dimanche 8 juillet 2007

Ra toà vì tội ác cộng sản


DCVOnline - Tin từ Warsaw

WARSAW (POLAND) - Ngày 17/4/2007, Viện tưởng nhớ Dân tộc - Hội đồng Truy Xét Tội Ác Chống Nhân Dân Ba Lan (IPN) sau thời gian dài điều tra đã lập xong cáo trạng chuyển lên Tòa Án Warszwa (Vac-sô-vi) đề nghị khởi tố đại tướng Wojciech Jaruzelski, nguyên Tổng bí thư đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan - PZPR (tức đảng Cộng Sản Ba Lan). Cùng bị khởi tố với ông W. Jaruzelski còn có 8 người khác trong Hội đồng Quân sự Cứu nước: Đại tướng Florian Siwicki, đại tướng Czesław Kiszczak (nguyên bộ trưởng Bộ nội vụ), Tadeusz Tuczapski... Ông W. Jaruzelski có thể bị kết án tới 8 năm tù.


Wojciech Jaruzelski
Nguồn: http://www.filibustercartoons.com
--------------------------------------------------------------------------------

Ông W. Jaruzelski năm nay 84 tuổi và đang bị bệnh. Là chủ tịch Hội đồng Quân sự Cứu nước, đứng đầu nhà nước Ba Lan và đảng cộng sản Ba Lan bấy giờ được xem là tác giả chính của lệnh Thiết quân luật (Tình trạng Chiến tranh) ban hành vào đêm ngày 12 sáng ngày 13 tháng 12 năm 1981 với mục đích chặn đứng phong trào đòi dân chủ đang diễn ra mạnh mẽ của công đoàn Đoàn Kết. Những chiếc xe tăng chạy trên phố, những tiếng đập cửa thình thình vào ban đêm, gia đình ly tán, hàng ngàn người bị bắt, hàng ngàn người bị cho thôi việc, hàng ngàn người khác buộc phải di tản và ít nhất 90 người đã bị giết hại là bức tranh toàn cảnh của lệnh Thiết quân luật này. Tình trạng thiết quân luật được huỷ bỏ vào tháng 12/1982. Trong năm 2006, kỷ niệm 25 năm ngày ban hành Thiết Quân Luật, quốc hội Ba Lan đã ra nghị quyết chỉ trích mạnh mẽ hành động này của chính quyền cộng sản Ba Lan.

Mặc dù Quốc hội Ba Lan công nhận rằng "Tình trạng Chiến tranh" hay lệnh "Thiết quân luật" do ông W. Jaruzelski và các cộng sự ban hành là bất hợp pháp nhưng cho tới nay vẫn chưa có ai phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về vấn đề này. "Ngày nay không một người bình thường nào lại không cho rằng việc ban hành Tình trạng chiến tranh này là một điều tồi tệ" - nguyên tổng thống Ba Lan (1995-2005) Aleksander Kwasniewski (một cựu bộ trưởng thời cộng sản) đã phát biểu như vậy nhân kỉ niệm lần thứ 20 ngày ban hành Thiết quân luật.


Tình trạng Chiến Tranh. Katowice 16/12/1981 - Nguồn: http://www.Gazeta.pl
--------------------------------------------------------------------------------

Quá trình điều tra của Viện tưởng nhớ Dân tộc kéo dài 2,5 năm. Theo Viện này, lệnh Thiết quân luật đã vi phạm Hiến pháp của chính nước Ba Lan cộng sản thời đó và là một tội ác của chế độ cộng sản. "Cần phải nói rõ rằng, tình trạng chiến tranh là một tội ác, quá trình điều tra để đưa ra khởi tố là một thành công lớn nhưng công lý chỉ được thực hiện khi những người có lỗi bị tuyên án"- đại biểu Quốc Hội Zbigniew Girzynski nói.

Viện Tưởng Nhớ Dân Tộc - IPN quy kết tội phạm cho Hội đồng Quân sự Cứu Nước như sau: "Tước đoạt quyền tự do của công dân thông qua truy bức, bắt giam bất công, xâm phạm thân thể, tự do thư tín, giao dịch và quyền lao động của công dân Ba Lan" (...) "Bất chấp Hiến pháp hiện hành, tướng W. Jaruzelski cùng các thành viên của Hội đồng Quân sự Cứu nước đã vượt quá thẩm quyền được giao phó".

Cho đến nay, tướng W. Jaruzelski và những người ủng hộ ông cho rằng, việc ban hành tình trạng chiến tranh vào ngày 13/12/1981 đã tránh được cho Ba Lan sự can thiệp quân sự từ phía Liên Xô, giống như tình trạng của Tiệp Khắc vào mùa xuân năm 1968. Tuy nhiên, Hội đồng Điều tra không tìm thấy trong hồ sơ những tài liệu nào chứng minh cho lời nói của tướng W. Jaruzelski.

Còn các chính trị gia của Liên Minh Dân Chủ Cánh Tả (SLD) mà tiền thân là đảng Công Nhân Thống Nhất Ba Lan thì cho rằng đây chỉ là trò chơi chính trị và tìm kiếm sự trả thù đối với những người thuộc cánh tả. Đặc biệt, trong số những người tỏ ý bênh vực ông W. Jaruzelski có cựu Tổng thống Nga Michail Gorbachev, ông này dự tính sẽ gửi một bức thư tới Quốc hội Ba Lan để bảo vệ cựu đại tướng W. Jaruzelski.

Văn phòng của ông W. Jaruzelski hiện từ chối bình luận về việc Viện Tưởng Nhớ Dân Tộc - Hội Đồng Điều Tra Tội Ác Chống Nhân Dân Ba Lan đưa ra toà khởi tố tướng W. Jaruzelski cùng các cộng sự.

Cũng nên nhắc lại rằng, vào ngày 30/03/2006, chi nhánh của IPN tại tỉnh Katowice công bố hồ sơ điều tra về tướng W. Jaruzelski và đồng sự, khi được hỏi cảm nghĩ ra sao trước sự việc này, cựu lãnh tụ Công đoàn Đoàn Kết Ba Lan Lech Walesa đã trả lời với báo chí rằng, vấn đề không quan trọng ở mức án thấp hay cao dành cho các đối tượng mà là ở chỗ là sự thật của lịch sử phải được xem xét minh bạch.

Nhật báo Ba Lan Gazeta Wyborcza (19/04/2007) cho hay, tại Brussels, nhân cuộc gặp mặt Chủ tịch Hội đồng Âu châu José Manuel Barroso ngày 18/04/2007, trả lời câu hỏi của một ký giả Italy về vụ án W. Jaruzelski trong cuộc họp báo, thủ tướng Ba Lan J. Kaczynski nói: "Chúng tôi không thấy có bất cứ lý do nào để những kẻ tội phạm tay vấy máu mà lại không chịu trách nhiệm về tội ác của mình...".


© DCVOnline

--------------------------------------------------------------------------------

Nguốn: Theo tin của hãng thống tấn Ba Lan PAP và báo chí Ba Lan khác trong ngày 17-19/04/2007
http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=3264

http://phungmai.blogspot.com/
Tin tặc và sự thật

Minh Võ
--------------------------------------------------------------------------------

Ngày cuốn hồi ký Lớn Lên Với Đất Nước của Vy Thanh do nhà xuất bản Sự Thật Thật xuất bản ra mắt ở Quận Cam cũng là ngày tin tặc tấn công Đàn Chim Việt Online lần thứ 2 trong vòng một tuần lễ. Sự trùng hợp khiến tôi nhớ lại những chuyện ngày xưa liên hệ đến chuyện ngày nay.

Chắc ít bạn trẻ ở bên Nga ngày nay biết rằng thời còn mồ ma Stalin ở Liên Xô cũ có 2 tờ báo quan trọng nhất là tờ Isvestia (Tin Tức) và tờ Pravda (Sự Thật). Lúc ấy dân Nga thường nói nhỏ với nhau: Trong Pravda không có Isvestia. Còn trong Isvestia thì không có Pravda. Hai câu này muốn hiểu là trong tờ Pravda không có tờ Isvestia, và trong tờ Isvestia thì không có tờ Pravda cũng được. Nhưng như vậy thì là “vérité De La Palice” (ngớ ngẩn). Nói chỉ để cười cho vui theo kiểu chơi chữ dí dỏm. Mà hiểu là trong tờ Pravda không có tin tức, còn trong Tin Tức (Isvestia) thì không có sự thực, (toàn chuyện dối trá) cũng được. Và đó mới chính là ý nghĩa của lời người dân Nga. Sự kiện này nói lên một điều là cái chuyện bịa đặt, nói dối đã thành nếp sống của người Cộng Sản.


Trong tờ Pravda không có tin tức, còn trong Tin Tức (Isvestia) thì không có sự thực
Nguồn: wikimedia.org
--------------------------------------------------------------------------------

Ở Hà Nội trước đây có một nhà xuất bản cũng bắt chước Liên Xô lấy tên là SỰ THẬT. Có lẽ vì ai cũng biết sự thật của CS là sự thật giả, cho nên ngày nay khi tác giả Vy Thanh muốn dùng hai chữ Sự Thật để đặt tên cho nhà xuất bản ông đã phải thêm vào tính từ THẬT ở sau, thành Sự Thật Thật, để nhân dân trong nước, từng quen với nhà xuất bản Sự Thật của CS, khỏi ngộ nhận. Nhu cầu phân biệt sự thật thật với sự thật (giả), quả tình chỉ có trong thời buổi xã hội chủ nghĩa này, (xhcn = xạo hết chỗ nói). Chuyện khó tin mà có thật.

Nếp sống giả dối, nói một đàng làm một nẻo đã khởi sự từ sự kiện ông Hồ Chí Minh tuyên bố giải tán đảng CS ngày 11/11/1945. Trong thực tế đảng đó vẫn tồn tại, sinh hoạt đều đặn, càng ngày càng kết nạp thêm đảng viên, số đảng viên không ngừng tăng nhanh từ con số vài ngàn ban đầu lên đến gần trăm ngàn khi nó biến dạng thành đảng Lao Động ngày 3 tháng 3 năm 1951. Và đến năm 1960 (ngày 3 tháng 2), thì ông Hồ đã không thèm giấu nữa mà tuyên bố trắng ra là đảng ta đã 30 tuổi! Nếu nó đã thực sự giải tán để biến thành hội Nghiên Cứu Mác-xít thì sao nó lại được 30 tuổi vào năm 1960. Giấu đầu hở đuôi là vậy.

Những điều gian dối tiếp diễn liên tục từ 1945. Cũng ông Hồ đã nói dối toàn dân và đánh lừa dư luận thế giới bằng cuốn sách mỏng 168 trang, nhan đề Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch dưới bút hiệu Trần Dân Tiên (xuất bản và dịch ra tiếng Pháp, đưa ngay sang Ngưỡng Quang, thủ đô Miến Điện để dịch ra tiếng Anh rồi xuất bản năm 1948), trong đó ông tự phong mình là người yêu nước, là “cha già dân tộc”. (Trần Dân tiên, tức Hồ Chí Minh nói dối rằng toàn dân gọi ông là “Cha Già Dân Tộc”. Lúc ấy nhân dân chưa mấy người biết nhiều về thân thế của ông.) Ông còn núp dưới bút hiệu TDT để tự khen mình là khiêm nhường, không muốn viết về mình. Khiêm nhường hay kiêu ngạo và cực kỳ gian dối?

Noi gương ông, cán bộ CS, núp dưới danh hiệu mặt trận Việt Minh đã thi nhau nói dối, đến độ trong giữa thập kỷ 40 nơi nơi trong nước đã xuất hiện sự so sánh đầy ý nghĩa thực tiễn: “Nói dối như Vẹm”. Vẹm là phát âm của 2 chữ VM, viết tắt của Việt Minh. Bằng cách nói dối trắng trợn với mục đích tuyên truyền người CS đã làm cho tuyên truyền, vốn là một khoa học về chiến tranh ý thức hệ, trở thành đồng nghĩa với nói dối. Tiếc thay!

Cũng chính vì sự gian dối, nói một đàng làm một nẻo mà phát sinh câu nói của một nhà lãnh đạo miền Nam (tổng thống Nguyễn Văn Thiệu): “Đừng nghe những gì CS nói, mà hãy nhìn những gì CS làm” .

Trên nửa thế kỷ đắm chìm trong giả dối. Truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ của Việt Nam đã biến đổi đến không còn nhận diện được nữa. Không còn biết phân biệt đâu là chân đâu là giả! Dường như ở đâu người ta cũng đóng kịch với nhau.

Sở dĩ tác giả Vy Thanh, một cựu cán bộ trí vận cao cấp phản tỉnh, đã phải xuất bản sách của mình dưới cái tên Sự Thật Thật là vì trong hồi ký của mình ông đã vén màn bí mật cho độc giả thấy Sự Thật viết hoa trong chế độ CS. Vào thời ông còn niên thiếu, ông đã được chứng kiến những vụ giết người dã man rùng rợn đến độ ngày nay nhớ lại ông vẫn còn ghê rợn. Nếu không do chính mắt thấy tai nghe, thì không thể nào tin được đó là sự thật. Ông đã nói về việc CS giết Đức Huỳnh Phú Sổ, giáo chủ Phật Giáo Hoà Hảo, và vô số đạo hữu Phật Giáo Hoà Hảo. Chính mắt ông đã chứng kiến vụ xử bắn em ruột của Đức Hùynh Phú Sổ và con của một tướng lãnh Hoà Hảo là Trần Văn Soái, thường được gọi là Năm Lửa.

Chính vì sợ sự thật, sợ những tin tức chính xác được loan tải trên những mạng lưới thông tin điện tử gần đây, nhất là kể từ khi có chiến dịch “Góp Ý”, rồi sự ra đời của Tuyên Ngôn Dân Chủ Tự Do 8406, nhóm Tin Tặc mà ai cũng đóan được nguồn gốc từ đâu, đã điên cuồng dùng mọi kỹ thuật tinh vi để đánh phá những cơ quan thông tin đại chúng có ảnh hưởng lớn đối với độc giả trong nước này.

