lundi 2 juillet 2007

Tại sao bỏ Đảng, bỏ Bác mà chạy trốn? (Kết)

Tác Phẩm & Tác Giả 02-07-2007

Tại sao bỏ Đảng, bỏ Bác mà chạy trốn? (Kết)


Minh Võ


Tiếp theo phần (I)

Về xã hội miền Bắc cuối thập niên 60, đầu thập niên 70

“Hàng ngày, vào các buổi chiều, người miền Bắc lắng nghe đài “Mẹ Việt Nam” trong chương trình “sinh Bắc tử Nam” và cầu nguyện cho đừng nghe tên của thân nhân mình. Ban ngày những xác chết phình trương, mất đầu, cụt tay. Người ta bỏ chạy tránh máy bay Mỹ. Ban đêm dùng chiếu bó lại, đốt đuốc đưa ra những cánh đồng chôn vội vã. Khắp mọi nơi, mọi cánh đồng mỗi lần máy bay Mỹ oanh tạc đều có những buổi chôn người tập thể về đêm…


Chính sách của đảng đối với anh em đi làm nghĩa vụ ở miền Nam đều được chính phủ trợ cấp cho vợ con và được hợp tác xã nâng đỡ. Nhưng cứ sau mỗi lần Đảng ủy xã và hợp tác làm lễ truy điệu thì khoản trợ cấp bị cắt và hợp tác hết trách nhiệm. Phần trợ cấp vật chất để giải quyết cho đợt mới lớp người sắp bị hy sinh. Lúc ấy người ta sợ nhất là nhìn thấy người phát thơ. Hàng ngày hàng trăm cái thơ báo tử để trong xắc cốt người cán bộ xã. Anh ta đi đến nhà nào là mang đau thương tang tóc đến nhà đó. …họ sợ nhất là sau cái lễ “truy điệu trọng thể” để “Tổ Quốc ghi công”, là họ bị đẩy ra lề xã hội, không ai nuôi dưỡng. (10)


Tiếp tục nói về thảm cảnh chiến tranh, nơi trang 145 tập một, Hoàng Hữu Quýnh đã nêu lên tệ nạn bi hài kịch “con của ông, em của bố”: Thanh niên trai tráng đi B rồi chết như rạ. Ở nhà chỉ còn cha già, vợ trẻ. Vậy là cha chồng lấy nàng dâu.

Nhiều đoạn khác Hoàng Hữu Quýnh cũng tả cảnh bi đát của kinh tế nông thôn khiến nhiều cô thôn nữ trẻ phải vào thành “bán trôn nuôi miệng”, trong số đó không ít vị thành niên. Trang 140 tập một, Hoàng Hữu Quýnh viết:


Tại Hà-nội trong đợt thanh niên làm nhiệm vụ kiểm tra nếp sống thời chiến, trong vòng một đêm bắt được hơn 400 cô gái làm đĩ, phần lớn là người các tỉnh lân cận Hà-nội.” Sang trang sau ông lại viết: “Thành, bạn tôi đã kể cho tôi nghe tại thành phố Nam định, những bé gái chỉ 13, 14 tuổi đã lang thang ở vườn hoa bến tầu. Mỗi lần thấy người đi qua các em gọi lại. “Chú ơi, chú chơi cháu đi. Chú muốn Tam Đảo hay Điện Biên tùy ý chú.


Nói về việc ngăn chặn tệ nạn đĩ điếm, ăn cắp… Hoàng Hữu Quýnh viết:


Trưởng ban chỉ đạo là những thứ trưởng, cục vụ trưởng đã bị thi hành kỷ luật vì gian dâm vợ người có hệ thống, ăn cắp ăn hối lộ cũng có hệ thống. Nay họ lại là người cầm cân nảy mực để hạ thủ các bộ hạ của mình. Nghĩ cũng nực cười đứa ăn cắp lớn đi bắt đứa ăn cắp nhỏ. (140)

Trong chương đầu tập hai Hoàng Hữu Quýnh đã viết về hậu quả tai hại của phim ảnh Liên Xô ảnh hưởng đến tuổi trẻ miền Bắc:

Hoàng Hữu Quýnh
Nguồn: Tôi Bỏ Đảng/MV
--------------------------------------------------------------------------------

Sau cái lần chiếu phim nữ tài tử dậy hổ của Liên Xô, thì ở ngay phố Khâm Thiên có 3 em trai dưới tuổi vị thành niên, vào khoảng 13, 14 đón bắt cóc một nữ công an trói tay chân lại, đem vào nhà khóa cửa lại, thi nhau hãm hiếp từ chiều cho đến sáng. Về sau đám thanh niên cũng bắt chước, bắt cóc con gái ở các tỉnh về Hà Nội, nhốt vào nhà riêng khóa chặt cửa lại, rồi thi nhau hãm hiếp cho tới chết. Dạo đó ban đêm con gái không dám ra đường….

