lại thì: khi từ chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội sau chiến thắng Ðiện Biên Phủ (tháng 10.1954), ông đi thăm rất nhiều vùng quê trên miền Bắc, đi ra nước ngoài, v.v…

Nhưng riêng quê ông thì mãi tới tháng 6.1957, tức là gần 3 năm sau ông mới về thăm lần đầu. Có cái gì đó không ổn trong tinh thần vì nước quên… quê của ông không? Hay ông ngại nhân dân, cán bộ và chiến sỹ biết được tấn bi kịch trên của gia đình mình?

3- Ai là người đã viết cuốn Những Mẩu Chuyện Về Ðời Hoạt Ðộng Của Hồ Chủ Tịch vào mùa xuân năm 1948? Cuốn sách ghi tác giả tên là Trần Dân Tiên. Năm 1985, giáo sư Hà Minh Ðức đã xuất bản cuốn Những Tác Phẩm Văn Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, trong đó có đoạn:

“ ... Ðáp lại tình cảm mong muốn của đồng bào và bạn bè trên thế giới. Hồ Chủ Tịch với bút danh Trần Dân Tiên đã viết tác phẩm Những Mẩu Chuyện Về Ðời Hoạt Ðộng Của Hồ Chủ Tịch,...”. (Hà Minh Ðức, sách đã dẫn, Tr 132, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1985).

Như vậy có nghĩa là tác giả Trần Dân Tiên và Hồ Chủ Tịch thực ra chỉ là một người. Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn, người biết rất rõ ông từ những năm 1930s, khi cả hai cùng học tập và làm việc ở Liên Xô đã viết lời tựa cho cuốn sách cũng đã khẳng định như vậy. Tôi tin là hai giáo sư ấy viết đúng, vì 2 lẽ: thứ nhất, đó là việc rất quan trọng mà nếu nói sai thì chính hai giáo sư có thể sẽ bị mang họa, chắc chắn là hai ông đã cân nhắc rất kỹ trước đó. Thứ hai, cứ theo tư duy lôgic mà suy luận: nếu ông Trần Dân Tiên và cụ Hồ là hai người thì nay ông Trần Dân Tiên kia đâu? Còn sống hay đã chết? Nếu sống thì bao nhiêu tuổi rồi? Vợ, con ra sao? Nếu chết thì chết vào năm nào? Hiện chôn ở đâu? v.v…

Còn một khi lại chỉ là một người thì xét theo khía cạnh nào cũng đều không ổn. Chúng ta hãy nghe một vài đoạn Chủ Tịch Hồ Chí Minh viết về … Hồ Chủ Tịch như sau :

“ ... Bác Hồ của chúng ta vô cùng khiêm tốn; Bác không muốn kể cho ai nghe về hoạt động của mình; rồi Bác Hồ được nhân dân ta coi là cha già của dân tộc; Bác còn vĩ đại hơn Lê Lợi, Trần Hưng Ðạo vì đã đưa dân tộc ta vào kỷ nguyên xã hội chủ nghĩa.”!và:

“ ... Một người như Hồ Chủ Tịch của chúng ta với đức tinh khiêm tốn nhường ấy và đang lúc bề bộn biết bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể cho tôi nghe bình sinh của Người được?...”!

(Trần Dân Tiên, sách đã dẫn). Cũng cần lưu ý rằng vào năm 1948 thì vị "cha già của dân tộc" ấy mới có 58 tuổi! (1890 – 1948).

Trong thực tế nhân loại cũng đã có những người dùng quyền lực hay tiền bạc để bắt người khác ca ngợi mình. Nhưng nếu Hồ Chủ Tịch lại tự mình đứng ra "dầy công vun đắp" nên điều đó thì quả là chuyện xưa nay hiếm! Tôi cũng không rõ là những người đang cố gắng "giữ gìn và bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh" có coi đây như là một trong những “yếu tố cấu thành” nên tư tưởng của ông hay không? Và giả sử ở dưới cõi âm kia, nếu ông gặp các vị cách mạng đàn anh khác như Lê Nin, Stalin, Mao Trạch Ðông, v.v… thì không nói. Nhưng nếu rủI thay, ông lại gặp các cụ Trần Hưng Ðạo, Lê Lợi thì biết "ăn, nói" thế nào cho phải với những vị anh hùng chân chính của dân tộc ấy đây?

Một điều nữa đáng lo ngại hơn: trong cuốn Dàn Bài Tập Làm Văn lớp 7,

(NXB Giáo Dục 1997, Tr 39). Tức là đã 12 năm, sau khi tác phẩm của giáo sư Hà Minh Ðức nói trên được xuất bản, thì các tác giả biên soạn cuốn sách giáo khoa kia vẫn tiếp tục mập mờ mà không chịu viết thẳng ra đấy là hai hay chỉ có một người. Nếu cứ cung cấp thông tin và bắt các thầy cô giáo dạy học sinh theo kiểu này, thì đến ngay như người lớn cũng còn bị nhiễu loạn chứ nói gì đến trẻ con?

Hồi đất nước còn chiến tranh, tôi đã được một sỹ quan QÐND Việt Nam cho xem cuốn nhật ký của anh, trong đó có đoạn:

“ Hà Nội ngày 2 tháng 9 năm 1969.

Hôm nay Ðài Tiếng Nói Việt Nam báo tin Bác Hồ bị bệnh nặng. Bác ơi! Chúng cháu hiểu là chúng cháu thật có lỗi với Bác, vì đất nước đến lúc này vẫn còn bị nỗi đau chia cắt. Ðơn vị của chúng cháu đã được vinh dự nhận lệnh vào miền Nam chiến đấu, chỉ vài hôm nữa thôi là lên đường. Cháu xin hứa với Bác rằng: dù phải trải qua gian khổ, hy sinh đến đâu thì chúng cháu cũng quyết tâm hoàn thành mọi nhiệm vụ mà đảng và quân đội giao phó; góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ Quốc, để sớm được đón Bác vào thăm đồng chí, đồng bào trong ấy. ”

Cũng cùng một tinh thần đó, từ miền Nam , nhà thơ Lê Anh Xuân viết ra:

Gửi miền Bắc lòng miền Nam chung thủy

Ðang xông lên chống Mỹ tuyến đầu.