Trong số nạn nhân của sự tấn công phá họai này, chỉ bằng vào những gì cá nhân tôi biết, ngoài Đàn Chim Việt bị tấn công hai lần (1), còn có Người Việt Online, và Việt Nam Exodus. Ai cũng biết Người Việt là nhật báo lớn nhất và nhiều độc giả nhất ở Hải Ngọai. Việt Nam Exodus thì mới ra chưa được bao lâu phạm vi hoạt động và ảnh hưởng chưa thể nào sánh với Đàn Chim Việt, và Người Việt Online được. Cả Người Việt lẫn Việt Nam Exodus thì lại không có được phần tham gia ý kiến và thảo luận trên mạng, như Đàn Chim Việt. Nhưng VN Exodus đã kéo chú ý của độc giả, và thính giả, bằng những tài liệu mới được phát giác và công bố, và có phần âm thanh, phát đi tiếng nói của những chứng nhân quan trọng, như bà Mỹ Dung, tức Dung Krall, ái nữ của cựu đại sứ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà tại Liên Xô, rồi tại Pháp là Đặng Quang Minh, hay của bạn ông này là tác giả Vy Thanh nói trên. Đáng chú ý hơn nữa là suốt mấy tháng nay, Việt Nam Exodus còn cung cấp cho độc giả những chứng từ lấy từ chính những văn bản gốc của các người CS, để chứng minh ông Hồ Chí Minh không phải là người yêu nước.

Đàn Chim Việt bị tấn công có lẽ cũng vì lý do tương tự. Trong nhiều tháng qua Đàn Chim Việt đã đưa lên mạng những bài viết nhắm thẳng vào tử huyệt của chế độ là thần tượng Hồ Chí Minh. Trong phần trao đổi ý kiến, những cán bộ CS vào đọc Đàn Chim Việt đã hốt hoảng la lên: đề tài quá cũ rồi, nhắc lại làm gì cho nhàm! Nhưng thực sự họ kinh sợ đến chết. Nếu thần tượng Hồ Chí Minh sụp đổ, thì lập tức giới trẻ trong nước sẽ hàng hàng lớp lớp đứng lên sau lưng các chiến sĩ Dân Chủ Tự Do và kéo theo lớp quần chúng đông đảo đòi Tự do Dân Chủ và bầu cử tự do, tẩy chay bầu cử theo kiểu đảng cử dân bầu...

Những kẻ sợ tự do dân chủ càng đánh càng phá các phương tiện truyền thông đại chúng chuyên trình bày cho thính chúng, độc giả, và nhân dân trong nước những sự thực bị vùi lấp dưới lớp thời gian đầy bụi bặm của gian dối xảo quyệt, thì càng chứng tỏ sức mạnh và tác dụng của truyền thông đại chúng, nhất là truyền thông điện tóan.

Sự việc Đàn Chim Việt bị tấn công lần thứ hai chỉ một ngày sau khi đăng ý kiến của nhà báo Bùi Tín, cám ơn độc giả đã đọc ông, trong đó ông khẳng định, yêu nước theo kiểu của ông Hồ Chí Minh thì thà đừng yêu nước còn hơn. Ông viết, nguyên văn:


“Tôi nói: nhầm lẫn của ông Hồ về đường lối, về học thuyết đấu tranh, chọn cho một đảng, cho một nước kéo dài 70 năm, dẫn đến chiến tranh, tang thương, tàn phá, chia rẽ, tụt hậu, hậu quả thật kinh hoàng..., mà người lãnh đạo đến nay vẫn còn chưa tỉnh! “yêu nước” như thế thì tệ hại gấp triệu lần thà như không yêu nước!

“Trên thực tế, đây là Tội Ác viết hoa, là tội ác nhân lên triệu triệu lần.”


Sự việc này cho thấy những lời lẽ có tình có lý ở một bài trước của ông (“tâm tình với bạn trẻ trong nước về ông Hồ Chí Minh”) trong đó ông viết, ông nghĩ ông Hồ cũng yêu nước theo kiểu của ông ta, theo hoàn cảnh và tâm tình của ông ta... đã gây được cảm tình của độc giả trẻ, chưa hiểu rõ về ông Hồ. Rồi chỉ sau khi đã gây được cảm tình của giới trẻ, ông mới lên tiếng nói rõ hơn, rằng “yêu nước” theo kiểu của ông Hồ là tội ác!

Người CS rất sành về tuyên truyền chính trị là môn mà ông Hồ đã học và dậy ở trường Stalin, cũng còn gọi là trường lao động Đông Phương, và chỉ một mình ông là người Á Đông được theo học ở trường đại học Lênin. Trong gần 5 năm học tại đây chẳng những ông học về tuyên truyền mà còn về tình báo gián điệp, và mọi chiến lược chiến thuật du kích chiến, những chiến thuật, kỹ thuật xâm nhập, lũng đọan, thao túng, tranh đấu tại nghị trường, cũng như trên các diễn đàn chính trị, tại các cuộc hội thảo về chính trị, kinh tế, giáo dục văn hóa v.v...Ông Hồ đã dậy lại cho các đồ đệ thân cận nhất của ông hồi còn ở Hoa Nam. Ông còn giói thiệu họ vào trường Hoàng Phố của Trung Hoa Quốc Dân Đảng (hồi ấy đang theo đuổi chính sách thân Nga dung Cộng), rồi trường Quân Chính Diên An của Mao Trạch Đông.

Vì tuyên truyền là vũ khí chủ sóai của CS, nên họ không muốn để cho bất cứ đối phương nào sử dụng vũ khí này hơn họ.

Họ có tới 600 tờ báo. Nhưng chỉ một tờ dành cho tư nhân ngoài đảng họ cũng không dám cho. Vì họ tự biết họ đang ở thế yếu, tức thế nói dối, thế bưng bít, thế độc quyền. Để cho một tờ tự do xuất hiện chẳng khác nào tự xiết cổ mình. Vì thế mà khi nhóm linh mục Chân Tín, Phan Văn Lợi và một số nhà dân chủ tự do ... ra tờ Tự Do Ngôn Luận, mà không xin phép, bất chấp mọi hiểm nguy, chúng tôi đã ví von rằng linh mục Chân Tín định siết cổ Đảng ta. Dĩ nhiên định hay muốn là một chuyện, còn có làm được không thì còn phải nhờ vào sự tán thành, ủng hộ, hưởng ứng của nhân dân, nhất là giới trẻ.

Cho nên khi ông Bùi Tín, dùng cái chiêu thức lấy lòng giới trẻ còn chưa hiểu đời, chưa biết được mưu sâu của “đảng ta”, rồi sau đó nói rõ cho họ biết cái kiểu “yêu nước” của ông Hồ là tội ác viết hoa, thì Hà Nội thất kinh! Không thể để cho Đàn Chim Việt tiếp tục đăng những luận điệu “sát cộng” như thế này được.

Thiết tưởng, đứng về phương diện tuyên truyền mà nói, thì những bài của Trần Mạnh Hảo (góp ý), phê bình chỉ trích chủ nghĩa Mác, hay của những Lê Nhân, Nguyễn Thái Hoàng, Nguyễn Thái Bình, Võ Quế Dương... mạt sát ông Hồ Chí Minh, hay, và nhất là, sách của Hoàng Quốc Kỳ, Việt Thường đối với Hà Nội, không đáng sợ bằng những lời dịu ngọt theo kiểu mật ngọt chết ruồi của Bùi Tín, và của những tác giả nghiên cứu thận trọng. Những người này viết và nói có tình có lý, một cách công bình, khách quan, những gì tốt nói tốt, những gì xấu nói xấu, không ngần ngại khen ông Hồ là ngừời có chí, có tài, được rèn luyện đến nơi đến chốn về mọi mặt kỹ thuật chính trị, mà các nhà lãnh đọao các đảng phái quốc gia thực sự yêu nước không có được. Nhưng chỉ tiếc một điều là ông Hồ đã dùng những ưu điểm đó vào việc giết hại đồng bào cho một chủ nghĩa phi nhân, một học thuyết không tưởng, chứ không phải vì lý tưởng dân tộc. Quan trọng là những bằng chứng xác thực không thể chối cãi để chứng minh điều sau cùng này.

Ngày nay Hà Nội đã biết rõ cái độc quyền báo chí của họ khó giữ được nguyên vẹn. Vì ngoài báo in còn báo nói, báo điện tử trên mạng. Nếu không dựng lên những bức tường lửa, nếu không đánh phá liên tục các mạng có uy tín, thì những báo điện tử này sẽ thay đổi được tâm trạng giới trẻ ở trong nước, và đến lúc đó thì không có phương cách gì chống đỡ cho chế độ được nữa.

Tóm lại, sở dĩ tin tặc tấn công, đánh phá các báo điện tử là vì Hà Nội khiếp sợ sự thật thật, là cái sẽ toàn thắng sự giả dối, mệnh danh là sự thật (giả).

Trước khi kết thúc, chúng tôi mạo muội cầu mong các cơ quan truyền thông cùng chung một lý tưởng tự do dân chủ và muốn giải thế chế độ thối nát hiện nay bằng một chế độ dân chủ tiến bộ, sẽ hiểu rõ ưu điểm và sức mạnh của báo điện tóan để cùng chung sức bảo vệ phương tiện truyền thông mới mẻ và hữu hiệu này, phát triển nó, tổ chức nó thành một hệ thống quy mô rộng lớn hòng đối phó với những bức tường lửa và sự đánh phá vô trách nhiệm, bỉ ổi và phi pháp này.

Cũng hy vọng rằng trong tương lai, báo điện toán sẽ không chỉ nhắm phê bình chỉ trích những sai trái, tội lỗi của chế độ hiện hữu mà còn quy tụ một số đông các nhà chuyên môn về các vấn đề chính trị, ngọai giao, công pháp quốc tế, vấn đề tổ chức công quyền theo thể chế dân chủ, cũng như một loạt những vấn đề kinh tế, giáo dục, văn hóa, xã hội khác cần thiết phải tiên liệu cho một chế độ hậu CS tương lai. Mong lắm thay!

Nam Cali 06/06/06


Copyright © 2006 DCVOnline

--------------------------------------------------------------------------------
DCVOnline: (1) Trong gần hai tuần, từ ngày 26/5 đế 6/6/2006, tin tặc đã tấn công phá hoại DCVOnline rất nhiều lần. Khi vẫn còn kẻ thù của cuộc vận động dân chủ, những kẻ khiếp sợ tự do báo chí, sợ sự thật, thì DCVOnline vẫn còn có thể tiếp tục bị tấn công phá hoại.

DCVOnline sẽ vượt mọi khó khăn để có mặt với bạn đọc toàn cầu trong vai trò truyền thông độc lập.

http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=१८७५
http://phungmai871.blogspot.com/2007/06/lng-yu-nc-ca-h-ch-minh.html

mercredi 4 juillet 2007

Nhà nước toàn trị

Nadegda Kuznetsova
Nhà nước toàn trị
Nguyên Trường dịch

Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (từ 16 đến 19-9) lần 4 khóa 16 đang tập trung thảo luận về tăng cường năng lực chấp chính của Đảng. Liệu Đảng cộng sản Trung quốc có thể tự cải tạo, tự biến đổi, tự cải thiện thành một tổ chức chấp chính hữu hiệu được hay không? Xin giới thiệu bài viết của Nadegda Kuznetsova như một điểm nhìn tham chiếu.- N.D.

Khái niệm chung về chế độ toàn trị

Chế độ toàn trị không ngừng thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu.

Đây là một trong những đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa chính trị học hiện đại. Đối với nước ta thì vấn đề này không chỉ mang ý nghĩa hàn lâm.

Nghiên cứu chủ nghĩa toàn trị có ý nghĩa to lớn trong giai đoạn chuyển tiếp của nước Nga từ chế độ toàn trị sang chế độ dân chủ.

Hệ thống chính trị được hiểu là toàn bộ các thể chế chính trị, các chủ thể quyền lực và quan hệ gữa các chủ thể đó, các quá trình diễn ra trong các chủ thể đó khi thực thi quyền lực. Tổ chức chính trị bao gồm tổ chức bộ máy quyền lực, quan hệ giữ nhà nước và xã hội.

Các thể chế và tổ chức chính trị (chính phủ, đảng phái…) là những thành phần của hệ thống chính trị.

Chính phủ, cơ quan thực thi quyền lực là thể chế quan trọng nhất, các thể chế khác phải quần tụ xung quanh nó.

Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu thì quan hệ chính trị, chế độ chính trị, tính chất chính thống của chính quyền và các hoạt động chính trị cũng phải được coi là thành phần của hệ thống chính trị.

Dưới đây hệ thống chính trị của chế độ toàn trị sẽ luôn luôn đặt trong tương quan với chế độ dân chủ-tự do, một đối cực của chủ nghĩa toàn trị. Theo Friedrich von Hayek thì "bất cứ cái gì ngược với chủ nghĩa tự do thì đều là toàn trị cả".

Phân tích so sánh hai hệ thống trái ngược nhau - toàn trị và dân chủ tự do (hay dân chủ lập hiến) - sẽ cho ta thấy rõ những đặc trưng cơ bản của chế độ toàn trị.

Các chế độ toàn trị được đem ra so sánh là nước Đức phát xít và Liên Xô.

Xin được nói thêm rằng Liên Xô dưới thời Stalin (1929-1953) gần với mô hình toàn trị "lí tưởng" hơn là giai đoạn trước và sau đó. Nền chuyên chính Bolsevich dưới thời Lenin và những năm ngay sau khi ông qua đời cũng như chế độ hậu Stalin không phải là chế độ toàn trị "lí tưởng" như dưới thời Stalin.

Trong trường hợp lí tưởng nhất chức năng của hệ thống chính trị trong các nước dân chủ là phát hiện ra các quyền lợi khác nhau của xã hội, tạo ra sự đồng thuận, "đưa về mẫu số chung", tìm cách giải quyết một cách dân chủ, một cách văn minh các mâu thuẫn xã hội.

Chỉ trong mối liên hệ với "môi trường bên ngoài", với các lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội và tinh thần hệ thống chính trị mới có thể thực hiện được chức năng nêu trên.

Bản thân hệ thống chính trị trong các nước dân chủ chỉ là một phần (tiểu hệ thống) của cả hệ thống xã hội.

Nói chung toàn bộ xã hội có thể được coi là tập hợp của các hệ thống: kinh tế, xã hội, tinh thần và chính trị (các lĩnh vực xã hội và tinh thần đến lượt mình lại tạo thành hệ thống xã hội dân sự).

Trong đó hệ thống chính trị liên hệ với các hệ thống khác nhưng không được đàn áp chúng để không dẫn tới sự thoái hoá toàn bộ xã hội cũng như thoái hoá chính hệ thống chính trị.

Chúng ta phải ghi nhận ngay rằng trong chế độ toàn trị chỉ tồn tại có một hệ thống, đấy là chính trị, ngoài ra không còn một tiểu hệ thống nào khác.