Cả Hà-nội nhốn nháo về vụ một phạm nhân được tháo cũi sổ lồng, vào ngay nhà viên thiếu tướng công an hãm hiếp rồi giết con gái của ông.


Theo lý thuyết, chủ nghĩa duy vật vô thần của cộng sản không coi việc trai gái, mại dâm là phi đạo đức. Hơn nữa các cán bộ cao cấp thường tự cho phép mình hết vợ bé, đến tình nhân. Nhưng đối với cán bộ cấp dưới và đảng viên thì lại hết sức nghiêm khắc. Như Hoàng Văn Chí đã chứng nhận họ muốn cán bộ và chiến sĩ của họ để dành sinh lực cho cuộc chiến, cho lao động, giống như người ta nuôi gà chọi, hay gầy dựng đội bóng đá. Hoàng Hữu Quýnh cũng nêu lên những trường hợp đảng cấm đoán và chế tài những vụ trai gái yêu nhau đến kỳ cục:
“Ông bí thư đảng ủy giao cho ban chấp hành Đoàn thực hiện chiến dịch “bắt ếch” tại trận.” Công cuộc được bố trí ra sao, các nạn nhân sa bẫy như thế nào được Hoàng Hữu Quýnh mô tả chi tiết hấp dẫn trên hơn 3 trang sách:

“Ích đẩy cửa bước vào. Nga chuẩn bị cơm rượu sẵn sàng. Khi Ích vào phòng, cánh cửa đóng sập lại….Nga vén hai ống quần lụa …Ích người run lẩy bẩy, sờ soạng…cái giường kêu cót két…Bên ngoài cửa sổ Lê Đạt, Thuyên bí thư chi bộ, Huỳnh trong ban chấp hành đoàn, Nghệ đoàn viên, Tiến đảng viên …và một đám đông trẻ con…Bọn họ theo dõi từ lúc Ích đẩy cửa bước vào ..Những cử chỉ của cô y tá và anh kỹ sư đã làm cho mọi người xem nín thở chờ đợi. Phút cuối cùng, ở giây phút mà cả hai người run lên, không biết gì nữa….thì cánh của sổ mở tung và mọi người nhất tề đổ bộ vào…Biên bản hủ hóa được lập tại chỗ. Hà-nội ngày 19 tháng 6… …Chúng tôi đã bắt được tại trận anh Nguyễn Tiến Ích đang hủ hóa với cô Vũ Thị Thúy Nga vào hồi 18g30 tại học viện Thủy Lợi Hà-nội. Lúc bắt qủa tang thì hai người thoát y tại phòng cô Nga…..” (tập một trang 158)

Sự việc trên thực khó tin, nếu tác giả đã không cam đoan ở đầu sách là ông “đã dùng ngưòi thật việc thật”. Nhưng còn một chuyện nữa còn khó tin hơn, khi ông nói về tính hiếu dâm của Hồng Mỹ con của Lê Duẫn. Cô này, tên thực là Lê Thị Muội, thích "làm tiền " "với" người ngoại quốc trên bãi và dưới biển ở Sochi, Liên Xô. Lúc ấy có ba cô con gái của tổng bí thư Lê Duẫn tại Liên Xô. Khi tôi đọc cuốn sách này lần đầu ở thư viện Linda Vista, thì thấy có độc giả ghi bút chì ở bên lề: “Vớ vẩn! Con gái Lê Duẫn thì đâu thiếu tiền. Bố nó hút máu của nhân dân thiếu gì tiền.” Nếu ta tin tác giả hơn vị độc giả này, thì ta chỉ có thể giải thích là bọn lãnh tụ cộng sản thường có thói “đạo đức giả” cho nên con y cũng không biết y có nhiều tiền. Và y cũng dấu cả vợ con chăng. Hoặc giả như chính Hoàng Hữu Quýnh cũng đã viết rằng cô này không giống tính cha, mà còn phê bình cha “ba chỉ làm bù nhìn cho bọn Nga mà thôi”, cô ta lại có tinh thần rất tự do, phóng khoáng, sau này đã lấy người ngoại quốc. Tính tự do phóng khoáng một phần do thời niên thiếu Hồng Mỹ sống ở vùng quốc gia, theo học tiểu học ở trường quận Triệu Phong, quê Hoàng Hữu Quýnh. Vả lại tính đa dâm cũng có di truyền: Cha nào con nấy.