Nghĩa là tất cả đều hướng lên Ba Ðình tràn đầy một niềm tin trong sáng, một niềm kính trọng vô biên. Bởi vì ở nơi ấy "có Trung Ương Ðảng, có bác Hồ" luôn chỉ lối dẫn đường cho cách mạng Việt Nam tiến lên.

Theo tôi, nếu trong một cuộc chiến tranh, giả sử tất cả những yếu tố khác đều ngang nhau, thì bên nào có thêm yếu tố tin tưởng và kính yêu lãnh tụ như trên là sẽ rất có lợi thế để giành chiến thắng. Thế nhưng, nếu vì muốn trở thành một “ngôi sao sáng vô ngần”, mà chính vị lãnh tụ lại cho ra đời một sản phẩm kiểu như Những Mẩu Chuyện Về Ðời Hoạt Ðộng Của Hồ Chủ Tịch thì lại là điều không thể chấp nhận được. Bởi vì đó thực chất là quan điểm đạt mục đích bằng mọi cách, kể cả những cách rất thiếu tử tế: chủ động đi hủy hoại những giá trị văn hóa của nhân loại nói chung và dân tộc nói riêng, mà hậu quả để lại sẽ rất nặng nề cho hậu thế. Bằng cách đó ở một giai đoạn nhất định, có thể ông cũng tự đưa được uy tín của mình lên vị trí rất cao trong lòng một bộ phận dân tộc. Xong nếu xét về lâu về dài, khi phần lớn đã nhận ra sự thật thì hình ảnh:

"… Trùng trùng đoàn quân tiến bước theo con đường của Bác, nở ngàn hoa chiến công ta dâng lên Người,..." sẽ trở nên trớ trêu, phũ phàng và thật đáng xấu hổ với bạn bè thế giới.

Tôi cũng được biết một câu chuyện sau: gia đình ấy có 2 anh em, người anh đi bộ đội, còn người em gái ở lại nhà và lấy chồng. Năm 1954 khi người anh từ chiến khu trở về thì em gái mình đã cùng chồng di cư vào Nam . Sau gần 30 năm xa cách, hai anh em mới được gặp lại nhau, khi người em ra Bắc bốc mộ cho chồng - ông bị chết trong thời gian học tập cải tạo ở ngoài ấy. Cô em nói trong nước mắt giận hờn:

“ Tại anh và những người cộng sản như anh nên bây giờ em gái anh khổ, các cháu của anh phải mồ côi cha.”.

Xúc động không kém, người anh nói:

“ Thôi em ạ, đằng nào thì mọi việc cũng đã lỡ rồi. Em cứ nghĩ như thế này: nếu một người em không hề tin yêu, kính trọng mà làm em đau khổ thì đấy chỉ là một nỗi khổ đau. Nhưng nếu đấy lại là người em hằng kính trọng, tin yêu bao năm trời, kể cả sẵn sàng đem cuộc đời của mình ra để hy sinh, cống hiến mà nay em lại phát hiện ra rằng thực chất sự tin yêu, kính trọng ấy của mình lại bắt nguồn từ sự giả dối của người kia, thì lúc ấy nỗi đau khổ trong em sẽ phải nhân lên gấp 5, gấp 10. Ðấy chính là tâm trạng của anh lúc này, em ạ.”.

Trên đất nước Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua đã có bao nhiêu gia đình phải lâm vào hoàn cảnh tương tự như vậy?

4- Một vài điểm khác cần xác minh:

Trong số những người Việt Nam hoạt động ở Paris vào những năm 1910s -1920s là chỉ có duy nhất 1 ông Nguyễn Ái Quốc hay là có đến 5 ông Nguyễn Ái Quốc? Vai trò của chàng trai Nguyễn Ái Quốc - Nguyễn Tất Thành trong các hoạt động như: thành lập Hội Người Việt Nam Yêu Nước, soạn thảo Bản Yêu Sách 8 Ðiểm Gửi Hội Nghị Véc - Xây năm 1919, ra báo Người Cùng Khổ năm 1922, viết Bản Án Chế Ðộ Thực Dân Pháp năm 1925, v.v…là tới đâu? Liệu có đúng như các phương tiện thông tin đại chúng trong nước hoặc chính CT Hồ Chí Minh đã kể lại hay không? Bởi vì nếu theo các tài liệu “ngoài luồng” thì :

a) Hội Người Việt Nam Yêu Nước đã được thành lập tại Pháp từ năm 1914, mà tiền thân của nó là Hội Ðồng Bào Thân Ái còn có trước đó nữa. Ðấy là do công lao của những ông Nguyễn Ái Quốc khác, chứ anh Thành lúc ấy lại không có mặt ở Pháp mà là đang mưu sinh ở Anh.

(anh Thành ở Anh từ cuối năm 1913 đến 1917. Cuối năm 1917 mới rời Anh để sang Pháp, và ở đấy đến năm 1923 thì sang Liên Xô.).

b) Bản Yêu Sách 8 Ðiểm gửi hội nghị Véc-Xây là có rất nhiều điểm trùng với những bản yêu sách đã có trước đó của cụ Phan Chu Trinh (1872-1926) gửi khâm sứ Trung kỳ, gửi toàn quyền Ðông Dương và gửi chính phủ Pháp. Như vậy có phải như CT Hồ Chí Minh đã kể:

“ ... Ý kiến đưa yêu cầu do ông Nguyễn đề ra, nhưng lại do luật sư Phan Văn Trường viết, vì lúc bấy giờ ông Nguyễn chưa viết được tiếng Pháp…”. (Trần Dân Tiên, sách đã dẫn).