Hệ thống chính trị đã nuốt chửng hệ thống xã hội, tinh thần và cả kinh tế. Trong chế độ toàn trị không có xã hội dân sự, toàn bộ xã hội đã bị khuất phục và hoàn toàn tuân phục nhà nước toàn trị (Đúng hơn phải nói rằng toàn bộ xã hội và nhà nước đã bị độc đảng cầm quyền nuốt chửng).

Tất cả các mặt của đời sống xã hội bị trộn lộn làm một. Đặc điểm quan trọng nhất của chế độ toàn trị là sự hợp nhất một cách tuyệt đối tất cả các lĩnh vực của đời sống. Chế độ toàn trị cố gắng xoá nhoà gianh giới giữa cá nhân, gia đình, xã hội, nhà nước, lãnh tụ, đảng, quần chúng.

Cả nhà nước và xã hội đều bị đảng cầm quyền nuốt chửng, còn văn hoá tinh thần, bao gồm văn học nghệ thuật, triết học, đạo đức thậm chí cả khoa học đều bị hệ tư tưởng toàn trị nuốt chửng.

Công cụ quan trọng nhất để biến xã hội thành đám đông vô tổ chức, thành các cá nhân "hạt nhân" chính là khủng bố.

Sau khi mất hết các mối liên hệ theo chiều ngang giữa người với người, các cá nhân trở thành đơn độc, trở thành một mình đối diện với đảng-nhà nước.

Tất cả tổ chức đều phải bị giải tán bởi vì chúng có thể cản trở sự thống trị của đảng cầm quyền, ngăn chặn quyền lực của nó đối với xã hội. "Chế độ toàn trị luôn luôn biến các giai cấp thành đám đông", Hannah Arendt đã viết như thế.

Không gian chính trị (lĩnh vực hoạt động của chính trị, chính quyền và tư tưởng) đã bao trùm lên toàn bộ xã hội, mọi biểu hiện của đời sống con người đều bị đặt dưới sự giám sát của chính trị.

Trong chế độ toàn trị hoạt động chính trị là vô giới hạn cho nên không gian chính trị cũng là vô cùng tận, không có biên giới.

Như vậy nghĩa là trong chế độ toàn trị khái niệm "phi chính trị" là không tồn tại. Chỉ thị của chính quyền và tư tưởng của đảng cầm quyền ngấm vào tất cả các tế bào của cơ thể xã hội, ngấm vào kinh tế, văn hoá, và đời sống, kể cả riêng tư cũng như đời sống xã hội của cá nhân. Ngay các giá trị đạo đức cũng được nhà nước toàn trị ấn định.

Tất cả các quyết định của chính quyền đều mang tính chất chính trị và đều được biện giải về mặt tư tưởng (nhưng thực ra sự biện giải chỉ là để che đậy lí do thực sự của những quyết định đó). Ngay Lenin, người tạo lập cơ sở của nhà nước toàn trị đầu tiên trong lịch sử loài người đã đòi hỏi sự kiểm soát toàn diện của đảng đối với đời sống xã hội:

"Hiến pháp Liên Xô cả về mặt luật pháp lẫn thực tiễn được xây dựng trên cơ sở là đảng uốn nắn, ấn định và xây dựng theo một nguyên tắc duy nhất", ông đã tuyên bố như vậy vào năm 1920.

Cũng trong năm đó ông còn viết: "Không một vần đề chính trị hay tổ chức nào do bất kì cấp chính quyền nào giải quyết mà không có chỉ đạo của Ban chấp hành trung ương".

Nhưng Lenin đã không đưa được sự kiểm soát toàn diện của đảng đối với tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội tới thắng lợi cuối cùng.

Từ đặc điểm của chế độ toàn trị là ngoài hệ thống chính trị ra, tất cả các hệ thống khác của đời sống xã hội đều không tồn tại, chúng đã bị trộn lộn vào làm một, được một hệ tư tưởng duy nhất thấm đẫm và cố kết, tất cả đều được chỉ huy và kiểm soát từ một trung tâm, có thể rút ra đặc điểm thứ hai của chế độ toàn trị: đấy là về nguyên tắc, chế độ này không thể "học hỏi" được vì nó không có mối liên hệ ngược giữa quyết định của chính quyền và phản ứng của xã hội.

Chính quyền chỉ tác động lên xã hội khi đưa ra một quyết định hay thực hiện một bước đi nào đó; không có một tín hiệu nào theo hướng ngược lại, những người ra quyết định không hề biết hay không cần biết phản ứng của xã hội đối với quyết định của mình.

Một đặc điểm nữa của chế độ toàn trị là mặc dù xã hội bị chính trị hoá từ trên xuống dưới, hoạt động chính trị thực sự chỉ xảy ra trên đỉnh cao nhất của kim tự tháp quyền lực.


I. Cơ cấu và nguyên tắc hoạt động của chế độ toàn trị

Sau khi đã xem xét các đặc trưng cơ bản của chế độ toàn trị chúng ta sẽ tiến hành khảo sát cơ cấu và các nguyên lí hoạt động chủ yếu của nó.

Trước hết ta xét nhiệm vụ chủ yếu của hệ thống chính trị trong chế độ toàn trị. Nếu trong chế độ dân chủ lập hiến nhiệm vụ của hệ thống chính trị là điều hoà và kết hợp các quyền lợi của các nhóm xã hội khác nhau, là giải quyết các xung đột quyền lợi của các nhóm đó bằng con đường dân chủ và văn minh thì trong chế độ toàn trị hệ thống chính trị có nhiệm vụ tái tạo, củng cố và mở rộng quyền lực của nhóm quan liêu đương quyền. Nếu trong chế độ dân chủ tự do, hệ thống chính trị phục vụ xã hội thì trong chế độ toàn trị toàn bộ xã hội phải phục vụ hệ thống chính trị.

Hệ thống chính trị của chế độ toàn trị bao gồm bộ máy chính trị quan liêu và một loạt phương tiện (bộ máy tuyên truyền, cảnh sát mật, v.v.) để đảm bảo cho nó tiếp tục nắm giữ quyền lực.

Phương tiện quan trọng nhất là đảng toàn trị, còn đặc điểm nổi bật nhất của hệ thống chính trị toàn trị là độc đảng và phù hợp với nó là tư tưởng nhất nguyên.

Sau khi đã tiêu diệt các đảng phái khác, sau khi đã hợp nhất bộ máy đảng với bộ máy nhà nước và đàn áp sinh hoạt có tính chất tự trị trong nội bộ đảng, chính đảng toàn trị này trở thành trụ cột của bộ máy nhà nước và bộ máy quản lí nằm trong tay những nhân vật chóp bu của đảng.

Trong hệ thống toàn trị, đảng chính là kênh cho người ta thăng tiến vì nó nắm toàn quyền trong việc chỉ định các chức vụ từ lớn đến bé. Chỉ có đảng viên mới được giữ các chức vụ lãnh đạo trong bộ máy nhà nước, trong các đơn vị sản xuất, trong quân đội, trong lĩnh vực ngoại giao và tất cả các lĩnh vực khác.

Vì vậy vào đảng là con đường duy nhất để có thể leo lên.

Như vậy đảng toàn trị ("Đảng ngoại vi", theo cách gọi của George Orwell) là đội hậu bị cho bộ máy đảng trị thành lập ra những bộ máy quan liêu dưới quyền khác như hành chính, kinh tế, công đoàn, tư tưởng-văn hoá, quân sự, v.v.

Ngoài ra "Đảng ngoại vi" còn là chỗ để lôi kéo những thành phần tích cực, có chí tiến thủ của xã hội; nếu đảng không kết nạp họ thì những cá nhân tích cực này sẽ là mối đe doạ tiềm ẩn đối với chế độ toàn trị.

"Không thể quản lí được khối quần chúng đã biến thành một lũ tiểu nhân… nếu không phân tách chúng thành giai cấp. Chế độ đảm bảo cho mình một cơ sở tự nguyện vững chắc bằng cách liên tục lôi kéo những thành phần tích cực và tài năng từ nhân dân để lập nên tầng lớp thượng lưu mới."

Một điểm quan trọng cần phải nhấn mạnh là sau khi thiết lập được nền chuyên chế độc đảng thì chính đảng lại phân thành "đảng nội bộ" (bộ máy có đặc quyền đặc lợi) và "Đảng ngoại vi" (các đảng viên thường) theo thuật ngữ của G. Orwell.

Như vậy nghĩa là nhóm cầm quyền đầu sỏ của đảng phát triển ngay từ trong nội bộ đảng mà cơ sở của nó, đối với đảng Bolsevich thì là "những người cách mạng chuyên nghiệp" của Lenin; còn đối với đảng phát xít thì là bộ máy của Đảng Quốc Xã. Đặc quyền đặc lợi của những người cầm quyền phụ thuộc trực tiếp vào vị trí của họ trên nấc thang quyền lực của bộ máy.

Giai cấp cầm quyền đảng trị này (ở nước Đức phát xít họ được gọi là "tập đoàn các nhà lãnh đạo chính trị", còn ở Liên Xô thì gọi là "nomenklatura") tồn tại không phải trên cơ sở sở hữu tài sản mà là trên cơ sở nắm giữ quyền lực.

Nếu trong các xã hội có giai cấp, được Karl Marx phân tích, thu nhập của một người trong giai cấp bóc lột phụ thuộc trực tiếp vào số tài sản mà hắn sở hữu thì trong chế độ toàn trị thu nhập phụ thuộc vào mức độ tham gia của hắn vào bộ máy quyền lực, vào quyền lực mà hắn nắm giữ.

Chính sự tồn tại của giai cấp quan liêu nắm quyền lực chính trị này là nguyên nhân sinh ra hiện tượng sùng bái lãnh tụ.

Lãnh tụ toàn trị được gán cho những tính chất siêu phàm: không bao giờ sai, biết tuốt, sức mạnh vô địch, có thể suy nghĩ cho tất cả mọi người…

Nguyên nhân chính của hiện tượng này là bộ máy quan liêu đảng trị cần có ở trên đầu mình một siêu trọng tài, bất khả xâm phạm, một người có thể giải quyết mọi mâu thuẫn trong nội bộ nhóm chóp bu đương quyền và đảm bảo cho nó quyền lực và đặc quyền đặc lợi.

"Thần thánh hoá Stalin là một thành tố tất yếu của chế độ", Lev Trotski đã viết như thế năm 1936. "Bộ máy quan liêu cần một trọng tài bất khả xâm phạm, một cố vấn tối cao, nếu ta không muốn gọi đấy là một vị hoàng đế, nó sẽ đặt ngay lên vai mình kẻ đáp ứng được tham vọng bá chủ của nó".

Milovan Djilas cũng có quan điểm tương tự: "Hôm nay tôi có thể nói rằng việc thần thánh hoá Stalin, hay như người ta nói "tệ sùng bái cá nhân" Stalin không phải chỉ do ông ta tạo ra mà chủ yếu là do những người xung quanh ông ta, do bộ máy quan liêu cố tình tạo ra, bộ máy này cần một lãnh tụ như vậy".

Hitler đã nói thẳng như vậy với những đồng đảng của mình: "Tất cả những gì các anh đạt được là nhờ có tôi. Tất cả những gì tôi đạt được là nhờ có các anh".


II. Lãnh tụ toàn trị - điều kiện cần của hệ thống toàn trị

Lãnh tụ toàn trị là trung tâm châu tuần những mục đích ích kỉ của những người cầm quyền quan liêu và chính những người này tạo ra tệ sùng bái lãnh tụ đối với cá nhân ông ta.

Max Weber là người đã nghiên cứu một cách kĩ lưỡng vấn đề lãnh tụ siêu nhân và chỉ rõ rằng nếu lãnh tụ không còn đảm bảo quyền lợi cho các đệ tử thì tiền đề cho việc mất uy tín đã hiện hữu.

Lí do thứ hai là đảng toàn trị có tham vọng trở thành người nắm được chân lí tuyệt đối, không bao giờ sai.

Sự tự thần thánh hoá này của đảng được thể hiện trong sự sùng bái lãnh tụ và gán những tham vọng nói trên của đảng cho lãnh tụ của mình.

Lí do thứ ba của việc thần thánh hoá lãnh tụ là ước muốn thần phục chúa tể của đám đông hạt nhân hoá, đám đông muốn khuất phục ngay một người có uy tín và nó lập tức biến người này thành một vị thánh sống (Cơ chế tâm lí của hiện tượng này đã đuợc S. Freud phân tích trong tác phẩm: “Tâm lí đám đông và phân tích cái Tôi” (“Massenpsychologie und Ich-Analyse”)

Cần phải nhấn mạnh rằng sau khi lãnh tụ siêu nhân chết thì việc sùng bái lập tức chuyển ngay sang người kế vị dù đấy chỉ là một kẻ rất tầm thường.

Ở đây xảy ra hiện tượng mà M. Weber gọi là "chính thức hoá và phi cá nhân hoá" tính chất thần thánh của lãnh tụ, nghĩa là tự động chuyển những tính chất siêu phàm và uy tín đặc biệt của lãnh tụ sang cho người kế nhiệm. Theo Weber tính chất thần thánh của lãnh tụ đã được "chính thức hoá", nghĩa là gắn kết với một chức vụ nhất định và lập tức chuyển sang cho người nắm vị trí đó không phụ thuộc vào phẩm chất cá nhân của hắn.

Hiện tượng này chỉ có thể quan sát được trong các chế độ cộng sản vì chúng tồn tại trong một thời gian dài (so với chế độ phát xít).

Việc sùng bái người lãnh đạo mới của đảng xảy ra là vì sau khi lãnh tụ thần thánh chết thì những nhân tố tạo nên việc thần thánh hoá đó lại tự động được kích hoạt. Vì vậy đúng ra không nên nói đến tệ sùng bái cá nhân lãnh tụ toàn trị vì cá nhân không có vai trò quan trọng mà phải nói đấy là tệ sùng bái cái ghế, nghĩa là sùng bái chức vụ, sùng bái địa vị của người lãnh đạo đảng.

"Tại sao lại gọi việc thần thánh hoá đó bằng một từ rất tù mù là sùng bái cá nhân?", V.A. Antonov-Ovseenko viết. "Sùng bái quyền lực, sùng bái cái ghế của bí thư thứ nhất - gần với sự thật hơn".