Trong tập hai, có lẽ không phải là phần hai của cuốn hồi ký, mà đúng ra là một tập truyện. - theo tôi nghĩ, nếu không phải là hư cấu, thì cũng hơi cường điệu - tác giả đã thuật lại chuyện đau lòng của một cô Nguyệt bị cố vấn Liên Xô hãm hiếp. Cô là con bí thư huyện ủy. Khi bị một cố vấn Nga tấn công tình dục trên bãi biển Đồ Sơn, cô đã được một chàng trai nghèo tên Quảng liều thân giải cứu. Lần ấy cô đã thoát. Nhưng Quảng thì bị đánh trọng thương, rồi bị vu vạ và đi tù năm năm. Viên bí thư huyện ủy, cha cô gái, không can thiệp cho Quảng, khiến cô buồn khổ. Nhưng rồi cái tên cố vấn đó, thấy nhà cầm quyền bênh mình rõ ràng, lại tìm đến nhà cô trong lúc cô ở một mình. Y đã dùng sức mạnh chiếm đoạt làm cô có bầu. Để giấu nhẹm hành động bỉ ổi này người ta đã ép cô phải lấy tên cố vấn Nga, hoặc phá thai. Nhưng cô nhất định không chịu lấy tên cố vấn. Còn bác sĩ cả Nga lẫn Việt đều không chịu phá thai, vì muốn cô phải lấy tên cố vấn. Lần này thì cha cô chịu nghe lời cô. Ông đổi thái độ quay ra chống đảng, nên bị bắt giam và chết trong tù. Mẹ cô và em cô bị xe cán chết. Hoàn cảnh hết sức bi thảm. Cuối cùng Nguyệt “đã chết vì bệnh chán chế độ, ngao ngán chủ nghĩa rồi điên loạn vì đời sống ngặt nghèo.” (tập hai trang 102) Câu chuyện dài 36 trang đã kết thúc một cách hơi đột ngột làm cho người đọc có cảm tưởng tác giả chỉ có ý nói lên lời kết án chế độ của chính ông.

Cũng trong tập hai tác giả đã để 20 trang tiếp thuật lại chuyện của một cô gái trong đội nữ binh 5 người đóng ở trên đỉnh núi cao một cây số rưỡi gần đèo Nậm U. Tên cô ta là Ngọc, có người yêu là một sinh viên ở Hà-nội, nhưng ngoài công việc nguy hiểm là gỡ mìn, cô còn phải “hộ lý” cho viên chính ủy sư đoàn tên Lê Văn Tài. Khi nào thích y cứ điện thoại lên hầm trú ẩn của đội nữ binh yêu cầu đội trưởng phái Ngọc xuống phục vụ y. Một hôm Ngọc sắp hoàn thành nhiệm vụ gỡ mìn trong ngày, đến lúc gặp quả cuối cùng thì bị nạn, mìn nổ tan xác cô. Nữ đôi trưởng Thành cử cô khác tới sư đoàn, bị chính ủy Tài gọi điện khiển trách : “Các đồng chí không chấp hành mệnh lệnh cấp trên, vô tổ chức, vô kỷ luật! Cử không đúng đối tượng lên nhận nhiệm vụ ở sư đoàn bộ…” Thành gục mặt xuống nức nở. Đến nước này quá lắm rồi không nhịn được nữa…” Tác giả kết thúc câu chuyện như sau:


Thời gian vẫn trôi đi. Ở Nậm-U quanh năm sương mù che phủ, tính cũng đã sáu năm rồi dài đằng đãng trên cao điểm 1500 mét này. Những người lính gái ngày đêm quanh quẩn trong căn hầm tăm tối và cuộc đời giống những áng mây đen trên bầu trời Nậm-U mà nhiệm vụ cứ thế mỗi ngày: phá mìn, nối giây điện thoại, hộ lý cho các thủ trưởng mua vui và chờ chết…”


Về tình hình tổ chức đảng đoàn trong nhà máy

Ngay chương đầu tập II Hoàng Hữu Quýnh đã dành để nói về “Ông thủ trưởng của tôi”, Vũ Văn Thân. (11) Một ông giám đốc kiêm phó bí thư đảng ủy mà thua kém cấp dưới về mọi mặt, chẳng bao giờ, hay hầu như chẳng bao giờ, được bình bầu “lao động tiên tiến”. Nhân câu chuyện về ông Thân, tác giả đã cho người đọc biết qua về tổ chức đảng đoàn trong nhà máy Cơ Khí Thủy Lợi Hà-nội như sau:


Đó là một nhà máy có quy mô lớn hơn 1200 công nhân…Thường thì giám đốc có chân trong đảng ủy và giữ chức phó bí thư đảng ủy. Bí thư đoàn thanh niên là đảng ủy viên. Tất cả số đảng viên nhà máy tổ chức thành đảng bộ. Dưới đảng bộ là các chi bộ, dưới chi bộ là các tổ đảng rồi đến đảng viên.

Nhà máy chúng tôi số đảng viên chưa tới 100 người mà phải lãnh đạo hơn 1100 công nhân. Trong đó có khoảng 500 đoàn viên thanh niên cộng sản. Số còn lại là quần chúng ngoài đoàn, ngoài đảng.

Nhà máy của chúng ta có hàng chục kỹ sư…

Dạo đó ngày đầu tiên rời ghế nhà trường về đây nhận công tác, là một kỹ sư trẻ, tôi mới 22 tuổi đời. Hành trang chẳng có gì, trên vai mang chiếc ba lô và ở trong ba lô có vài ba bộ áo quần, một năm nhà nước chỉ cấp cho 4 mét vải bằng phiếu, nhưng có lúc chẳng có vải mà mua…


Trong chuyện “thủ trưởng của tôi" Hoàng Hữu Quýnh không chỉ nói xấu ông thủ trưởng mà còn nói đến thứ trưởng Hoàng Tiến đã nhân lúc viên kỹ sư Hoành vắng nhà hãm hiếp vợ y rồi sau gọi Hoành lên bộ nói là vợ Hoành thuận tình… Thủ trưởng Thân đã khuyên Hoành “nên chín bỏ làm mười. Một điều nhịn là chín điều lành. Đi đâu cũng thân cô thế cô. Hoành là một kỹ sư ngoài đảng mà anh Hoàng Tiến lại là thứ trưởng và có chân trong đảng ủy bộ…..” (tập hai trang 27)

Chiến tranh càng kéo dài thì người dân càng bất mãn và không còn giữ mồm giữ miệng:

Nhiều lần nhân dân Hà Tây, quê hương của ông Nguyễn Cao Kỳ và Phan Kế Toại vừa chạy trốn máy bay Mỹ , vừa chửi đảng: “Nếu không đánh nổi thì liệu mà đầu hàng, đừng đem mạng của dân mà thí như con ruồi con muỗi. Tiên sư cha chúng nó Đảng và Bác!”


Về chiến dịch cải cách ruộng đất

Trong chương 1 chúng tôi đã trích dịch một số nhận xét và phân tích của giáo sư Hoàng Văn Chí về các chiến dịch giảm tô và cải cách ruộng đất và những cuộc đấu tố long trời lở đất mà cộng sản đã giật dây, điều khiển và xúi nông dân thực thi đối với những người mà đảng muốn tiêu diệt hay gìm xuống cảnh cùng cực không ngóc đầu lên được. Nó không khác gì những điều mà đồng bào di cư năm 1954 và những người vượt tuyến trong những năm sau đó thuật lại cho đồng bào miền Nam nghe. Nhưng lúc ấy chẳng mấy người tin, mà chỉ cho rằng tuyên truyền chống cộng cường điệu mà thôi. Nhưng đến nay thì quá nhiều tài liệu về việc này đã được khắp thế giới biết, không còn mới mẻ gì. Tuy nhiên để có thêm một tiếng nói nữa cho tập sách, chúng tôi xin trích dẫn thêm một nhân chứng nữa. Dĩ nhiên khuôn khổ một chương sách không cho phép đi vào chi tiết, mà chỉ có thể chọn lựa một vài đoạn cốt yếu.