Hay những ý kiến ấy phải là của cụ Phan Chu Trinh mới đúng? Vì cụ Phan đã có mặt và hoạt động ở Paris liên tục trước đó, cụ cũng là sáng lập viên của Hội Ðồng Bào Thân Ái. (cụ Phan thi đậu phó bảng năm 1901, cùng khóa với cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh anh Thành.)

c) Báo Người Cùng Khổ (Le Paria) là do những “ông Tây” (người Pháp) lập ra, chứ đâu phải của một “ông ta” nào như sự xác nhận sau:

“ ... Ban biên tập báo Người Cùng Khổ do Nguyễn Ái Quốc làm chủ nhiệm, kiêm chủ bút, giao cho Nguyễn Thế Truyền là một Việt kiều được anh Nguyễn giới thiệu vào Hội Hiệp Thuộc.”

(Trần Dân Tiên, sách đã dẫn).

Bây giờ giả sử đúng là có 1 ông Nguyễn Ái Quốc làm chủ nhiệm, kiêm chủ bút tờ báo kia đi, nhưng chính xác là ông Nguyễn Ái Quốc nào? Vì ở Paris lúc ấy có tới 5 ông Nguyễn Ái Quốc, còn gọi là nhóm Ngũ Long gồm các ông: Phan Chu Trinh, sang Pháp năm 1911/phó bảng. Phan Văn Trường/1908/luật sư. Nguyễn Thế Truyền/1910/cử nhân. Nguyễn An Ninh/1917/năm thứ 2 trường luật. Nguyễn Tất Thành/1917/tiểu học, và ai ở trong nhóm viết bài cũng ký tên là Nguyễn Ái Quốc.

Hơn nữa, chúng ta cũng cần tìm hiểu thêm cả việc ai đã giới thiệu ai? Vì anh Thành mới chân ướt chân ráo đến Pháp thì nào đã quen biết ai mà giới thiệu cho ông Nguyễn Thế Truyền vào Hội Hiệp Thuộc?

(ông Truyền sang Pháp từ năm 1910, có 2 bằng cử nhân văn chương và cử nhân hóa học, có vợ người Pháp.)

d) Cũng theo Những Mẩu Chuyện Về Ðời Hoạt Ðộng Của Hồ Chủ Tịch thì : “...Ông Nguyễn chỉ viết một quyển sách duy nhất là quyển Bản Án Chế Ðộ Thực Dân Pháp.”. Thế nhưng với điều kiện thông tin lúc đó thì theo tôi chính quyển này mới là quyển ông ít có cơ hội tham gia nhất. Bởi vì cả tài liệu trong và ngoài nước đều xác nhận rằng: cuốn sách được xuất bản lần đầu tại Pháp vào năm 1925, nhưng lúc ấy thì ông Nguyễn không có mặt ở Pháp mà đang hoạt động ở Trung Quốc! (ông ở Trung Quốc từ tháng 11.1924. Tháng 5.1927 mới rời khỏi đấy để sang lại Liên Xô).

Hơn nữa, cứ giả sử các tài liệu đều viết sai về năm xuất bản cuốn sách trên thì chúng ta cũng cần lưu ý là: chính anh Thành cũng đã phải công nhận rằng anh là người có bút lực yếu ở trong nhóm, nếu như không muốn nói là yếu nhất. Vì anh Thành chỉ mới tốt nghiệp trường tiểu học Pháp - Việt Ðông Ba, Huế niên khoá 1906-1907. Tháng 9.1907 anh vào học trường Quốc Học Huế, nhưng chưa đầy 1 năm sau, tháng 5.1908 thì đã bị đuổi khỏi đấy rồi. Tức là tấm bằng Thành Chung đối với anh cũng vẫn còn rất xa vời.

(xem http://www.cpv.org.vn/hochiminh/tieusu/thoinienthieu/index.htm ).

Nói tóm lại, những điểm còn chưa rõ ràng trong thân thế và sự nghiệp của CT Hồ Chí Minh là còn rất nhiều. Một lần nữa tôi rất mong các nhà nghiên cứu, các sử gia ở cả trong và ngoài nước hãy vì tính trung thực, khách quan của lịch sử và nhất là vì thế hệ trẻ Việt Nam tương lai, hãy xác minh cho được chúng càng sớm càng tốt. Viết về CT Hồ Chí Minh, lại lật ngược những vấn đề khá phức tạp và tế nhị lên như thế này, tôi hiểu rằng sẽ làm cho nhiều người vốn tôn kính ông đau lòng. Nhưng theo tôi, thà làm như vậy một lần cho rõ còn hơn là cứ dễ dãi với nhau để rồi tự làm khổ nhau và làm khổ mãi con cháu chúng ta sau này.

5- Một ý kiến đề nghị:
Như ở đầu bài đã nêu, từ 11 năm qua đã có rất nhiều bài viết với hai xu hướng ngược nhau: thứ nhất, khẳng định rằng CT Hồ Chí Minh đã được UNESCO chính thức công nhận là danh nhân văn hóa thế giới. Thứ hai là phủ nhận nó. Nay tôi xin có một ý kiến đề nghị: dù ai thuộc xu hướng nào cũng được, nhưng nếu đã có tấm lòng quan tâm, mong rằng hãy cùng nỗ lực giải quyết dứt điểm vấn đề này. Ðối tượng tiếp cận chính là UNESCO, đây là vị trọng tài khách quan, vô tư và hữu hiệu hơn cả. Sẽ có hai khả năng xảy ra:

a) Nếu CT Hồ Chí Minh đã thực sự được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới thì những cơ quan nào đã đưa tin sai lạc trước đó cần ra một bản tin đính chính lại. Ðó cũng là hành động thể hiện sự tôn trọng các độc giả, thính giả của mình.

b) Nếu UNESCO chưa hề có một quyết định như giả thiết nêu trên, thì cá nhân hay tổ chức nào có điều kiện tiếp cận được với tổ chức ấy, cần làm sao có được một văn bản phủ nhận chính thức của họ. Dù chỉ là vài dòng thôi, nhưng nó sẽ có tác dụng thuyết phục rất lớn.