III. Cơ cấu của đảng toàn trị – cơ cấu của nhà nước toàn trị

Các nguyên tắc lãnh đạo đảng được Lenin chuyển thành nguyên tắc quản lí nhà nước. "Mục đích được Lenin theo đuổi một cách nhất quán", N. A. Berdiaev đã viết, "là tạo ra một đảng mạnh, một thiểu số có tổ chức và kỉ luật sắt, dựa trên thế giới quan mác-xít cách mạng hoàn chỉnh. Đảng phải có một chủ thuyết trong đó mọi điều đều đã hoàn thiện và đảng phải chuẩn bị để quản lí toàn diện xã hội. Bản thân đảng là một tổ chức cực kì tập trung nghĩa là một nền chuyên chế trong một không gian hẹp. Mỗi đảng viên phải khuất phục chế độ chuyên chế của trung ương. Đảng Bolsevich do Lenin thành lập trong nhiều năm trời phải đóng vai trò mô hình tổ chức cho cả nước Nga trong tương lai. Nước Nga quả thật đã được tổ chức theo mô hình tổ chức của đảng Bolsevich. Tất cả nước Nga, toàn thể dân tộc Nga phải chịu khuất phục không chỉ chế độ chuyên chế của đảng cộng sản, ban chấp hành trung ương của nó mà còn phải khuất phục, cả trong tư tưởng, cả trong tâm hồn, học thuyết của nền độc tài cộng sản. Lenin phủ nhận tự do trong nội bộ đảng và sự phủ nhận này được chuyển sang cho toàn thể nước Nga".

Đấy chính là nền chuyên chế của một thế giới quan mà Lenin đã chuẩn bị.

Như vậy nghĩa là đảng toàn trị ngay từ trước khi chiếm được chính quyền đã thai nghén trong lòng nó hệ thống chính trị của chế độ toàn trị, chế độ sinh hoạt đảng báo trước chế độ chính trị mà nó thiết lập, đảng toàn trị là phôi thai, là "hạt mầm" nảy nở ra nhà nước toàn trị.

Tất cả các tổ chức còn lại trong chế độ toàn trị (thanh niên, công đoàn, thể thao…) trên thực tế chỉ còn là những chi nhánh của đảng độc quyền, đảng dùng những tổ chức này để kiểm soát tư tưởng và hành vi của những người không phải là đảng viên.

Xã hội toàn trị được T. Riga gọi một cách chính xác là xã hội của chỉ một tổ chức. Đó là một xã hội không có những tổ chức tồn tại một cách độc lập.

Những tổ chức tồn tại trong xã hội chỉ là các công cụ của bộ máy quan liêu của đảng, là những mắt xích trung gian giữa đảng và quần chúng.

Tất cả các tổ chức đó (trong chế độ toàn trị "toàn hảo" mọi người dân đều phải tham gia vào một hoặc nhiều tổ chức nào đó) thực ra chỉ là những bộ phận của một tổ chức to lớn duy nhất do bộ máy của đảng quản lí.

Như vậy nghĩa là trong xã hội toàn trị, một mặt là một đám đông vô tổ chức vì mọi liên kết theo chiều ngang giữa các cá nhân bị phá vỡ, nhân dân bị biến thành đám đông ô hợp của những cá nhân hạt nhân hoá; mặt khác lại được tổ chức theo chiều dọc vì tất cả mọi cá nhân đều phải tham gia vào một tổ chức xã hội có tính chính thức nào đó. Xuất hiện một tổ chức kết cấu vững chắc theo chiều dọc, nhưng các thành phần cấu tạo nên tổ chức đó chỉ làm nhiệm vụ kiểm soát dân chúng chứ không thể hiện quyền lợi và cũng không bảo vệ các thành viên của mình.

Độc đảng (chuyên chính của một đảng) nhất định sẽ dẫn tới độc quyền tư tưởng (một hệ tưởng chính thức buộc mọi người phải công nhận và xâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống con người). Hệ tư tưởng toàn trị trước hết là phương tiện loè bịp quần chúng và củng cố quyền lực của bộ máy đảng. Hệ tư tưởng toàn trị có thể được định nghĩa như là "nhận thức sai lạc", phản ánh chủ yếu quyền lợi vật chất của tầng lớp nắm quyền lực chính trị và xuyên tạc các mối quan hệ xã hội, che dấu bản chất thật sự của chính xã hội đó.

Chính tầng lớp chóp bu nắm quyền đứng trên học thuyết của mình và chẳng có mối quan hệ gì với nó cả. Như H. Rauschning, một chiến hữu của Hitler, sau này chạy sang Mĩ vì thất vọng với chủ nghĩa phát xít đã nói: "Học thuyết là để dành cho quần chúng… Nó là phương tiện nô dịch quần chúng. Giới tinh hoa đứng trên học thuyết. Giới tinh hoa sử dụng nó để thực hiện tham vọng của mình". Tất cả các lãnh tụ toàn trị đều biết (hay chí ít cũng đoán được) rằng tất cả các phong trào quần chúng đều cần huyền thoại, huyền thoại là để nô dịch quần chúng. Trong một bài nói chuyện, Mussolini đã phát biểu về quan hệ của lãnh tụ toàn trị và tầng lớp ưu tú đối với hệ tư tưởng (huyền thoại) mà nó tuyên truyền như sau: "Chúng tôi tạo ra huyền thoại; huyền thoại là niềm tin, là lòng nhiệt tình; nó không phải là hiện thực, nó là động lực và hi vọng, là niềm tin và lòng dũng cảm".

“Lãnh tụ đứng đầu phong trào biết rõ”, Karl Mannheim đã viết, “rằng tất cả các tư tưởng chính trị và lịch sử chỉ là huyền thoại. Ông ta tránh được tác động của những tư tưởng đó, nhưng ông ta đánh giá cao chúng... vì chúng... kích động lòng nhiệt tình, khởi động những tình cảm... những tầng tâm thức phi lí trong con người và chính những tầng này đưa người ta đến những hành động chính trị”.

Hành động của các viên chức quan liêu của đảng thường thường không được quyết định bởi hệ tư tưởng chính thức mà được quyết định bởi ước muốn củng cố và mở rộng quyền hành của mình.

Như vậy nghĩa là trong chế độ toàn trị dường như cùng một lúc tồn tại hai hệ tư tưởng. Một là hệ thống giá trị dành cho bộ máy lãnh đạo chính trị và thứ hai là để dành cho toàn bộ quần chúng còn lại.


IV. Công tác tư tưởng trong nhà nước toàn trị

Trong chế độ toàn trị công tác tư tưởng thực hiện một số chức năng sau:


Chức năng chính, chức năng chủ yếu là hợp thức hoá chế độ hiện thời. Công tác tư tưởng phải thường xuyên biện giải cho việc nắm quyền của đảng và lãnh tụ. Tán dương quá khứ, vẽ ra tương lai tươi sáng mà đảng và lãnh tụ đang toàn tâm toàn ý xây dựng.

Tuyên truyền cả những qui luật (lịch sử và sinh học) nhờ đó mà dường như chế độ hiện hành nhất định sẽ chiến thắng.

Hòn đá tảng trong hệ tư tưởng toàn trị là lời khẳng định rằng chế độ xã hội hiện thời được thiết lập là do nhu cầu tất yếu của lịch sử và tự nhiên. Trong trường hợp chủ nghĩa cộng sản thì đấy là chiến thắng tất yếu của giai cấp vô sản đối với giai cấp tư sản và chế độ xã hội chủ nghĩa nhất định sẽ thành công.

Trong trường hợp chủ nghĩa phát xít thì đấy là khẳng định rằng động lực của lịch sử là cuộc đấu tranh giữa các dân tộc và các giống người, trong cuộc đấu tranh đó sẽ diễn ra quá trình chọn lọc tự nhiên, mạnh được yếu thua.

Theo đó chủ nghĩa toàn trị xuất hiện là do nhu cầu của lịch sử (chủ nghĩa cộng sản) hay nhu cầu sinh học (chủ nghĩa phát xít). Nó chỉ thực hiện ý chí của lịch sử hay tự nhiên khi tiến hành tiêu diệt "các giai cấp bóc lột" hay các "chủng tộc hạ đẳng" vì một chế độ hoàn thiện hơn mà thôi.


Chức năng thứ hai là động viên quần chúng thực hiện các nhiệm cụ do chế độ đặt ra. Chế độ toàn trị cố gắng giữ cho quần chúng luôn ở trong tình trạng khích động vì khi tình trạng căng thẳng xã hội giảm thì sẽ xuất hiện vấn đề tự do chính trị. Vì vậy chế độ toàn trị luôn luôn giữ vững và hướng dẫn tính tích cực của quần chúng, bằng cách tìm ra những kẻ thù mới, chuẩn bị chiến tranh hay các phong trào, có khi là phong trào thực hiện những kế hoạch kinh tế vĩ đại. Việc động viên quần chúng dĩ nhiên là được thực hiện từ trên xuống bằng biện pháp cưỡng ép hoặc lừa mị về tư tưởng.


Chức năng thứ ba, có thể gọi theo Aleksandr L’vovich Shapiro, là "làm tê liệt về đạo đức". Để có thể biến một người được giáo dục theo tinh thần Cơ đốc giáo thành công cụ trong tay chế độ toàn trị nhằm buộc anh ta thực hiện các kế hoạch tội lỗi của chế độ thì cần phải cung cấp cho anh ta một tập hợp các tiêu chuẩn đạo đức, hay các điều răn mới (theo Hannah Arendt thì điều răn đầu tiên là: "Ngươi phải giết").

Hệ tư tưởng toàn trị gần giống với tôn giáo, nó có xu hướng không chỉ cải biến hiện thực khách quan mà cải biến cả bản chất con người, nó cung cấp cho người ta những nguyên tắc đạo đức và giá trị mới, sau khi đã tiếp thu những giá trị này thì công dân của nhà nước toàn trị không hề cảm thấy lương tâm dằn vặt khi thực hiện những tội ác mà nhà nước toàn trị giao cho nữa.

Từ đó có thể thấy rằng hệ tư tưởng toàn trị làm cho người ta không còn cảm thấy kinh tởm những hành động tội ác của chính quyền hay của chính mình thực hiện nữa. Tư tưởng này biện hộ cho mọi hành động dã man được thi hành nhằm chống lại kẻ thù.

Như vậy nghĩa là việc tách nhà thờ khỏi nhà nước chỉ để che đậy việc hợp nhất nhà nước với nhà thờ kiểu khác, đấy chính là đảng toàn trị giả tôn giáo. Đảng này trang bị cho mình hệ tư tưởng, giống như một giáo lí trên cơ sở những quan niệm về trạng thái toàn thiện toàn mĩ cuối cùng của xã hội mà loài người sẽ đạt đến bằng cách cải tạo triệt để xã hội hiện tại.

Stalin từng tuyên bố: "Chủ nghĩa Marx là tôn giáo của giai cấp, là biểu tượng của đức tin". Hitler cũng cho rằng "giáo lí của nhà thờ đóng vai trò thế nào đối với đức tin thì nguyên tắc đảng cũng có vai trò như thế đối với một đảng chính trị kiểu mới". Còn cương lĩnh của đảng là: "biểu tượng chính trị của niềm tin". Hệ tư tưởng toàn trị đã "trở thành một cái gì đó giống như tôn giáo của nhà nước với những giáo lí đặc biệt, những cuốn kinh, những vị thánh, những tông đồ, những vị thánh sống (lãnh tụ, Führer, v.v.) và các buổi lễ trọng…"

Hệ tư tưởng toàn trị biện hộ cho tham vọng giải quyết được mọi vấn đề vì nó chính là chân lí cuối cùng. Nhưng rõ ràng rằng khi tuyên bố là chân lí tuyệt đối trong chính trị, nó đã tiêu diệt tính đa nguyên của các quan điểm, tiêu diệt tự do lựa chọn. Tuyên bố chân lí tuyệt đối trong chính trị nhất định sẽ dẫn đến phủ nhận tự do, phủ nhận dân chủ. Louis de Saint-Just, một lãnh tụ phái tiền-toàn trị Jacobin, từng tuyên bố rằng: "Dưới chế độ… dựa trên chân lí tuyệt đối… mọi đảng phái và mọi phe phái đều là những hiện tượng lỗi thời đáng chê trách". Chính vì vậy mà hệ tư tưởng toàn trị có thái độ hoàn toàn bất dung đối với mọi trào lưu tư tưởng, mọi quan điểm khác với nó và thái độ bất dung này ngấm vào toàn bộ hệ thống chính trị. "Thế giới quan chân chính", Hitler viết trong cuốn Cuộc đấu tranh của tôi (Mein Kampf), "bất dung và không chấp nhận vai trò "đảng giữa các đảng"; nó đòi một sự sự công nhận vô điều kiện và tuyệt đối và đòi hỏi rằng toàn bộ đời sống xã hội phải được xây dựng trên cơ sở những chỉ dẫn của nó. Một thế giới quan nhất quán vì vậy không thể dung hoà với những người tiếp tục bảo vệ trật tự cũ".

Mọi phương tiện thông tin:
báo chí, đài phát thanh, phim ảnh đều được sử dụng cho mục đích tuyên truyền; văn học nghệ thuật cũng không thoát. Viêc nhồi sọ được thực hiện trong hệ thống giáo dục (có thể nói rằng chế độ toàn trị xoá dần ranh giới giữa giáo dục và tuyên truyền), trong các tổ chức chính thức mà trước hết là tổ chức của thanh thiếu niên. Vì bộ máy đảng-nhà nước kiểm soát toàn bộ các phương tiện thông tin đại chúng, các tổ chức xã hội và hệ thống giáo dục nên có thể nói hoạt động tuyên truyền thấm sâu và bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Hoạt động tuyên truyền được lãnh đạo và phối hợp từ một trung tâm duy nhất, ở Liên Xô thì đấy là một Ban trực thuộc Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Liên Xô, ở Đức thì đấy là Bộ giáo dục và tuyên truyền.


V. Đàn áp – một công cụ của chế độ toàn trị

Chế độ dựa trên sự độc quyền, độc đảng, độc tôn tư tưởng còn cần cả hệ thống đàn áp để loại bỏ các đối thủ chính trị.

Cảnh sát mật do đảng thành lập có thể tiến hành thủ tiêu từng đối thủ riêng lẻ cũng như từng nhóm xã hội, thậm chí cả các dân tộc mà chế độ toàn trị muốn thủ tiêu.

Sau đó, như chủ nghĩa Stalin đã cho thấy, cảnh sát mật có thể được lãnh tụ đảng sử dụng để tiêu diệt tận gốc các nhóm đối lập trong nội bộ đảng cũng mọi đối thủ của đảng cầm quyền. Việc đàn áp kẻ thù của chế độ có thể được thực hiện bên ngoài cũng như bên trong các cơ quan tư pháp, mà chính các cơ quan này lại nằm dưới quyền kiểm soát toàn diện của đảng và cảnh sát mật. Người ta đã lập ra cả một hệ thống các trại tập trung để cách li các đối thủ chính trị. Việc đàn áp về mặt thể xác là đặc trưng của thời kì đầu của các chế độ toàn trị. Khi các nhóm đối lập trong xã hội cũng như trong đảng đã bị dẹp tan thì việc đàn áp dã man về thể xác, như trong trường hợp Liên Xô đã cho thấy, có thể giảm đi và lùi lại phía sau, nhường chỗ cho đàn áp về mặt tinh thần.