Trước hết xin tóm lược đại ý của tác giả. Hoàng Hữu Quýnh đã để ra 86 trang của chương 2 nói rất chi tiết. Trong không khí hoang mang cùng cực “ai cũng có thể trở thành địa chủ, việt gian, phản động”, “người ta chiếu những bộ phim của Trung Quốc như Bạch Mao Nữ…” tả cảnh nông dân bị điạ chủ ức hiếp, đầy đọa, chỉ “trở lại cuộc sống hạnh phúc nhờ có đảng và Mao chủ tịch đưa đường dẫn lối.” (trang 26) Trường Chinh và Hồ Viết Thanh (12) đứng đầu chiến dịch, được các cố vấn Trung Quốc chỉ dẫn. Họ lập ra các đội cải cách toàn quyền hành động tại các thôn xã. “Đội trưởng là Trời”. Họ phái một số cán bộ trung kiên về nông thôn “cùng ở, cùng ăn, cùng làm” việc với nông dân để tìm hiểu, gây cảm tình và điều tra tỷ mỷ về cuộc sống của người dân, nhất là liên hệ giữa địa chủ với nông dân hầu tìm ra cách kết tội địa chủ hữu hiệu nhất.


Việc điều tra những cuộc tình duyên nhằm mục đích đặc biệt: Người phụ nữ nào thời còn con gái có dính líu với một địa chủ thì người đó bị bắt buộc phải tố trước công chúng rằng hồi còn con gái chị ta đã bị địa chủ hãm hiếp, rồi đánh đập tàn nhẫn vân vân…”(tr.36)


Hoàng Hữu Quýnh ghi nhận trong cải cách ruộng đất có 5 giai đoạn gọi là 5 bước:
1. Quy định thành phần.
2. Phân loại địa chủ.
3. Tịch thu tài sản.
4. Nông dân học tập về tội ác của địa chủ.
5. Đấu tố. (từ trang 38 đến tr. 73)

Về buớc 1, Sau khi cho nông dân học tập trong 10 ngày, nông dân được hướng dẫn phân loại dân ở nông thôn thành 7 loại chính:

1. Điạ chủ (lại chia làm ba A, B, C)

2. Phú nông cũng chia làm ba.
A/ Trung nông lớp trên (3 loại).
B/ Trung nông (4 loại).
C/ Trung nông lớp dưới (4 loại).
D/ Bần nông (4 loại).
E/ Bần cố nông. (2 loại).(tr.29)

Khi cuộc đấu tố được thi hành ở xã nào thì cộng sản đưa hàng tiểu đoàn về làm áp lực, “nói là để đề phòng phản động”. Đảng và nhà nước hoàn toàn phủ nhận trách nhiệm, “họ công bố đó là việc riêng của nông dân hoàn toàn do nông dân chủ trương…Đảng chỉ giúp ý kiến cho nông dân biết cách đấu tranh mà thôi” (tr. 33) Nhưng Trường Chinh đã đưa ra khẩu hiệu “Thà giết lầm còn hơn tha sót “ Và trong thực tế ở Nghệ An là nơi tác giả có mặt “thực tế mỗi xã có tới 6, 7 người bị xử tử hình” (tr.32) Chỉ có một số ít những xã thuộc tỉnh Quảng Trị không có ai bị xử tử vì lý do những xã đó nằm sát vĩ tuyến 17, e rằng dân sợ và sẽ liều chết chạy sang bên Quốc gia. Cũng có một số xã hay bản thuộc vùng dân thiểu số không bị tổ chức đấu tố, để tránh mất lòng hai nước Thái, Lào…: “Theo Trường Chinh, những nơi đặc biệt như vậy “phải có chính sách đặc biệt” có nghĩa là sẽ giết dần mòn cách khác.” (tr. 33)


Sau đây là một vài trường hợp cá biệt:

Khảo của và tống tiền: “Trong khi địa chủ trả thoái tô hoặc bằng tiền mặt, hoặc bằng vàng bạc thì nhà cửa của họ bị niêm phong. Họ không được bán chác bất cứ một thứ gì. Tất cả, kể cả đồ đạc trong nhà đều được công bố trở thành tài sản của nhân dân. Thực tế mục đích sâu xa của việc đòi nợ thoái tô là bắt buộc địa chủ phải đem hết của chìm ra nộp cho hết chứ không phải để đòi nợ thật sự. Nếu vợ con của địa chủ không đem nộp hoặc chậm chạp thì người địa chủ bị đưa ra tra tấn dã man để người vợ đau lòng phải chạy cho đủ số. Cán bộ sẽ đặt những câu hỏi vặn như sau: Cái kiềng vàng hoặc cái vòng cẩm thạch mày đeo hôm đám cưới đâu rồi? Mày bảo rằng không có tiền, thế thì phần gia tài của bà ngọai mày để lại cho mẹ mày tiêu đâu hết? Đó là những câu hỏi mà bọn cán bộ đã nghiên cứu thật kỹ, từng trường hợp, để rồi đem ra áp dụng cho nên nghe nhắc đến ai cũng giật mình. Một cách tống tiền cướp bóc khác là bắt vợ địa chủ mang tấm biển lớn với hàng chữ “Tôi là địa chủ ngoan cố” đi vòng quanh khắp làng. Nếu có con mọn, thì người mẹ, vợ của địa chủ sẽ được đưa cách riêng ra không cho con bú, vú sữa người mẹ sẽ bị căng lên không chịu nổi trong khi đó đau lòng vì con không có sữa mẹ để bú nên phải khai vàng bạc cất giấu ở đâu để được cho về với con. Trường hợp có nhiều con thì mỗi đứa bị đưa ra một nơi khác nhau để tra khảo dọa nạt bắt buộc chúng phải khai và bọn cán bộ đem bản cung khai về đối chiếu để đòi thêm nợ. Lũ trẻ không chịu nổi tra tấn nên khai lung tung cho qua chuyện, thế là, nhà cửa địa chủ được đào xới lên từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng nọ. Sự việc này mới đây đã diễn ra ở Saigon trong chiến dịch gọi là “cải tạo tư sản ở các thành thị miền Nam” (trang 45-46)


Trong nhiều trường hợp cán bộ ép chính con gái địa chủ lên trước công chúng tố rằng chính cô ta bị người cha hiếp. Người trong cuộc mới biết có sự thông đồng giữa hai cha con vì biết thế nào người cha cũng chết, người con gái đành tâm phải tố như vậy để—theo lời cán bộ - được qui là trung nông, và như vậy có hy vọng sống yên ổn nuôi lũ em dại. Thật là không còn thuần phong mỹ tục nào, không còn một luân thường đạo lý nào. (trang 61)

Người công an gọi mấy dân quân mang người đàn ông tên Thục ra cho bà con nông dân hỏi tội. Ông Thục được hai dân quân điệu ra trước vành móng ngựa bởi một cái đòn gánh. Ông Thục nằm sấp vắt người qua chiếc đòn gánh. Vì ông đã già và mấy ngày liền bị đói nên ông đã xỉu. Hai người dân quân cứ lôi ông đi xành xạch….Đoạn ngừng lại trước mặt mọi người. Cô Sỹ, đứa cháu gái của ông nhảy lên hỏi: - Thục! Mày có biết bà là ai không ? Bà nói cho mày biết, bà không phải là cháu của mày, mà là bà của mày! Mọi người bấm bụng bịt miệng cười! Rồi cô Sỹ dựng lên câu chuyện: Mày có biết mày giết vợ mày bịt đầu mối như thế nào không? Mày có biết tội mày không Thục? Cứ như thế đứa cháu gọi. Người ông “dạ thưa bà”, làm tôi rất khó chịu, lịch sử 4000 năm của dân tộc Việt chưa bao giờ lại có lối văn hóa mà trật tự đảo lộn như vậy! Chỉ có Đảng mới dậy cho mọi người như vậy. (trang 66-67)