Ðây cũng là trách nhiệm của mỗi người nhằm giúp UNESCO. Nó cũng là quyền lợi của UNESCO cần phải tự bảo vệ mình, khi có ai hoặc quốc gia nào lợi dụng uy tín của họ để làm những việc khuất tất. Tôi cũng rất mong rằng nếu trường hợp là b) thì những nhà biên soạn sách giáo khoa ở Việt Nam cần rà soát lại toàn bộ những điểm liên quan và điều chỉnh lại chúng cho đúng sự thật.

6- Một ý kiến ủng hộ:
Trong bức thư ngỏ viết vào tháng 5.2001 vừa qua của 2 tác giả Trần Khuê và Nguyễn Thị Thanh Xuân, gửi tân tổng bí thư ÐCS Việt Nam Nông Ðức Mạnh có một ý kiến đề nghị là: hãy hỏa táng thi hài của Hồ Chủ Tịch. Bức thư giải thích rằng: những người lãnh đạo đảng và nhà nước vào thời điểm CT Hồ Chí Minh qua đời đã vi phạm ý nguyện ghi trong di chúc của người quá cố. Trong đó ông đã viết:

"… Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là hỏa táng. Tôi mong rằng cách hỏa táng sau này sẽ được phổ biến, và như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng. Khi ta có nhiều điện thì điện táng càng tốt hơn.".).

Và nay thì những người lãnh đạo mới của ÐCS VN cần phải sửa lại sai lầm ấy. Nếu cần thì tổ chức một cuộc Trưng Cầu Dân Ý về vấn đề này. (xem: http://www.thongluan.org/VN2/viet_frame.htm , 4.6.2001 ).

Hai tác giả cũng phân tích thêm rằng: hình thức ướp xác, tức chôn nổi là hoàn toàn không phù hợp với phong tục tập quán của người Việt Nam, vốn quen với hai hình thức phổ biến là địa táng hoặc hỏa táng. Rồi cảnh báo là nếu không nghiêm chỉnh tuân theo di chúc của người đã khuất, thì gia đình, dòng họ và đất nước luôn bị “sái”, không ngóc đầu lên được. Ngoài ra còn là chuyện lãng phí tiền bạc: để duy trì hệ thống lăng CT Hồ Chí Minh thì hàng năm phải tốn kém 100 tỷ đồng VN. Dù đấy là tiền thuế đóng góp của nhân dân hôm nay hay là đi vay mượn của nước ngoài, thì sau này con cháu chúng ta cũng phải nai lưng ra trả nợ.

Tôi hoàn toàn ủng hộ ý kiến trên và tin rằng nguyện vọng của đa số nhân dân Việt Nam hôm nay cũng là như vậy. Chúng ta chỉ cần thử làm một bài toán nhỏ:

Ðể xoá đói giảm nghèo cho một hộ gia đình nông dân, theo 2 tác giả là cần 5 triệu đồng VN tiền vốn. Giả thiết mỗi hộ có 4 người, như vậy tổng chi phí cho công trình ấy trong suốt 26 năm qua là 2600 tỷ đồng VN (không tính chi phí xây lăng) là một số tiền rất lớn, đủ để giúp hơn 2 triệu người Việt Nam thoát khỏi cảnh đói nghèo. Còn nếu mỗi hộ cần 10 triệu đồng tiền vốn thì cũng giúp được cho hơn 1 triệu người. Nhưng cái chính của vấn đề là sự lãng phí kia rất vô lý, không đáng có.

Ngoài ra tôi cũng xin được bổ xung 1 ý kiến nữa, hy vọng rằng nó sẽ góp thêm cơ sở để dân tộc cùng dứt khoát hơn với đề nghị trên của 2 tác giả. Ý kiến của tôi liên quan đến khía cạnh kiến trúc của lăng:

Kể từ khi lăng được khánh thành nhân dịp quốc khánh mùng 2.9.1975 đến nay, thì từ những người dân bình thường tới các kiến trúc sư, nhà xây dựng, v.v. từ Bắc chí Nam mà tôi có dịp được tiếp xúc, phần lớn đều cho rằng: công trình này không có những đường nét của kiến trúc hiện đại, cũng lại rất nghèo tính dân tộc. Tức là nếu xét thêm về khía cạnh kiến trúc thì cũng không có giá trị gì đáng kể để mà phải tiếc nuối nữa. Có lẽ vì chạnh lòng với công trình quốc gia khá nặng nề và đơn điệu này, ai đó đã sửa lại lời những câu đầu của bài hát Viếng Lăng Bác (nhạc: Hoàng Hiệp, thơ: Viễn Phương), mà thành: “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác, con thấy lăng Ông đẹp hơn lăng Bác, trăm phần trăm,…”(!)

(lăng Ông: lăng ông Lê Văn Duyệt - một võ tướng đầu triều Nguyễn, lập tại khu Bà Chiểu - Sài Gòn; trăm phần trăm = 100%.).