Đặc điểm của chế độ toàn trị cũng như việc đàn áp của nó là trong chế độ toàn trị đàn áp về thể xác và tinh thần trở thành công cụ quản lí cũng như các công cụ quản lí khác đều nằm trong tay bộ máy quan liêu của đảng.


VI. Bầu cử trong chế độ toàn trị

Hệ thống chính trị của chế độ toàn trị còn có một số đặc trưng nữa. Trước hết đấy là việc hợp thức hoá chế độ.

Chế độ toàn trị luôn luôn dựa vào sự công nhận của quần chúng đối với tính chất hợp pháp của mình (bầu cử toàn dân). Về mặt hình thức, trong chế độ toàn trị vẫn có quốc hội và các cuộc bầu cử, nhưng các cuộc "bầu bán" này đã được ấn định sẵn, chỉ là một trò hề không hơn không kém.

Các ứng viên đã được bộ máy của đảng toàn trị cầm quyền chọn sẵn và chỉ những người được bộ máy ấy thông qua mới được đưa vào danh sách. Kết quả các cuộc "bầu bán" ấy đã được định đoạt từ trước và không thể có tí bất ngờ nào. Luôn luôn có 99% cử tri tham gia và đảng cầm quyền bao giờ cũng thu được trên 99% số phiếu bầu.

Kết quả các cuộc bầu cử phải luôn luôn chứng tỏ "sự thống nhất không gì lay chuyển nổi" giữa đảng và nhân dân. Việc không tham gia bầu cử có thể bị coi là hành động chống đối chế độ.

Nhà cầm quyền cần những cuộc bầu cử chỉ mang tính hình thức này là để chứng tỏ rằng trong chế độ toàn trị, cũng như trong các chế độ dân chủ thực sự, chính quyền là do dân, quần chúng ủng hộ đảng đương quyền, không có đối lập chính trị, nghĩa là không có nhu cầu phải có đảng đối lập. Điều này không chỉ để tác động đến dư luận xã hội trong các nước dân chủ mà còn có tác dụng tuyên truyền trong nước nữa.

Ngoài ra, việc quần chúng tham gia vào các cuộc bầu cử, việc ủng hộ chế độ và các tội ác do nó tiến hành ở một khía cạnh nào đó đã biến tất cả mọi người đều là đồng phạm của các tội ác do chế độ thực hiện, tội lỗi được chia đều cho tất cả mọi người.

Chế độ toàn trị dĩ nhiên rất quan tâm đến việc trút trách nhiệm về đường lối chính trị mà nhóm chóp bu của đảng thực hiện sang cho tất cả các công dân, việc gán ghép tội lỗi cho tất cả mọi người, làm cho mọi người đều là đồng phạm chính là cơ sở tâm lí của lòng trung thành đối với chế độ toàn trị.

Ngoài việc tham gia "bầu cử" việc hợp thức hoá còn được thực hiện dưới những hình thức khác như: tham gia vào các cuộc mít tinh, biểu tình, các cuộc "thảo luận toàn dân" (dưới sự kiểm soát của đảng) các tài liệu từ bên trên đưa xuống, v.v.


VII. Nhóm đầu sỏ trong đảng

Một đặc điểm nữa của hệ thống chính trị trong chế độ toàn trị là việc hợp nhất cả ba nhánh chính quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp vào tay nhà độc tài và nhóm ưu tú của đảng.

Nhóm đầu sỏ đương quyền của đảng tự chọn ra thành phần của quốc hội giả hiệu (lập pháp) ủng hộ mọi việc làm và thông qua mọi điều luật mà bộ máy quan liêu của đảng cần.

Bộ máy lãnh đạo chính trị quan liêu của đảng chuyển các ý nguyện của mình thành các nghị quyết, nghị định của chính phủ, một chính phủ cũng gồm toàn các quan chức ao cấp của đảng. Đảng cũng kiểm soát công tác của toà án, nhiều khi đảng viết sẵn cho các quan toà các bản án, đấy là nói khi đảng cảm thấy cần có toà án.

"Như vậy nghĩa là ba nhánh quyền lực chỉ là những mắt xích… của đảng, giống như các tổ chức của đảng."

Một đặc điểm nữa của chế độ toàn trị là việc bất bình đẳng giữa các công dân trước pháp luật và toà án, các công dân bị kì thị vì quan điểm chính trị, vì thành phần và dân tộc xuất thân của người đó nữa.

Việc kì thị trong chế độ toàn trị - theo cách nói rất chính xác của ông S. Milhaun-Delsol, một nhà nghiên cứu chính trị học người Pháp - là do người ta "viện cớ rằng một số người xứng đáng với giống người hơn là một số khác". Nếu các cuộc cách mạng giải phóng (cách mạng của các xã hội dân sự) tuyên cáo quyền bình đẳng giữa các công dân trước pháp luật thì cách mạng Bolsevich tuyên cáo sự bất bình đẳng và tước quyền công dân của "những kẻ bóc lột". Ngay trong Hiến pháp đầu tiên được ban bố năm 1918 đã nói rằng những người sống "không phải bằng lao động", những người buôn bán, các doanh nhân, giới tăng lữ bị tước tất cả các quyền công dân.

Không chỉ người chủ mà tất cả các thành của gia đình tước hết quyền y như thế. Cho đến giữa những năm 30 của thế kỉ trước những người có nguồn gốc "tư sản" vẫn không được vào đại học, không được tham gia công đoàn, "gốc gác tư sản" còn bị hạn chế trong việc lựa chọn nghề nghiệp nữa.

Tương tự như vậy, luật pháp của nước Đức phát xít được thông qua ở Nürnberg năm 1935 cũng tước quyền công dân của người Do Thái. Trong những năm sau đó nhà nước Đức đã thông qua 13 nghị định, thực chất là đặt người Do Thái ra ngoài vòng pháp luật. Người Do Thái bị cấm làm nhiều nghề, cấm kết hôn người Đức, v.v.

Như vậy là chế độ toàn trị giết chết sự năng động của những người có nguồn gốc giai cấp (chế độ cộng sản) hay chủng tộc (chế độ phát xít) "không thích hợp".

Trong các chế độ có ý định tiêu diệt "những giai cấp phản động" hay "các chủng tộc" hạ đẳng thì nói đến vấn đề bình đẳng trước pháp luật là thừa. Toà án bị bộ máy đảng và bộ máy đàn áp kiểm soát một cách toàn diện và triệt để, toà án chỉ có mỗi một việc là thi hành chỉ thị của đảng mà thôi, năm 1921 Lenin đã từng tuyên bố: "toà án của chúng ta mang tính giai cấp, chống lại bọn tư bản".

Như vậy là trong chế độ toàn trị không có chuyện bình đẳng của tất cả các công dân trước pháp luật và toà án, không có chuyện nhà nước đối xử một cách bình đẳng với các công dân (không phụ thuộc vào nguồn gốc xã hội, tôn giáo, chủng tộc, quan điểm chính trị…), mà đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của nhà nước pháp quyền. Ngược lại, có thể nói đã có sự kì thị, thậm chí giết hại những người thuộc thành phần "tư sản" (chế độ cộng sản) hay chủng tộc "hạ đẳng" (chế độ phát xít).

Trong khi đó thành phần lãnh đạo và lãnh tụ của các chế độ toàn trị lại đứng trên và đứng ngoài pháp luật. Pháp luật nhà nước không có hiệu lực đối với đảng và các đảng viên. Điều đó có nghĩa là nhà nước đảng trị hành động một cách phi pháp (vì không có một khung pháp lí tối thượng áp dụng cho cả người cai trị và kẻ bị trị). Nếu chưa bị khai trừ thì đảng viên đảng toàn trị không thể bị đưa ra toà, không thể bị kết án. Quyền lực của lãnh tụ và nhóm đầu sỏ cầm quyền là vô giới hạn vì không có lực lượng nào có thể ngăn cản, có thể buộc họ phải tuân thủ pháp luật cả.


© 2004 talawas
Nguồn: http://www.zhurnal.lib.ru/k/kuznecova_n/polis.shtml , đăng ngày 17.03.2004
---
- Công nhân và cánh tả trên toàn thế giới: Báo cáo mật của cs Nga “ Về tệ sùng bái cá nhân và những hậu quả của nó " : Tiếng Việt (pdf)
- Từ Độc Tài đến Dân Chủ (From Dictatorship to Democracy, Vietnamese) Quý vị có thể download xuống tài liệu này (You may download this publication.)
- Hồi ký - truyện ngắn - biên khảo

Cảm nhận của giới trẻ ngày nay về lãnh tụ Hồ Chí Minh

Cảm nhận của giới trẻ ngày nay về lãnh tụ Hồ Chí Minh (phần cuối)
2007.07.04
Trà Mi, phóng viên đài RFA

Trà Mi hân hạnh được tái ngộ cùng quý vị và các bạn đang đến với chuyên mục “Diễn đàn bạn trẻ”, nhịp cầu thảo luận-giao lưu của thanh niên, phát thanh sáng thứ tư hàng tuần.
Bấm vào đây để nghe cuộc hội luận này
Tải xuống để nghe

Ông Hồ Chí Minh lúc sinh thời. AFP PHOTO

Cuộc trao đổi giữa 5 bạn trẻ trong và ngoài nước trên “Diễn đàn” mấy tuần gần đây đã thu hút được sự quan tâm, chú ý của bạn nghe đài khắp nơi, vì nội dung tranh luận sôi nổi cùng những ý kiến đối lập của các bạn thanh niên về lãnh tụ Hồ Chí Minh và những chính sách Hồ Chủ Tịch và Đảng cộng sản cho áp dụng trên quê hương Việt Nam.
Trong câu chuyện tuần trước, khi tranh cãi về những nguồn tin xoay quanh sự kiện liệu Hồ Chủ Tịch có được UNESCO công nhận là danh nhân văn hoá thế giới hay chưa, các bạn sinh viên khoa Sử ở Bình Thuận, Quảng Ngãi, Nghệ An là Trang, Thanh, và Phương, khẳng định rằng việc này đã xảy ra.

Ngược lại, bạn Thanh ở Sài Gòn phủ nhận điều đó bằng những nguồn tin đa chiều từ bên ngoài mà bạn có dịp được tìm hiểu và cho là rất đáng thuyết phục. Trong đó có một chi tiết đặc biệt đáng chú ý mà, theo Thanh, nếu được nêu lên, chính những người không đồng tình như các bạn sinh viên khoa sử cũng sẽ không trả lời được. Chi tiết đó là là gì? Mời quý vị theo dõi trong phần thảo luận hôm nay:

Thanh: Đó là khi nói UNESCO công nhận Bác Hồ là danh nhân văn hoá thế giới thì dựa trên điều nào, nghị quyết nào? Bởi vì tất cả các nghị quyết của Liên hiệp quốc đều được đánh số bằng văn bản hết. Chưa bao giờ các cơ quan ngôn luận tại Việt Nam đưa ra được điều họ nói dựa trên nghị quyết nào của UNESCO. Trong khi đó, những bằng chứng ngược lại thì quá đầy đủ chi tiết, kể rằng đại sứ quán Việt Nam ở Paris…
Sinh viên Phương: Như vậy theo bạn, việc HCM là danh nhân văn hoá thế giới là chỉ do Việt Nam công nhận thôi mà thế giới không hề công nhận như thế phải không?

Thanh: UNESCO không hề có một văn bản hay nghị quyết nào công nhận Hồ chủ tịch của Việt Nam là danh nhân văn hoá thế giới cả. Điều đó đã được chính mình đi tìm hiểu sự thật. Mình không muốn nghe bất kỳ ai kể cả những người trong nước hay ở hải ngoại.
Mình viết thư trực tiếp đến UNESCO và được trả lời bằng tiếng Anh rằng “rất tiếc chưa có một văn bản nào của cơ quan chúng tôi công nhận Hồ chủ tịch là danh nhân văn hoá thế giới”. Các bạn nghĩ như thế nào? Có thuyết phục không? Bởi vì chính mình phải đi tìm sự thật chứ mình đâu nghe ai nói đâu.

Sau đó thì mình mới bắt đầu đi tìm hiểu các tài liệu xem vì sao lại không được công nhận, và mình mới phát hiện ra là do cộng đồng người Việt và rất nhiều người nước khác chứ không riêng gì người Việt đã phản đối kịch liệt, đưa ra những bằng chứng tội ác mà Hồ chủ tịch đã gây ra cho dân tộc thì UNESCO được thuyết phục và không công nhận.

Lúc đó, đại sứ quán Việt Nam tại Paris đã phải cuống cuồng tìm mướn 1 cái phòng của UNESCO để tổ chức. Chính UNESCO đã không cho đại sứ quán Việt Nam lấy logo của tổ chức này in trên vé mời, tức không được mượn danh của UNESCO để mời.
Rốt cuộc, buổi lễ gọi là công nhận Hồ chủ tịch trở thành danh nhân văn hoá thế giới chỉ có Việt Nam tiến hành thôi, UNESCO đâu có tiến hành. Và chỉ có 70 tham dự, trong đó 60 người là ngoại giao đoàn của Việt Nam cùng các đoàn văn công ở Việt Nam sang, 10 người còn lại là do Đảng cộng sản Pháp cử đi.

Đó chính là sự thật. Nếu các bạn không nghe những thông tin này thì các bạn hãy đi tìm trên net, phải tự mình đi tìm sự thật. Chính mình đã trực tiếp hỏi UNESCO thì điều đó không thể sai được, không thể nào nói là do “bọn phản động” nào viết trên mạng mà mình tin. Sao các bạn có thấy những gì đã kiểm duyệt ở Việt Nam là đúng sự thật không?
Theo như các bạn nói thì những gì đã in ấn ở Việt Nam đều là sự thật cả vì đã qua kiểm duyệt rồi. Các bạn có thấy sự kiểm duyệt tai hại như thế nào chưa? Các bạn phải suy nghĩ. Nếu đầu các bạn luôn luôn đặt dấu hỏi thì các bạn mới tìm ra sự thật. Còn những gì các bạn nghe chưa chắc là sự thật.