Một vài nhận xét về trường hợp Hoàng Hữu Quýnh

Ông đã nói ông không phải nhà văn. Ông cũng không được học nhiều về lý thuết Mác-xít. Ông có gia nhập đảng, nhưng hoàn toàn để tiến thân, chứ không hề vì tin ở đảng hay ở chủ thuyết cộng sản. Ông là một cán bộ kỹ thuật có trình độ, lại được đào tạo ở nước ngoài. Ông viết cuốn sách chỉ là để nói lên những điều ông được mắt thấy tai nghe hầu cảnh giác người khác. Những trang sách của ông là tài liệu quý cho những người muốn tìm hiểu thêm vế cấp lãnh đạo của đảng, đặc biệt là về chiến dịch cải cách ruộng dất long trời lở đất mà đảng đã thi hành theo lệnh và dưới sự giám sát của cố vấn Trung Quốc.

© DCVOnline
--------------------------------------------------------------------------------

(1) “Tôi Bỏ Đảng”, tập 1: Bản cáo trạng chế độ Hà-nội. Xuất bản
năm 1989, trang 130. Nguên văn: "... Nghĩ đến đĩ tơi bỗn giật mình, sợ bác như sợ ma. Tơi không tin ở Bác. Hình như bác có cái gì bí ẩn giấu giếm. Vẻ mặt bác gian ác, con người bác nhiều thủ đọan. Tôi lạnh toát mồ hôi."
...
(10) SĐD tr. 136-138
(11) Trung tá. Bí danh Tám Niềm sinh 6-3-1925, quê Hà Bắc.
Vào đảng 19/08/1944.
(12) Hồ Viết Thắng.

http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=3546

dimanche 1 juillet 2007

Phụ nữ Việt Nam dưới thời cộng sản

Ngày 5 tháng 7 năm 2001

Phụ nữ Việt Nam dưới thời cộng sản

Hàng năm, cứ đến ngày 8-3, chính quyền CSVN lại tổ chức “ngày hội” của phụ nữ. Người phụ nữ Việt Nam được đề cao trong thơ, văn, ca nhạc, điện ảnh... chính thống. Các giới chức cộng sản có thẩm quyền, từ ông Hồ Chí Minh đến Phạm Văn Ðồng, Nguyễn Văn Linh và nay là Ðỗ Mười, đều có bài viết về vai trò quan trọng của phụ nữ trong xã hội Việt Nam. Bởi vì lý luận kinh điển của chủ nghĩa cộng sản là chừng nào phụ nữ chưa được giải phóng (khỏi công việc gia đình) và chưa được quyền bình đẳng về chính trị với nam giới - tức quyền bầu cử và ứng cử, thì cách mạng vô sản dù có nắm được chính quyền cũng mới chỉ là thành công một phần mà thôị Tiếc thay, cái lý thuyết nghe đầy “nhân ái” như vậy nên đã lừa được không chỉ những người nghèo khổ, những phụ nữ đã từng là trung tâm cấu trúc gia đình mà ngay những trí thức, học giả uyên bác cũng bị lóa mắt. Thực tiễn của Việt Nam hiện nay đã cho thấy rằng người cộng sản hoặc đứng trên lập trường của người cộng sản thì trong mọi lĩnh vực của xã hội đều được giải quyết giữa lý luận và thực hành hoàn toàn trái ngược nhaụ Cứ xét năm mục tiêu mà ông Hồ Chí Minh và đảng của ông ta đề ra cho nhân dân và đất nước Việt Nam thì thấy :

1) Gọi là một nước Việt Nam dân chủ nhưng thực tế lịch sử đã chứng minh chưa bao giờ nhân dân Việt Nam lại bị thống trị một cách độc tài, khát máu như dưới chế độ Hồ Chí Minh và những người thừa kế; ghê tởm hơn cả thời Minh thuộc và Pháp thuộc;

2) Gọi là cộng hòa nhưng thực tế ông Hồ Chí Minh và những kẻ thừa kế còn “vua hơn cả vua”;

3) Gọi là tự do nhưng thực tế người dân bị tước trọn vẹn mọi quyền tự do như tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, tự do lập hội v.v... mà ngay thời thực dân Pháp thống trị cũng không đến nỗi như vậy;