7- Những lời thay cho kết luận:
Trong diễn văn đáp từ của nguyên tổng bí thư ÐCS Việt Nam Lê Khả Phiêu đọc tại Hà Nội ngày 18.11.2000 vừa qua, nhân dịp tổng thống Mỹ lúc ấy là Bill Clinton sang thăm Việt Nam có đoạn: “...Ðiều chắc chắn là trong thế kỷ 21, khoa học công nghệ sẽ phát triển như vũ bão. Nhưng lại có một nghịch lý là hố ngăn cách giữa nước giầu và nước nghèo lại ngày càng lớn. Ngày nay, tổng số tài sản của hơn 300 tỷ phú trên thế giới bằng thu nhập của hơn 2 tỷ người ở các nước nghèo.”.

Ðúng! Ðấy là thực tế, và người đọc hiểu ngay rằng ý ông muốn nhấn mạnh đến sự bất công của một thế giới ngày càng bị phân hóa giầu - nghèo hôm nay. Nhưng còn một thực tế nữa là: liệu những người lãnh đạo trong ÐCS Việt Nam trước và sau ông có dám làm triệt để việc kê khai danh sách của 300 người giầu nhất ở Việt Nam hôm nay hay không? Họ là những ai? Có bao nhiêu tiền? Ðể ở những đâu? Bằng cách nào họ đã làm giầu được nhanh như vậy? Tổng số tiền mà họ đã tích lũy được là bằng thu nhập của bao nhiêu triệu người nghèo ở Việt Nam ? v.v…

Một cuộc Trưng Cầu Dân Ý như 2 tác giả Trần Khuê và Nguyễn Thị Thanh Xuân đề nghị, nếu nó được tiến hành sẽ là cuộc tổng diễn tập cho một bước dân chủ cao hơn. Ðó là: dân tộc Việt Nam phải được quyền tự mình lựa chọn giữa thể chế chính trị dân chủ đa nguyên, đa đảng và pháp trị của thời đại mới, hay là cứ phải tiếp tục duy trì mãi thể chế nhất nguyên, đơn đảng của “thời đại Hồ Chí Minh” đầy đau thương hôm qua, lắm bất công hôm nay và vô vàn những rủi ro, bất trắc vào ngày mai.

Tôi nghĩ rằng nếu toàn thể dân tộc ta ở cả trong và ngoài nước, một khi đã nhận thức lại được đúng những vấn đề của quá khứ và hiện tại thì sẽ vượt qua được những khoảng cách biệt còn lại. Ðể trong tương lai có thể đoàn kết thành một khối thống nhất tạo ra được một sức mạnh tổng hợp, nhằm đấu tranh có hiệu quả hơn với các thế lực bảo thủ hiện nắm thực quyền trong ÐCS Việt Nam .

Trong thực tế có những người giận ngày “quốc hận” 30 tháng 4, giận mùa xuân năm 1975, rồi giận lây sang cả mùa thu năm 1945 với cuộc Cách Mạng Tháng 8 lịch sử, vì cho rằng đây là chiến công riêng do CT HỒ Chí Minh và ÐCS Ðông Dương lúc đó lãnh đạo. Theo tôi đây là điều chứa đựng nhiều sai lầm, bởi vì thành công của cuộc CMT8 là chiến công chung của mọi người Việt Nam , trong đó có cả vai trò của các đảng phái khác. Tất cả lúc ấy đều đã sẵn sàng gác bỏ mọi quyền lợi riêng, để cùng đồng lòng đứng lên giành lại nền độc lập tự do cho Tổ Quốc.

Nó cũng là kết quả được hun đúc bởi truyền thống dựng nước và giữ nước từ ngàn đời xưa, từ lịch sử gần 100 năm kháng Pháp của ông cha ta, và mọi người Việt Nam đều có quyền tự hào chính đáng về nó. Với một nước Việt Nam mới, chắc chắn trang sử hào hùng ấy của dân tộc ta cũng sẽ được các sử gia viết lại cho khách quan và chính xác hơn. Một ngày hội lớn về dân chủ của non sông nhất định sẽ được mở ra trong một tương lai gần. Khi mà khối đoàn kết toàn dân gồm 80 triệu người, với hơn 76 triệu đồng bào ta ở trong nước và 3 triệu đồng bào ta ở nước ngoài đã được xác lập vững chắc. Ðó là niềm tin mãnh liệt của tôi.

Tháng 7 năm 2001

Phương Nam - ĐN Hải
Hiện đang sống tại Saigon VN

http://www.vietnamhumanrights.net/Viet/documents/PN/PN_HCM.htm

---
- TỔ CHỨC UNESCO KHÔNG VINH DANH HỒ CHÍ MINH

Phong thủy lăng Hồ Chí Minh

Phong thủy lăng Hồ Chí Minh
Thiên Ðức


Hồ Chí Minh là một nhân vật chính trị với nhiều khen chê tùy theo điểm đứng của mỗi người, lịch sử sẽ có sự phán xét công bằng. Theo truyền thống văn hóa Việt Nam , một người đã mất nên được yên nghỉ, bởi lý do:

- Tôn trọng đời tư cá nhân của người chết.

- Chết là hết rồi, mọi sự đều là vô thường, nên được hỉ xả, cảm thông và tha thứ.

- Các nhà phong thủy, với lương tâm và đạo đức nghề nghiệp lại càng không nên phổ biến những thông tin mồ mả của người chết một cách công khai.


Thế nhưng đối với ông Hồ Chí Minh là một ngoại lệ, bởi vì thân xác của ông Hồ đã được đảng cọng sản việt nam (csvn) lợi dụng như là một thần tượng, làm một bình phong để bảo tồn chế độ hiện nay, gây nhiều tác hại cho đất nước kể từ năm 1975. Vì thế bài viết phong thủy lăng Hồ Chí Minh được phổ biến đến bạn đọc như một lời cảnh báo, một lời kêu gọi thiết tha điều chỉnh sai lầm để cho dân tộc Việt Nam được khởi sắc hơn trong tương lai vậy.