Sinh viên Phương: Để mình nói nhé. Hồi nãy có một bạn nói rằng những gì sách vở ở Việt Nam ghi đều là sự thật. Đó là ý kiến riêng của bạn ấy. Còn ý kiến của mình là không phải những gì ghi trong sách vở đều là đúng hết, nhưng đối với trường hợp của HCM thì mình nghĩ người vẫn là một danh nhân văn hoá và được thế giới công nhận. Hiện tại mình chưa đi tìm hiểu những điều bạn nói nên mình chưa biết được.
Mình sẽ trả lời bạn sau trong một buổi nói chuyện nào đó sẽ nói rõ. Nhưng mình nghĩ rằng vấn đề HCM là một danh nhân văn hoá hay không thì cả thế giới có nhiều người biết về người, tiếp xúc và giao lưu với người đều có thể công nhận người là một con người như thế nào rồi. Bạn chắc chắn cũng đã đọc được những thông tin đó rồi phải không?

Thanh: Không, cho mình nói như vầy. Cái vấn đề ở đây không phải là có nhiều người yêu mến chủ tịch HCM thì đương nhiên UNESCO công nhận. Vấn đề ở đây mình nói lên sự dối trá của truyền thông ở Việt Nam. Đó là không được công nhận mà vẫn tuyên truyền là được công nhận. Dĩ nhiên có rất nhiều người trên thế giới này yêu mến HCM, nhưng cũng có rất nhiều người căm thù.

Sinh viên Trang: Bạn ở Việt Nam tại sao bạn lại không lên tiếng phản đối, không lên tiếng nói với báo chí rằng đó là điều sai sự thật? Bạn sợ nói ra sự thật thì bị đàn áp phải không? Bạn sợ như vậy nên bạn không dám nói nên giờ bạn phải mượn tiếng nói của nước ngoài?

Thanh: Không, mình nghĩ như vầy này. Tại sao mà người ta không dám nói? Bởi vì người ta hèn nhát, đúng không? Nhưng tại sao người Việt Nam mình hèn như vậy? Tại sao không dám nói? Đó là bởi vì bị đàn áp. Mà tại sao đã gọi là dân chủ, là tự do mà người dân lại sợ như vậy? Các bạn phải tự hiểu được, chuyện đó rất đơn giản thôi.

Trà Mi: Các bạn sinh viên Phương, Thanh, và Trang cũng có công nhận là những điều lịch sử ghi chép có mang tính thần tượng hoá, không đúng xác thực. Vậy thì theo ý các bạn liệu sử sách có cần phải xem xét lại để phản ảnh một cách trung thực, khách quan tất cả những sự kiện và nhân vật thuộc về lịch sử hay không?

Sinh viên Phương: Theo em, đúng là lịch sử thì không nên thần thánh hoá hết tất cả. Mình phải nêu những mặt tốt và những mặt xấu để mình không thể chỉ nhìn thấy những mặt tốt mà nghĩ là đất nước đã phát triển, không nhìn thấy những mặt xấu để sửa chữa những sai lầm. Lịch sử nếu mà cứ thần thánh hoá quá thì thế hệ về sau cảm thấy đã tốt đẹp rồi, cứ sống ỷ lại và cứ đi theo như thế thì cũng sẽ sai lầm và không thể tốt đẹp thêm được.
Bạn nghĩ gì về con người, cuộc đời và sự nghiệp của ông Hồ Chí Minh? Hãy gửi đến Ban Việt Ngữ ý kiến của bạn. email: vietweb@rfa.org

Trà Mi: Cảm ơn ý kiến của Phương. Thế còn Thanh và Trang, các bạn có ý kiến nào khác muốn bổ sung thêm?

Sinh viên Thanh: Tụi em cũng đồng ý kiến như vậy.

Trà Mi: Xin mời ý kiến của anh Thanh.

Thanh: Dĩ nhiên chứ. Tại sao mình biết nó sai mà mình lại không tìm đến sự thật? Phải như sự thật khó tìm lắm hay sao, mà sự thật nó hiện còn lưu trữ ở khắp nơi, mình có thể sưu tầm để biết được cái nào chính xác hay không. Tại sao lại cấm người ta, không cho người ta tìm hiểu sự thật? Như vậy là có ý đồ gì đấy. Tại sao người ta không được quyền tìm hiểu về thân thế của HCM?

Trà Mi: Nếu như có lập luận cho rằng những sự thật đó chưa phù hợp, chưa có lợi trong thời điểm đó cho nên tạm thời phải “bỏ quên” đi thì phản hồi của anh như thế nào?

Thanh: Ai biết được cái đó không phù hợp với lợi ích của ai? Lợi ích của dân tộc hay của một số người nào đấy? Và ai quyết định được chuyện đó là không phù hợp với lợi ích của dân tộc? Cho nên nếu nói như vậy thì hoàn toàn hồ đồ. Có đưa ra được cuộc trưng cầu dân ý nào hay không? Chưa bao giờ có, thì làm sao biết được những sự thật đó là có hại hay có lợi?
Hơn nữa trong lịch sử người ta không phân biệt là có lợi hay có hại. Người viết sử cần phải viết khách quan, có sao viết vậy, chứ làm sao lại đi thần thánh hoá lãnh tụ? Ai cũng biết là ông Hồ có vợ, nhiều vợ chứ không phải một vợ nữa, ở Nga cũng có, bên Trung Quốc cũng có, ở Việt Nam thì ít nhất cũng 2 người.
Nói chung những điều đó mặc dù Đảng không muốn đề cập đến nhưng nhân dân vẫn biết. Như vậy thì nó hoàn toàn phản tác dụng. Bởi vì nếu anh càng cấm thì người ta càng cho rằng những điều đó mới là đúng đó, còn những gì đảng đưa ra mới là sai. Nếu anh công nhận những thông tin đó thì người ta ít nhiều cũng nghĩ rằng những thông tin đảng đưa ra bây giờ có thể tin được.

Trà Mi: Ý kiến của anh là sự thật vẫn cứ là sự thật, cứ trưng bày ra cho mọi người xem xét, và sự phán xét cuối cùng thuộc về người dân, phải không?

Thanh: Dạ, mà không những vậy, lịch sử cần phải tôn trọng sự thật, chứ không nói là lợi ích cho ai hết. Những nhà sử học nghiên cứu lịch sử mà có một cái dao kề ngay cổ bắt buộc phải viết theo một luận điểm nào đó thì cái đó không phải là sự thật nữa rồi.

Trà Mi: Cảm ơn anh Thanh.

Sinh viên Trang: Môi trường tiếp xúc của mỗi người khác nhau, nhưng ý kiến của anh Thanh quá ư là đối lập mà…

Trà Mi: Dĩ nhiên là mình ghi nhận hết tất cả các ý kiến. Mình không nói ai đúng, ai sai. Mình chỉ tạo điều kiện cho các bạn bày tỏ quan điểm mà thôi. Mình không thể nói là Trang đúng hoặc là anh Thanh sai. Cho nên là vẫn tôn trọng tất cả các ý kiến và cảm ơn các bạn rất nhiều đã dành thời gian đóng góp những suy nghĩ của mình với chương trình.

Sinh viên Trang: Chúng em cũng mong là sẽ có những cuộc tranh luận về những chủ đề khác nữa, để được học hỏi thêm, để biết được thêm những thông tin từ bên ngoài.
(Xin mời theo dõi toàn bộ nội dung trong phần âm thanh bên trên)

“Diễn đàn bạn trẻ” mong tiếp tục nhận được ý kiến đóng góp và sự tham gia của quý thính giả khắp nơi qua hộp thư thoại (202) 530 -7775. Từ Việt Nam và các nước khác, xin bấm số 001 trước dãy số (202) 530-7775. Ngoài ra, quý vị cũng có thể email cho Ban Việt Ngữ qua địa chỉ: vietweb@rfa.org. Xin quý vị nhớ để lại số phone để chúng tôi có thể liên lạc và mời qúy vị tham gia vào chương trình.

Đến đây thì Diễn đàn bạn trẻ xin phép được chia tay quý thính giả. Hẹn gặp lại qúy vị và các bạn trong một đề tài mới, sáng thứ tư tuần sau. Trà Mi kính chào.
Tiếng Việt
© 2007 Radio Free Asia
Các tin, bài liên quan
Trao đổi thư tín với thính giả (ngày 14-6-2007)
Tranh luận của giới trẻ về chính sách “đổi mới” và vai trò của đảng CSVN
Cảm nhận của giới trẻ ngày nay về lãnh tụ Hồ Chí Minh (phần 2)
Trao đổi thư tín với thính giả (Ngày 31-5-2007)
Lịch sử Việt Nam qua sách vở, tài liệu của chế độ và thế giới tự do bên ngoài
Nhân vật Hồ Chí Minh theo nhận định của giới trẻ Việt Nam
Tiếng nói và nguyện vọng của giới trẻ Việt Nam
Tuổi trẻ Việt Nam và những nguyện vọng gởi đến giới lãnh đạo cao cấp
Vì sao phần lớn những người tự ứng cử bị gạt khỏi danh sách ứng viên?
Gửi trang này cho bạn

*
***
*

Cảm nhận của giới trẻ ngày nay về lãnh tụ Hồ Chí Minh (phần 2)
2007.06.06
Trà Mi, phóng viên đài RFA

Kính chào quý vị và các bạn đang đến với chuyên mục “Diễn đàn bạn trẻ”, nhịp cầu thảo luận-giao lưu của thanh niên trong và ngoài nước, phát thanh sáng thứ tư hàng tuần.
Bấm vào đây để nghe cuộc hội luận này
Tải xuống để nghe

Ông Hồ Chí Minh, ông Bùi Bằng Đoàn (thân phụ ông Bùi Tín) trưởng ban Thường Trực Quốc Hội và tướng Võ Nguyên Giáp tại lễ phong quân hàm Đại tướng cho ông Giáp - Việt Bắc - 1948. Hình của ông Bùi Tín.

Với đề tài “Cảm nhận của giới trẻ ngày nay về lãnh tụ Hồ Chí Minh” phát sóng kỳ đầu tiên vào hạ tuần tháng năm vừa qua nhân dịp 117 năm kỷ niệm ngày sinh Hồ Chủ tịch, cuộc thảo luận giữa các bạn trẻ trong và ngoài nước bỗng trở thành tranh luận sôi nổi, không chỉ xoay quanh cảm nghĩ về nhà Cách Mạng Hồ Chí Minh, mà còn bàn về cả các sự kiện lịch sử.

Với những tư tưởng khác biệt giữa 3 sinh viên tìm hiểu lịch sử qua sách vở, tư liệu trong nước là Trang ở Bình Thuận, Phương từ Quảng Ngãi, Thanh ở Nghệ An với 2 bạn có điều kiện tiếp cận với các nguồn thông tin đa chiều, tự do, rộng lớn từ thế giới bên ngoài, là Thanh, một thanh niên đã tốt nghiệp đại học hiện đang làm việc tại miền Nam và Hồng, vừa qua Mỹ du học được 1 năm.

Cuộc hội luận tiến triển ra sao? Quan điểm phía nào sẽ dành ưu thế và thuyết phục hơn? Mời quý vị theo dõi tiếp trong chương trình hôm nay:

Trà Mi: Trong những cuộc thảo luận vừa qua, ý kiến của các bạn có rất nhiều sự khác biệt nên chúng ta đã đi khá xa với chủ đề ban đầu nói về “Cảm nghĩ của thanh niên với nhà lãnh đạo Hồ Chí Minh.

Thanh: Nhưng mà chị ơi những cái đó thực chất có liên hệ đến HCM chứ không phải không, tại vì ông Hồ đã mang chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam.
Sinh viên Phương: Anh Thanh cho em ngắt lời tí. Em cảm thấy mình đã đi quá xa với chủ đề chị Trà Mi đưa ra ban đầu xung quanh cảm nhận về Chủ tịch HCM. Bạn Hồng đưa ra ý kiến rằng có rất nhiều thông tin nói về bác không tốt, và bạn ấy cũng đồng ý với những nguồn thông tin như vậy.

Còn bọn mình nói rằng mình vẫn luôn xem HCM là một nhân vật vĩ đại và luôn tôn thờ chủ tịch HCM, vị cha già của dân tộc mà bọn mình rất kính yêu. Cuộc thảo luận của mình đã đi quá xa, từ Cải cách ruộng đất đến vượt biên. Nói chung mình đưa ra ý kiến như thế này.

Mình đã yêu chuộng chủ tịch HCM thì mình cảm nhận và học được là HCM là một người sáng suốt, những chính sách của bác thì luôn đúng đắn. Còn việc thực hiện nó có nhiều thiếu sót và sai lầm là do những người cấp dưới người ta thực hiện không đúng. Khi nhận ra sai lầm đó thì đã có những sửa đổi và đã thực hiện tốt hơn.

Thần thoại hoá nhân vật?

Trà Mi: Đó là những ý kiến Trang, Thanh, và Phương đã đưa ra. Trước những ý kiến của các bạn như vậy, mình có một câu hỏi như thế này hiện nay đã xuất hiện nhiều nguồn tin kèm theo những bằng chứng từ những người vốn trước đây rất thân cận với HCM, chứng minh rằng những tài liệu và sử sách viết về nhân vật này tại Việt Nam lâu nay có nhiều điều hư cấu, huyền thoại hoá, thần thoại hoá nhân vật này. Ý kiến của các bạn ra sao?

Các bạn có nghĩ rằng những gì trong sách vở nhà trường ít nhiều mang tính sùng bái cá nhân HCM hay không?

Du sinh Hồng: Con người không có ai hoàn hảo, nhưng những gì viết về HCM đều là hoàn hảo cho nên mình cảm thấy là chuyện đó không thể nào xảy ra. Các bạn nói rằng những gì xảy ra trong cuộc cải cách ruộng đất năm 1954 không hề liên quan đến bác, và những chính sách bác đưa ra đều đúng, thì tại sao lại có rất nhiều người chết trong cuộc cải cách này.
Hiệp định Geneve mà các bạn được học có thật sự đúng sự thật hay không. Sau hiệp định này, bác vẫn để lại người trong miền Nam để có thể lay chuyển cuộc trưng cầu dân ý. Đó có phải là các chính sách của bác đưa ra hay không? Có phải là chính sách nào của bác đưa ra cũng đúng đắn như các bạn nói hay không?

Trà Mi: Mời ý kiến của các bạn khác.

Sinh viên Thanh: Theo mình, tất nhiên khi người ta đã hâm mộ một ai đó rồi thì người ta thường đưa ra ý kiến chủ quan, và tất nhiên là có thần tượng hoá lên một chút, nhưng thần tượng hoá cũng phải dựa trên những điều có thật. Mình nghĩ sách vở nói về bác dĩ nhiên là dựa vào thực tế rồi mới thần tượng hoá lên đôi chút, đôi khi cũng hơi nói quá.