Ông Hồ trước khi chết để lại di chúc với mong muốn được hỏa thiêu. Ðảng cọng sản là người kế thừa nếu trung thành với ông Hồ thực thi ước vọng đó có lẽ dân tộc Việt Nam khác đi nhiều. Và nếu đảng cs muốn suy tôn, muốn xây lăng đắp mộ cho ông Hồ ở một nghĩa trang hay một rừng núi nào đó thì cũng không ai có ý kiến gì. Ðàng này đảng cs đã xây lăng Hồ Chí Minh giữa quảng trường Ba Ðình, là trung tâm của thủ đô Hà Nội cũng là trái tim Việt Nam, thì chí ít lăng mộ này có nhiều phần ảnh hưởng đến dân tộc Việt Nam nhất là về mặt phong thủy không những trong hiện tại mà còn di hại đến nhiều đời con cháu sau này.


Theo nguyên tắc căn bản để nghiên cứu mồ mả về mặt phong thủy cần chú ý đến 3 điểm:

- Vị trị an táng: Là thế đất, theo từ chuyên môn gọi là huyệt hay mạch đất, tùy theo giá trị của mỗi huyệt để có tên gọi như long huyệt, hổ huyệt, huyệt phát văn, hay phát vỏ. Và huyệt chỉ có giá trị đối với hình thức địa táng, tức là người chết được chôn ngay chính trong lòng huyệt đó.

- Hợp nguyên lý âm dương: Dựa trên căn bản này khoa phong thủy phân định ra hai loại “Âm trạch, dương trạch”, Âm trạch phải thuần âm, áp dụng cho người chết, mộ huyệt phải là nơi yên tịnh, nếu có biến cố như nước, chấn động cơ giới, rễ cây ăn luồng trong mộ huyệt, phá hỏng sự yên tĩnh (thuần âm) vốn có của nó, sẽ bị phá cách. Trái lại dương trạch dùng cho người sống thì phải thuần dương, tức là căn nhà ở phải luôn luôn có sinh khí luân lưu và hoạt động. Trường hợp căn nhà có cây cối án ngữ sinh khí đi vào nhà, người trong căn nhà đó làm ăn lụn bại hay sức khỏe yếu kém. Thế nhưng sinh khí đi vào nhà quá mạnh thoát ra khỏi căn nhà bằng mọi hướng kéo theo luồng sinh khí tồn đọng trong căn nhà cũng không tốt đó là trường hợp những căn nhà ở ngã ba đường đông xe cộ lưu thông, thường gây sự khó khăn cuộc sống cho những người ờ trong căn nhà đó. Vì thế những nơi này chỉ thích hợp cho những cơ sở thương mại rất cần sinh khí lưu thông mạnh, công việc kinh thương mới phát đạt.

- Hướng huyệt, thường căn cứ vào tuổi của người chết để chọn lựa. Sự chọn hướng này không có tính cách tuyệt đối vì còn tùy thuộc mối quan hệ nhân thân của người chết đối với những khu mộ tập thể cùng nằm về một hướng. Việc xem hướng chỉ có thể áp dụng đối với những ngôi mộ biệt lập, mà thôi.


Áp dụng những điều cơ bản trên vào trường hợp lăng Hồ Chí Minh cho thấy kết quả như sau:

1)- Vị trí lăng: Lăng được xây dựng trên nền cũ của tòa lễ đài giữa quảng trường Ba Ðình, Lăng gồm 3 lớp với chiều cao 21,6 mét. Lăng được xây theo nguyên bản của lăng Lenin. Mặt tiền hướng về phía đông, phía sau đè bẹp một di tích lịch sử văn hóa quốc gia. Ðó là chùa một cột, chiều cao từ mặt đất sàn cho đến đỉnh mái là 2, 20 mét, chỉ bằng 1/10 chiều cao của lăng.

Khu vực lăng đã hình thành trung tâm chính trị Ba Ðình bao gồm khu tứ giác phố Hùng Vương, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Diệu và Ðiện Biên Phủ cũng là nơi tập trung các cơ quan đầu não của đảng cs và nhà nước như : văn phòng trung ương đảng, hội trường Ba Ðình (sẽ xây dựng quốc hội mới trong tương lai), phủ chủ tịch, phủ thủ tướng, bộ ngoại giao, bộ quốc phòng, bộ kế hoạch đầu tư, bộ nông nghiệp và phát triển...

Nhìn một cách tổng thể hơn, đây cũng là nơi giao thoa của tất cả tuyến đường đi đến khắp mọi miền đất nước như:- QL.1A đi Ninh Bình, Miền trung. - QL.5 đi Hải Phòng. - QL. 1 A đi Lạng Sơn. - QL.3 đi Hồ Ba Bể, Thái Nguyên, Cao Bằng . - QL.2 đi đền Hùng, Lào Cai. - QL.32 đi . - Láng Hòa Lạc đi Sơn Tây. - QL.6 đi Hòa Bình. Sơn La, Lai Châu. - QL.21B đi chùa Hương.

Do vậy, khu vực lăng hay trung tâm chính trị Ba Ðình nếu được xây dựng thành một quần thể kiến trúc văn hóa, kinh tế để tiếp nhận sinh khí của mọi miền đất nước đổ vào chắc chắn rằng đất nước sẽ phát triển nhanh chóng. Ðàng này đảng cs đã duy ý chí xây dựng một nhà mồ to lớn trấn áp tất cả các kiến trúc trong khu vực. Và mọi sinh lực của đất nước đã đi vào huyệt mộ.


Ðường nào cũng đi vào tử huyệt
nguồn: nxb bản đồ

Nếu châu Âu văn minh phát triển, một thời từng tự hào với câu ngạn ngữ ; “Mọi con đường đều dẫn tới La Mã”, thì tại Việt Nam có thể nói không ngoa rằng : “ Mọi con đường đất nước Việt nam đều dẫn đến tử huyệt” Về mặt phong thủy chắc chắn đó là một điều không tốt. Và thực tế đã chứng minh trong mười năm đầu của hòa bình tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên Xã Hội chủ nghĩa theo con đường của Hồ Chí Minh đất nước đã đi vào bế tắc cùng cực.


Một điểm cần chú ý về mặt phong thủy tất cả các cơ quan công quyền, đầu não của nhà nước nằm chung trong khu vực đều bị ô nhiễm mùi tử khí thì lấy đâu ra sự sáng suốt tìm sinh lộ để phát triển đi lên.


2)- Nguyên lý âm dương:

Trước khi đi vào vấn đề này cũng nên tìm hiểu ông Hồ đã được an táng theo hình thức nào? Hiện nay trên thế giới có nhiều hình thức an táng khác nhau như là:

- Ðịa táng: chôn vào lòng đất.

- Thủy táng chôn trong nước.

- Không táng hay huyền táng : thân xác đặt trên mặt đất hay treo lơ lửng trên vách núi.

- Hỏa táng : thiêu đốt tử thi.

- Ðiểu táng là để xác chết lộ thiên cho chim ăn.

Ở Việt Nam chỉ có hai hình thức an táng thông dụng là địa táng và hỏa táng. Dựa trên thực tế, có thể trả lời là ông Hồ Chí Minh được an táng theo hình thức không táng, tức là để trên mặt đất. Thế nhưng theo nhu cầu trưng bày cho khách du lịch chiêm ngưỡng xác ướp. Hòm kính của ông Hồ phải di dời từ phòng ướp xác đặc biệt ra phòng triển lãm công cộng một số giờ nhất định. Ngoài theo hằng năm xác ướp phải đem qua Liên Xô trong khoảng tháng 10 - 11 để ngâm hóa chất, tẩy rửa, bảo trì theo định kỳ. Với sự kiện này ông Hồ không nằm yên một chỗ mà luôn luôn di chuyển theo nhu cầu.

Như vậy có thể kết luận rằng: Ông Hồ được án táng theo hình thức cơ động táng, nghĩa là luôn luôn di chuyển. Ðây là hình thức an táng đi ngược hoàn toàn nguyên lý âm dương như đã trình bày trên là âm trạch phải thuần âm.

Âm trạch của Hồ Chí Minh đã phá cách, đảo lộn bởi ba yếu tố: - sự chuyển động của người tham quan. - Bản thân ông Hồ thường xuyên phải di chuyển. ố Lăng mộ nằm ngay điểm giao tiếp của những dòng chảy sinh khí như đã trình bày trên.

Nhân gian có câu : “ Mồ yên mã đẹp” con cháu làm ăn phát triển, trong khi đó lăng ông Hồ Chí Minh luôn luôn bị động mồ động mả là điều tối kỵ trong khoa phong thủy. Ðưa đến hậu quả tuyệt đường tương lai cho những thế hệ thừa kế của đảng csvn.


3)- Ông Hồ Chí Minh an táng theo hướng nào?

Theo nguyên tắc thông thường hướng huyệt mộ (lăng) cũng chính là hướng của người chết được an táng. Ðối với trường hợp ông Hồ lại hoàn toàn khác. Hướng lăng là hướng đông, thế nhưng thân xác ông Hồ thường di chuyển theo nhu cầu bảo quản xác ướp cho nên có thể nói là ông Hồ không nằm theo một hướng nhất định nào cả. Phải chăng điều này đúng với con người Hồ đến nay không ai biết đích xác ông sinh năm nào để có thể từ đó định hướng nằm cho ông được ổn định.


Ngoài những sai lầm trên đây đảng csvn còn vấp phải nhiều sai lầm khác trong việc sử dụng xác thân Hồ như sau:

a)- Chia phần âm khí

Ðảng cs có một tập tục bất thành văn là trước khi làm một quyết định quan trọng như là nghị quyết, chính sách nhà nước, hay các cuộc lễ lớn, tất cả các đại biểu tham dự đều có tiêu chuẩn vào viếng lăng Hồ Chí Minh, nhằm tỏ lòng tôn kính, nhờ có Bác mà ta có địa vị ngày hôm nay. Về mặt phong thủy đó là nghĩa cử chia phần âm khí của người đã chết.

Ðây là một tập tục sai lầm nghiệm trọng về mặt phong thủy. Vì đã giẫm bước trở lại bài học lịch sử mà vua Tự Ðức đã phạm phải. Thật vậy lúc còn sinh tiền, vua tự Ðức đã cho xây lăng mộ của mình, trong thời gian thi công đã có biết bao xương máu của người lính và dân lành hy sinh vì thế mới có câu “Vạn niên là Vạn niên nào, thành xây xương lính hào đào máu dân”. Sau khi xây xong nhà vua đã đem cung tần mỹ nữ cùng các quan lại triều thần vào đây làm việc và hưởng lạc, từ đó cả triều đình nhuộm đầy âm khí, đưa đến hậu quả đất nước loạn ly và nhà Nguyễn suy vong.