Trà Mi: Và điều này ảnh hưởng đến niềm tin nơi thế hệ trẻ ra sao? Một nhân vật lịch sử, một sự kiện lịch sử mà lại được thần thoại hoá lên như vậy thì còn mang tính xác thực, trung thực của lịch sử hay không? Nó có ảnh hưởng đến lòng tin của các bạn trẻ nhất là đối với các nhân vật lãnh đạo hay không?

Sinh viên Trang: Mình cho rằng những sự thật người ta thần thoại hoá lên thì cũng không quá đáng lắm.

Thanh: Chính sự thần tượng hoá như vậy dẫn đến rất nhiều tai hại. Thứ nhất, mình sẽ không có sự hiểu biết khách quan, không thấy được con người thật. Mình thần thánh hoá thì lấy gì còn sự thật? Sự thật đã bị che mất rồi. Người ta đã nói là phân nửa của sự thật cũng không phải là sự thật.
Cho nên, những điều mình biết trở thành sai. Nó sai mà mình cứ chấp nhận nó một cách mù quáng như vậy mà không hề đặt dấu chấm hỏi thì óc suy luận của mình sẽ ngày càng bị cùn đi. Việc này rất tai hại.

Bạn nghĩ gì về con người, cuộc đời và sự nghiệp của ông Hồ Chí Minh? Hãy gửi đến Ban Việt Ngữ ý kiến của bạn. email: vietweb@rfa.org

Hiểu biết của mình mà mình chỉ biết chấp nhận những cách suy nghĩ của người khác mà không hề có động não thì đó rõ ràng không phải là phương pháp tìm đến chân lý. Một ví dụ nhỏ, trong sách sử ghi lại bác chết ngày 3/9/1969, theo các bạn điều này đúng hay không?

Du sinh Hồng: Mình nghĩ là bác chết ngày 2/9.

Sinh viên Thanh: Ngày bác chết chính xác là 2/9 mà do ngày đó là ngày quốc khánh, ngày vui của dân tộc thì không thể báo một tin buồn cho nên đảng ta mới chủ trương là dấu tin buồn đó lùi lại một ngày sau ngày quốc khánh. Nhiều năm sau, nhà nước ta đã thay đổi lại và công bố ngày mất thật của bác là 2/9.
Nhưng đến năm nào điều đó mới được sửa lại? Cho đến năm 1989 vẫn chưa được sửa lại. Thế có lý do gì mà mãi đến năm 1989 vẫn chưa sửa? Thứ hai, như vậy rõ ràng những gì đảng đưa ra không phải là chính xác.

Điều này khẳng định là đảng có thể thay đổi bất cứ cái gì trong lịch sử, ngay cả ngày chết của lãnh tụ mà vẫn có khả năng sửa được huống chi những cái khác không sửa được? Có thiếu gì những điều khác đảng cũng cho là bất lợi, đảng cũng dấu đi, thế là bây giờ bạn cũng không biết. Bạn có chắc gì không có những điều đó không?

Đảng cộng sản Việt Nam

Sinh viên Phương: Những điều tốt của đảng đảng có ghi trong sách vở, mình có được học. Còn những điều xấu thì mình cũng đều biết hết. Nói chung mình không biết hết, nhưng có biết sơ qua về một số sai lầm của đảng sau 1954 khi đất nước bước qua thời kỳ xã hội chủ nghĩa, và cách mạng thắng lợi sau 1975 nữa.

Mình biết là đảng có mắc một số sai lầm trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, những điều đó mình cũng họ được trong sách vở. Thế thì không thể nói là đảng dấu những sai lầm của mình.

Thanh: Thế bây giờ cho mình hỏi một chuyện, theo bạn kinh tế thị trường theo xã hội chủ nghĩa là đúng hay không?

Sinh viên Phương: Nền kinh tế phát triển cần có sự quản lý của nhà nước mà nhà nước đó đang hướng tới xã hội chủ nghĩa. Nếu như nhà nước không quản lý nền kinh tế đó mà để cho nó phát triển thành tư bản thì liệu rằng nền kinh tế đó nó có phát triển không? Tình hình đất nước có ổn định không?

Thanh: Thế nếu bây giờ áp dụng nền kinh tế tập trung thay vì kinh tế thị trường có sai hay không.

Sinh viên Thanh: Bây giờ xã hội đang phát triển, bạn đem cái chế độ quá cũ áp dụng vào hiện tại này thì làm sao phù hợp ?

Thanh: Như vậy theo bạn, bây giờ kinh tế thị trường mới là hướng đi đúng, phải không?

Sinh viên Thanh: Đúng, từ năm 1975-1986 quan liêu bao cấp, người ta đã nhận thấy sai lầm đó và đã chỉnh đốn lại để đi theo con đường hiện tại.
Thanh: Mà theo kinh tế thị trường thì bạn phải chấp nhận có hoạt động của tư nhân, đúng không?

Sinh viên Trang: Chấp nhận.

Chủ nghĩa xã hội

Thanh: Thế thì bao nhiêu năm trên ghế nhà trường học về kinh tế chính trị Mác-Lênin, có bao giờ các bạn thấy trong đó có nhắc tới việc chấp nhận thành phần kinh tế tư nhân trong chế độ xã hội chủ nghĩa không? Sách vở nói rằng khi người vô sản dành được chính quyền thì phải thiết lập giai cấp chuyên chính vô sản, xoá sạch giai cấp bóc lột, chỉ còn lại giai cấp công-nông trong xã hội thôi.

Đó là trụ cột của chủ nghĩa cộng sản: phải đàn áp tất cả giai cấp khác, trong đó giai cấp tư bản là giai cấp bóc lột cần phải xoá bỏ, và mình còn lớn tiếng hô hào là phải đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản cơ mà. Ngay sau 1975 lập tức đánh tư bản, mình không cho hoạt động kinh tế tư nhân cơ mà. Đó không phải là quan điểm của Việt Nam thôi mà đó là chủ nghĩa Mác-Lê.

Sinh viên Trang: Bạn đã hiểu sai về chủ nghĩa xã hội rồi, ở đây không phải là xoá bỏ hay đào mồ chôn giai cấp tư bản.

Thanh: Sai. Bạn nói vậy là nói ngược rồi. Bây giờ bạn cứ coi lại sách vở về chủ nghĩa Mác-Lê, học lại kinh tế chính trị Mác-Lê, chủ nghĩa di vật biện chứng sẽ thấy rõ ràng xây dựng nền chuyên chính vô sản, xoá bỏ giai cấp bóc lột. Và điều đó Việt Nam đã từng thi hành sau 1975 mà.

Sinh viên Thanh: Bây giờ bạn phủ nhận là đảng đưa ra những đường lối đó, bạn cho là sai hay sao?

Thanh: Cái mình phủ nhận ở đây chính là ..

Sinh viên Thanh: Bạn phải khẳng định rõ chế độ tập trung quan liêu bao cấp hồi đó có thoả đáng hay không? Nếu mình vẫn giữ vậy thì nền kinh tế có phát triển như hôm nay không?

Thanh: Vậy tại sao đảng không nhìn thấy cái đó sớm hơn cho dân được nhờ?
Sinh viên Thanh: Sớm hơn thì hoàn cảnh lúc bấy giờ Việt Nam vẫn còn nghèo về điều kiện vật chất.

Thanh: Vô lý. Mình thấy vô lý chỗ này là tại sao ta tiến hành cuộc chiến tranh đó là vì muốn xoá bỏ chủ nghĩa tư bản ở miền Nam. Chính miền Nam lúc đó đã theo chủ nghĩa tư bản, kinh tế thị trường, lúc đó tư nhân được quyền hoạt động.

Tại sao ta vô ta phá hết rồi mãi mười mấy năm sau lại quay lại theo kinh tế thị trường? Đó là sự sai lầm hay là phát minh gì đây? Trên thế giới này kinh tế thị trường có phải là cái do cộng sản phát minh không? Chưa bao giờ.

Sinh viên Phương: Mình thừa nhận những ý kiến của bạn rất đúng nhưng việc bạn nói sao không nhận ra sai lầm sớm thì mình đã nói là do hoàn cảnh đất nước mới thoát khỏi chiến tranh, do điểm xuất phát thấp nên chưa nhận ra sai lầm.
Đến 1986 khi đổi mới thì mình đã kịp nhận ra sai lầm và từ đó mình đã đổi mới. Thì bạn phải thừa nhận là những chính sách sau năm 1986 là đổi mới chứ. Bây giờ thực sự nó đang đem lại hiệu quả cho Việt Nam.

Thanh: Mình nghĩ đó không có gì là đổi mới cả, mà cái đó phải nói đúng là để lại như cũ tại vì trước 1975 người ta đang là kinh tế thị trường cơ mà. Mình vô mình phá rồi mình để lại, chứ sao lại gọi là đổi mới!?
Có mới là mới ở ngoài Bắc, cái đó mình không nói. Còn ở miền Nam lúc bấy giờ đang là kinh tế thị trường cơ mà, mình vô mình phá đi rồi giờ để trở lại thì đâu gọi là đổi mới được? Phải gọi là để lại như cũ chứ?!

(Xin mời theo dõi toàn bộ nội dung trong phần âm thanh bên trên)
“Diễn đàn bạn trẻ” sẽ tái ngộ cùng quý vị và các bạn với phần tiếp theo, vào giờ này, sáng thứ tư tuần sau. Mong quý vị nhớ đón nghe. Chương trình rất mong nhận được ý kiến tham luận của bạn nghe đài khắp nơi để Diễn đàn ngày càng phong phú và bổ ích hơn.
Quý vị muốn chia sẻ quan điểm, xin để lại lời nhắn cho chúng tôi qua hộp thư thoại (202) 530 -7775, kèm theo số phone, chúng tôi sẽ liên lạc lại. Từ Việt Nam và các nước khác, xin bấm số 001 trước dãy số (202) 530-7775. Quý thính giả cũng có thể email cho Ban Việt Ngữ qua địa chỉ : vietweb@rfa.org .
Trà Mi kính chào.

Tiếng Việt
© 2007 Radio Free Asia
Các tin, bài liên quan
Trao đổi thư tín với thính giả (Ngày 31-5-2007)
Lịch sử Việt Nam qua sách vở, tài liệu của chế độ và thế giới tự do bên ngoài
Nhân vật Hồ Chí Minh theo nhận định của giới trẻ Việt Nam
Tiếng nói và nguyện vọng của giới trẻ Việt Nam
Tuổi trẻ Việt Nam và những nguyện vọng gởi đến giới lãnh đạo cao cấp
Vì sao phần lớn những người tự ứng cử bị gạt khỏi danh sách ứng viên?
Phản hồi của giới trẻ về cách thức chọn lựa ứng cử viên Quốc hội VN
Giới trẻ Việt Nam nghĩ gì về cuộc bầu cử Quốc hội khoá 12?
Thế hệ trẻ nghĩ gì đối với cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá 12 sắp tới (phần 1)?
Gửi trang này cho bạn
Ðăng ký bản tin Ban Việt Ngữ
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/06/06/YouthDebateDifferencesBetweenHistoryLessonsTaughtAndReality_TMi/

*
***
*

Nhân vật Hồ Chí Minh theo nhận định của giới trẻ Việt Nam
2007.05.23
Trà Mi, phóng viên đài RFA

Ngày 19 vừa qua đánh dấu 117 năm sinh nhật cố chủ tịch Hồ Chí Minh, một nhân vật đã góp phần làm thay đổi dòng lịch sử Việt Nam. Trong sử sách quốc nội, Hồ chủ tịch được ngợi ca bằng những ngôn từ cao đẹp nhất và được tôn vinh như một vị cha già của dân tộc, một ngừơi hùng vĩ đại của đất nước.

Bấm vào đây để nghe cuộc hội luận này
Tải xuống để nghe
Tuy nhiên, trên thực tế, danh tiếng và sự kính trọng mà mọi người dành cho ông rất khác nhau. Nhiều ngừơi tôn thờ ông vì công lao lãnh đạo công cuộc đấu tranh đòi độc lập, dẫn đến việc thống nhất đất nước sau này.
Thế nhưng cũng có lắm kẻ chê trách bởi cho rằng ông đã nhầm lẫn mang học thuyết chủ nghĩa cộng sản về áp dụng trên quê hương, gây đau thương cho biết bao người.

Ông Hồ Chí Minh lúc sinh thời. AFP PHOTO

Ngay trong giới trẻ, những ngừơi sinh sau 75, thế hệ được ví von là “con cháu Bác Hồ”, suy nghĩ và cảm nhận của họ về lãnh tụ cách mạng Hồ Chí Minh ra sao?
Mời quý vị tìm hiểu qua cuộc hội luận với các thanh niên trong và ngoài nước xung quanh đề tài này, với sự góp mặt của các bạn Thanh, Phương, Trang là những sinh viên từ miền Trung và miền Bắc vào Sài Gòn trọ học; Hồng, vừa sang Hoa Kỳ du học hơn một năm, cùng với Thanh, cử nhân đại học hiện đang công tác tại phía Nam:

Thanh: Mình tên là Thanh, ở Sài Gòn.
Hồng: Em tên Hồng, em đang du học tại Boston, Mỹ.
Sinh viên Trang: Mình tên Trang, mình ở Bình Thuận.
Sinh viên Phương: Mình là Phương, ở Quảng Ngãi.
Sinh viên Thanh: Mình tên Thanh, ở Nghệ An.

Trà Mi: Xin cảm ơn các bạn đã dành thời gian tham gia chương trình hôm nay. Với đề tài “Cảm nghĩ của thanh niên Việt Nam về nhân vật HCM”, câu hỏi đầu tiên mình muốn nêu ra với các bạn là các bạn có cảm nghĩ như thế nào về HCM, một nhân vật rất nổi tiếng mà có lẽ là các bạn đã được biết tới từ khi còn rất nhỏ?
Sinh viên Trang: Trang là một sinh viên, đựơc tìm hiểu về Bác thông qua ngành học của mình.

Trà Mi: Ngành học của Trang là gì?
Sinh viên Trang: Ngành học của Trang là lịch sử.
Trà Mi: Cảm nghĩ của bạn như thế nào về lãnh tụ HCM?
Sinh viên Trang: Trong lòng sinh viên tụi Trang, Bác là người vĩ đại, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.