Ðối chiếu lại thực tế, sau khi lăng Hồ Chí Minh mở cửa và tập tục chia phần âm khí được áp dụng một cách nghiêm túc trong khoảng thời gian từ 1975 - 1985 đất nước cũng đã từng điêu đứng suy tàn.

b)- Trấn áp linh thần chùa một cột:

Chùa một cột xây dựng từ năm 1049, xuất phát từ giấc mộng của vua Lý Thái Tông thấy Phật Bà Quan Âm ngồi giữa tòa sen. Chùa có hình dáng một hoa sen với tượng Phật Bà Quan Âm thờ trong đó. Chùa còn có tên là Diên Hựu ( có ý nghĩa là kéo dài cõi phúc). Chùa có giá trị lịch sử. Trải qua bao thăng trầm chiến tranh ngôi chùa và tượng Phật Bà vẫn tồn tại với thời gian. Chùa một cột có thời đã trở thành biểu tượng chung cho Hà Nội, miền Bắc. Sau 1975 lăng ông Hồ Chí Minh đã được xây dựng và lấn chiếm một phần đất đai của chùa, với kiến trúc đồ sộ lấn áp đè bẹp hoàn toàn kiến trúc của chùa một cột. Ðây là một điều không tốt đẹp về mặt phong thủy. Kiến trúc ngoại lai của ngôi mộ với cô hồn chưa siêu thoát lại trùm lên đầu một ngôi chùa cổ linh thiêng lịch sử thờ Phật Bà Quan Âm là cả một sự đảo lộn về văn hóa, tâm linh và phong thủy.

Ðể đi vào kết luận chúng ta cũng nên có sự so sánh với lăng Lenin như sau:

Lăng Lenin xây dựng từ năm 1924, ướp xác có sự đồng thuận của thân nhân, “S.Delizda, từng là thư ký riêng nhiều năm của Krupskaia (phu nhân Lênin) đã viết trong hồi ký của mình: “Khi được thông báo Lăng Lênin chuẩn bị mở cửa để các tầng lớp nhân dân lao động vào viếng Người, thì Krupskaia đã tới Lăng lần đầu tiên. Ðó là ngày 26/5/1924. Cùng đi vơi Krupskaia còn có D.Vullyanrov, một người bà con của Lênin. Sau khi thăm phòng đặc biệt dùng để bảo quản thi hài Lênin, Krupskaia đã gặp gỡ và cám ơn các chuyên gia, đặc biệt là hai giáo sư Sibarski và Valuabov đã không quản ngại khó khăn và nguy hiểm trong công việc bảo quản thi hài. Sau lần đó thì mỗi năm Krupskaia đều tới Lăng khoảng một hai lần. Lần cuối cùng Krupskaia thăm Lăng là vào năm 1939, và sau đó chỉ mấy tháng thì Knupskaia cũng vĩnh viễn ra đi”.

http://www.vnmedia.vn/print.asp?newsid=48186

Xác ướp hàng sáu tháng phải ngâm tẩm, bảo trì, cùng áp dụng tập tục chia phần âm khí.

Riêng lăng Hồ chí minh ngoài những vi phạm cùng đặc điểm với lăng Lenin, còn chịu thêm ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố phong thủy khác như:

- Xác chết được lưu giữ lại trái di chúc, nên linh hồn người chết không thể siêu thoát. Vì thế mặc dù xác ướp được đặt trong hòm kính vô sinh với kỹ thuật tối tân của các nhà bác học Liên Xô (đã từng có kinh nghiệm qua xác ướp Lenin), thế mà cũng không tránh được chiếc hòm kính bị xì, tai rụng, mũi bị thúi và khuôn mặt bị biến dạng.

http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=3353&mode=&order=0&thold=0

Do vậy, lăng này phải đóng cửa một thời gian dài để cho chuyên gia Liên Xô đại tu trở lại vào cuối thập niên 70s.

- Ông Hồ Chí Minh đã gây nên bao tội lỗi, hận thù dân tộc trên toàn cõi Việt Nam, cho nên phải chịu sự nguyền rủa thậm tệ khó mà mồ yên mã đẹp lâu dài để lại cho kẽ kế thừa.

- Ông Hồ Chí Minh trước khi chết mong muốn đi gặp cụ Mac, cụ Lenin chứ không mong đi thăm ông bà tổ tiên. Ông mong ước các đảng cọng sản anh em đoàn kết vô sản. Ông Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời chính trị chưa bao giờ khoan hồng, đặc xá cho ai cả, và cũng chưa từng nói câu từ bi hỉ xả, cõi lòng luôn luôn nung nấu ý chí hận thù giai cấp. Thế mà giờ đây đảng ép buộc ông Hồ Chí Minh phải cúi đầu vô chùa ăn chay niệm kinh phật cùng chư tăng là một điều hoàn toàn nghịch lý, một hình thức cưỡng ép hay tra tấn linh hồn người chết.

Thuật phong thủy mồ mả chỉ có thể ảnh hưởng đến thế hệ kế thừa của người chết chứ hiếm khi ảnh hường đến thế hệ cùng thời. Lăng Lenin bị động mồ mả nên đảng cọng sản Liên xô chỉ có thể kế thừa được 2 thế hệ sau thế hệ cách mạng 1917 (tính từ 1924 đến 1986) đất nước Liên Xô là một siêu cường thế giới, mà phải tự tiêu vong do yếu tố phạm phong thủy nội tại của mình.

Ðối với lăng Hồ Chí Minh bị động mồ động mả chẳng những do yếu tố nội tại, bị tác động của yếu tố ngoại lại (sự nguyền rủa do hận thù dân tộc), lại còn chịu sự quậy phá của chính cô hồn chết vì bị làm trái di chúc và cưỡng nhốt vào chùa trái với ý chí ông Hồ. Do đó tốc độ tàn phá sẽ nhanh chóng hơn.

Do vậy có thể kết luận chắc chắn một điều mà không võ đoán là thời gian thừa kế của đảng csvn sẽ ngắn hơn sự tồn tại của đảng cs Liên xô là 62 năm tính từ lúc xây lăng Lenin. Nói một cách cụ thể hơn, đảng csvn sẽ không tồn tại qua hết thế hệ thứ nhất thừa kế di sản của ông Hồ Chí Minh (tính từ năm 1975). Câu hỏi đặt ra là có thể nào cứu vãn được không?

Câu trả lời chính xác nên dành cho đảng cọng sản vậy.

http://anhduong.net/binhluan/Jun07/PhongThuyLangHoCM.htm