Trà Mi: Thế còn ý kiến của anh Thanh, anh có gì chia sẻ với các bạn?
Thanh: Trứơc giờ em cũng học ở trong lịch sử Việt Nam, thì dĩ nhiên chỉ thấy có một ý kiến chung đó là Bác là một lãnh tụ vĩ đại. Nói chung, tất cả thanh niên Việt Nam đều đựơc giáo dục như vậy hết. Mình cũng không là ngoại lệ. Tuy nhiên, theo lý trí tự mình suy nghĩ thì ai cũng có mặt xấu, mặt tốt. Chẳng có ai mà tốt hết tất cả như những điều trong sách vở Việt Nam giảng dạy thì Thanh nghĩ điều này có vấn đề.

Trà Mi: Xin mời ý kiến của các bạn khác.

Hồng: Khi Hồng còn ở Việt Nam thì mình cũng học chuyên văn, cũng tiếp xúc được với khá nhiều tài liệu về Bác Hồ. Cho nên, khi còn ở trong nứơc, Hồng rất ngưỡng mộ Bác như một nhân vật vĩ đại, có một tấm lòng thanh cao tất cả vì dân, vì nứơc. Tuy nhiên, đến khi mình đi ra ngoài du học thì có đựơc nhiều cơ hội tiếp xúc với các tài liệu bên ngoài, những tài liệu mà trứơc đây trong nứơc mình chưa đựơc nghe đến bao giờ thì mình cảm thấy rất là sốc.

Bạn nghĩ gì về con người, cuộc đời và sự nghiệp của ông Hồ Chí Minh? Hãy gửi đến Ban Việt Ngữ ý kiến của bạn. email: vietweb@rfa.org

Trà Mi: Hồng nói là cảm thấy sốc trứơc những điều chưa từng đựơc nghe đến bao giờ. Đó là những điều gì mà khiến cho bạn bị sốc?

Hồng: Chẳng hạn như chuyện về Cải cách ruộng đất năm 1954, Bác và Đảng cộng sản Việt Nam đã tàn sát rất nhiều người, những ngừơi bị cho là địa chủ hay những ai có ruộng đất lúc bấy giờ. Đó là điều mà trứơc đây trong nứơc mình chưa đựơc nghe nói đến bao giờ cả.

Sinh viên Thanh: Cho mình hỏi Hồng, ngoài việc đó thì bạn còn nghe được hoặc đọc được những tư liệu về Bác như thế nào nữa, bạn có thể cho mình và những bạn trong nứơc biết rõ hơn?

Hồng: Những chuyện đó bạn có thể lên trang web www.lenduong.net thì sẽ tìm ra đựơc các tư liệu đó. Khi mình còn ở Việt Nam thì mình cũng biết rằng tất cả các tư liệu trong nứơc đều thần thánh hoá, thần tựơng hoá Bác Hồ. Tại sao các bạn không tự tìm đọc các tư liệu bên ngoài để có một cái nhìn đúng hơn, chính xác hơn từ hai phía để sau này các bạn có thể chia sẻ với các bạn khác cùng trang lứa ? Thật ra để tìm đến với các tư liệu như vậy cũng không có gì là khó. Trong nứơc, những tài liệu có cách đánh giá không giống như những gì Đảng mong muốn thì bị ngăn chặn rất nhiều, nhưng các bạn cứ thử vào các trang như www.lenduong.net hay các website tương tự thì sẽ có một cách nhìn khác hơn.

Sinh viên Phương: Khi bạn Hồng đọc tư liệu viết về Cải cách ruộng đất năm 54 nói rằng Bác đã ban ra những quy định làm ảnh hưởng, gây hại cho rất nhiều người, là một người Việt Nam, một sinh viên Việt Nam, thì bạn nghĩ như thế nào về những nguồn tin đó?

Hồng: Mình không hiểu rõ ý bạn muốn hỏi?

Trà Mi: Ý Phương muốn hỏi Hồng là độ tin cậy của Hồng như thế nào đối với những tin đó? Các tài liệu ấy có đáng tin cậy hay không?

Hồng: Ngoài những tài liệu mình đựơc đọc như vậy, mình cũng đựơc gặp những người từng là nạn nhân trực tiếp của Cải cách ruộng đất 1954, những ngừơi có cha mẹ ông bà đã bị giết chết trong sự kiện đó thì mình nghĩ đây hoàn toàn là sự thật.
Sinh viên Phương: Sao bạn không nghĩ là Bác ban ra những quy luật đó theo chiều hướng tốt nhưng những ngừơi thực hiện đã không hành động đúng theo nguyện vọng của Bác đưa ra ?

Hồng: Vì mình nghĩ là cho dù họ có là địa chủ, cường quyền, ác bá, bọc lột của dân hay như thế nào đi nữa thì họ cũng là con người, mình không nên đối xử với họ man rợ như vậy. Nếu Bác là một lãnh tụ vĩ đại, là ngừơi có thể thay đổi tất cả thì dĩ nhiên có đủ khả năng lãnh đạo, điều khiển các tứơng lãnh của mình, thì không thể có chuyện những tứơng lãnh của Bác đi ngược lại nguyện vọng của Bác đựơc.

Sinh viên Thanh: Những chủ trương Bác đưa ra hoàn toàn đúng đắn. Những người bên dứơi đã hiểu sai và thực hiện sai, ví dụ như những năm 30, mình đánh đổ đế quốc, phong kiến. Bác có phân loại ra hẳn hoi rằng mình chỉ đánh đổ đại địa chủ và những thành phần theo phe đế quốc thôi, những thành phần chưa đứng hẳn về phe đế quốc thì chỉ lợi dụng hay trung lập họ chứ không tàn sát. Nhưng do những ngừơi hiểu một cách quá sai lầm quan điểm của Bác rằng phải xoá bỏ sạch toàn bộ chế độ tư bản đi, dẫn đến việc tàn sát rất nhiều ngừơi. Sai lầm đó sau này đã đựơc sửa đổi rất nhiều rồi bạn ạ. Bạn đọc những tài liệu về sau sẽ thấy rằng cuộc cải cách này đã có đựơc những kết quả khi mình nhận ra những sai lầm.

Trà Mi: Xin mời ý kiến của anh Thanh.

Thanh: Nãy giờ nghe các bạn nói về Cải cách ruộng đất, theo ý bạn Hồng thì dù sao những người địa chủ hay đại địa chủ người ta cũng là con ngừơi, mình cũng không đựơc tàn sát ngừơi ta, huống chi theo mình đựơc biết thì thật ra những nạn nhân đó cũng chả giàu có gì đâu nhưng cũng bị quy là địa chủ. Hơn nữa, những người đó chính là những người đã từng nuôi dấu cán bộ, từng cung cấp lương thực, chỗ ở cho cán bộ của Bác. Mà sau đó lại quy cho họ là địa chủ, đấu tố họ, giết họ. Nên nhớ rằng năm 1945, sau khi tuyên bố độc lập, chính Bác Hồ đã đề cao quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền sống con ngừơi là quyền thiêng liêng nhất, thế tại sao lại có những chuyện như vậy xảy ra ? Nếu nói rằng cấp dứơi không hiểu ý Bác thì không ổn.
Cuộc cải cách ruộng đất bắt đầu từ 1949 kéo dài suốt mấy năm thì làm sao Bác không biết đựơc là có sai lầm hay không. Thật ra thì Bác cũng biết hết đấy, chứ không phải không biết, vì chế độ cộng sản bao giờ cũng theo dõi rất sát. Làm gì có chuyện hiểu sai ở đây đựơc? Nếu hiểu sai chỉ có một số người nào hiểu sai thôi chứ, làm sao mà đều làm sai hết trên diện rộng như vậy ? Mà số nạn nhân thì rất nhiều, ngay chính Đảng cộng sản cũng thừa nhận là có khoảng 170 ngàn ngừơi bị giết chết. Đó là con số do chính đảng đưa ra thôi, chứ còn thực tế chắc chắn phải nhiều hơn. Trong khi đó, đảng cũng công nhận là trên 70% bị tố sai, làm sao lại có chuyện để tố sai đến như vậy ? Con số đó đã nói lên một điều rõ ràng nhất. Cái đó không thể nào hiểu sai đựơc, cả một diện rộng như vậy. Mình không tin là có chuyện hiểu sai ở đây. Nếu bạn cho là hiểu sai thì thật ra mình đã phải rút kinh nghiệm, nhưng thực ra đến năm 1975 lại xảy ra màn đó nữa, đánh bại tư sản bao nhiêu nhà cửa người ta bị tịch thu, người ta phải bỏ nứơc ra đi. Làm sao gọi là hiểu sai đựơc ? Hiểu sai thì chỉ một lần đầu thôi chứ, tức là thật sự không phải là hiểu sai và rút kinh nghiệm, mà họ đã làm đúng như những gì họ nghĩ.

Trà Mi: Xin cảm ơn ý kiến anh Thanh. Ở đây mình có 2 luồng ý kiến khác nhau. Xin đựơc hỏi thăm các bạn là sự hiểu biết của các bạn là do các bạn tự tìm hiểu hay bằng những phương tiện gì mà các bạn có đựơc những sự hiểu biết như vậy?

Sinh viên Trang: Một số tụi mình đã đựơc học và một số tự đi tìm hiểu. Bản thân gia đình Trang có ông nội cũng là nạn nhân của cuộc Cải cách ruộng đất 1954, nhưng gia đình Trang vẫn nhận thức đựơc điều đó là do sai lầm của phía bên dứơi thực hiện chứ không phải do chủ trương, chính sách mà Bác đề ra.

Trà Mi: Trang nói là tự tìm hiểu thì những kiến thức bạn tự tìm hiểu từ đâu?
Sinh viên Trang: Tất nhiên là từ sách vở, mình đi thư viện.

Trà Mi: Tức là sách vở trong nứơc ? Thế còn sự hiểu biết của anh Thanh và Hồng thì?
Thanh: Cho Thanh nói một chút. Bạn Trang nói là tìm hiểu trong sách ngay tại Việt Nam thì mình nghĩ không có gì để tìm hiểu cả.

Hồng: Đúng.
Thanh: Vì Thanh đã từng học 12 năm và 4 năm đại học trong nứơc nhưng chưa bao giờ mình đựơc nghe đến những chuyện như Cải cách ruộng đất hay Nhân văn giai phẩm đâu. Chưa bao giờ. Đó là những cái người ta muốn dấu làm sao mình có đựơc? Muốn tìm hiểu thì bản thân mình nên tìm tòi, bây giờ cách hay nhất là qua mạng internet hoặc ngay từ ngừơi thân trong nhà. Những ngừơi đã sống qua hai chế độ trứơc và sau 1975 ngay Sài Gòn hay những người từ Bắc di cư vào Nam, họ sẽ nói cho nghe sự thật. Đó là những nhân chứng sống mình cần phải tìm hiểu. Chứ tìm hiểu qua nguồn chính thống của nhà nứơc thì xin lỗi nha, không có gì để tìm hiểu hết.

Sinh viên Trang: Vậy tại sao các bạn lại cho là những thông tin trên mạng là chính xác? Bạn nên biết rằng những thông tin muốn biết đựơc chính xác thì phải qua sự kiểm nghiệm, chứng nhận đúng sự thật thì mới đựơc in thành sách. Còn trên mạng có những tin sai sự thật rất nhiều. Còn đã viết thành sách thì đã đựơc chứng nhận, kiểm tra sự thật như thế nào thì nhà xuất bản của nứơc mình mới cho đăng thành sách.

Thanh: Cho hỏi bạn một điều thôi. Hiện giờ ai là người kiểm soát các nhà xuất bản và các cơ quan truyền thông trong nứơc?

Sinh viên Phương: Những cuốn sách đã đựơc xuất bản rộng rãi thì tất nhiên đã đựơc Bộ văn hoá thông tin cấp giấy cho xuất bản lưu hành.
Hồng: Đúng, Bộ văn hoá thông tin là của đảng cộng sản Việt Nam đúng không?
Thanh: Có phải là đảng cộng sản không.

Trà Mi: Vì thời lựơng có hạn, Trà Mi xin phép được tạm ngưng chương trình tại đây. “Diễn đàn bạn trẻ” sẽ trở lại cùng quý vị và các bạn với phần thảo luận tiếp theo vào giờ này, sáng thứ tư tuần sau. Trà Mi kính chào.
(xin mời theo dõi toàn bộ cuộc hội luận trong phần âm thanh bên trên)

Chương trình rất mong nhận được ý kiến tham luận của bạn nghe đài khắp nơi để Diễn đàn ngày càng phong phú và bổ ích hơn.

Quý vị muốn chia sẻ quan điểm, xin để lại lời nhắn cho chúng tôi qua hộp thư thoại (202) 530 -7775, kèm theo số phone, chúng tôi sẽ liên lạc lại. Từ Việt Nam và các nước khác, xin bấm số 001 trứơc dãy số (202) 530-7775. Quý thính giả cũng có thể email cho Ban Việt Ngữ qua địa chỉ : vietweb@rfa.org.

Tiếng Việt
© 2007 Radio Free Asia
Các tin, bài liên quan
Tiếng nói và nguyện vọng của giới trẻ Việt Nam
Tuổi trẻ Việt Nam và những nguyện vọng gởi đến giới lãnh đạo cao cấp
Vì sao phần lớn những người tự ứng cử bị gạt khỏi danh sách ứng viên?
Phản hồi của giới trẻ về cách thức chọn lựa ứng cử viên Quốc hội VN
Giới trẻ Việt Nam nghĩ gì về cuộc bầu cử Quốc hội khoá 12?
Thế hệ trẻ nghĩ gì đối với cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá 12 sắp tới (phần 1)?
Giới trẻ với sứ mệnh Thể hiện và Truyền bá Dân chủ
Dân chủ không thể có bằng “xin-cho”
Thực tế Dân chủ tại Việt Nam theo nhận định của giới trẻ
Gửi trang này cho bạn
Ðăng ký bản tin Ban Việt Ngữ
*
***
*
Về nhân vật Hồ Chí Minh (2003 - BT)
Phỏng Vấn Ông Bùi Tín (2005)
UNESCO Không Hề Tổ Chức Sinh Nhật Hồ Chí Minh - BT...
Tâm tình với tuổi trẻ về Hồ Chí Minh
HCM, một người yêu nước lầm lạc (2007)
Unesco và Hồ Chí Minh (1990) - J F Ravel
Unesco Phủ Nhận Nghị Quyết HCM Là Nhà Văn Hóa
TỔ CHỨC UNESCO KHÔNG VINH DANH HỒ CHÍ MINH !
Cựu đại tá Bùi Tín nói về ông Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh, một người yêu nước lầm lạc
GIẢI TỎA HÀO QUANG ĐẢNG CỘNG SẢN
Mối liên quan giữa HCM, Đảng CSVN và Đệ Tam Quốc T...