4) Gọi là độc lập nhưng thực tế cho thấy Việt Nam dưới sự thống trị của ông Hồ Chí Minh và những người thừa kế hoàn toàn bị lệ thuộc nước ngoài về mọi mặt, từ chính trị, ngoại giao, thương mại cho đến văn hóa tư tuởng. Ngay về đất đai, cũng chính quyền Hồ Chí Minh đã ký giấy nhượng các quần đảo Trường Sa cho Trung Cộng. Những điều khoản trong hiệp ước “hòa bình và hữu nghị” với Nga sô còn ràng buộc Việt Nam với Nga sô một cách ô nhục rất nhiều so với hiệp ước Patenôte mà vua nhà Nguyễn đã ký với thực dân Pháp;

5) Còn về hạnh phúc ư ? Năm 1945, khi ông Hồ Chí Minh nắm quyền thì dân số Việt Nam là 18 triệu dân. Hơn 40 năm cầm quyền và phát động chiến tranh, ông Hồ Chí Minh và đảng của ông ta đã làm chết khoảng 2 triệu 1 người, mất tích gần 300 ngàn người, thương tật các loại gần 5 triệụ Thuế và sưu dịch (núp dưới tên lao động xã hội chủ nghĩa và thanh niên xung phong) còn hơn thời Pháp thuộc. Miền Bắc Việt Nam thiếu ăn và chết đói thường trực mà ngay vựa lúa miền Nam, người dân cũng bị đói, như huyện Duyên Hải thuộc Sàigòn cũng cần cứu đói thường xuyên cho hàng trăm hộ; ở các thành phố lớn như Sài-gòn, Hà-nội, Hải-phòng v.v... nhiều gia đình công nhân, viên chức vẫn ngày bữa cơm, bữa cháọ Lịch sử Việt Nam dưới chế độ phong kiến, sau mỗi cuộc chiến tranh cứu nước, nông dân được “tha thuế” 3 năm, có nơi còn hơn thế. Nhưng dưới chế độ Hồ Chí Minh, chiến tranh kết thúc hơn 15 năm mà nông dân chỉ được “hứa lèo” tha thuế một năm!!! Ấy vậy mà bộ máy tuyên truyền của chính quyền cộng sản Việt Nam ra sức tô vẽ cho việc tha thuế đó như là nét đặc trưng của chế độ cộng sản, như là “tư tưởng” lấy dân làm gốc của ông Hổ Chí Minh ! (?) Cho nên, thử xét lại cái mà ông Hồ Chí Minh và đảng của ông ta tự hào rằng đã giải phóng cho thân phận người phụ nữ Việt Nam, rằng đã cho phụ nữ được hưởng quyền bình đẳng trong mọi sinh hoạt xã hội, thực chất là cái gì ?

Tư bản được tăng gấp đôi

Chế độ xã hội chủ nghĩa (hay cộng sản) là một chế độ độc đảng trị, lấy đấu tranh giai cấp, xóa bỏ bất công xã hội làm bình phong; lấy đàn áp, khủng bố làm phương tiện để gò ép quần chúng dưới sự thống trị của một dúm nhân vật chóp bu của đảng cộng sản; dùng các hội đoàn để quản lý quần chúng nhân dân. Cho nên khái niệm “dân chủ” và “tự do” hoàn toàn xa lạ trong xã hội xã hội chủ nghĩạ Bởi vì ngay nội bộ đảng cầm quyền - tức đảng cộng sản - cũng không hề có dân chủ và tự dọ Từ việc bầu ra các cấp uỷ cho đến việc định ra đường lối chính sách và chỉ đạo thực hiện các chính sách ấy hoàn toàn nằm trong tay của các uỷ viên bộ chính trị có thực quyền - thường là kiêm thêm uỷ viên ban bí thự Tất cả nhân sự còn lại, kể cả uỷ viên ban bí thư cho đến dự khuyết trung ương chỉ là những kẻ thừa hành có quyền hạn ở các mức độ khác nhau tùy theo quan hệ “thân tình” với các uỷ viên bộ chính trị có thực quyền. Ngay cả một vài nhân vật tuy đã được vào bộ chính trị nhưng cũng chỉ là cái bóng, cái tay nối dài của các uỷ viên bộ chính trị có thực quyền và vẫn có thể bị quăng sọt rác nếu chót quên thân phận (như trường hợp Trần Xuân Bách...). Một thí dụ điển hình về hình ảnh “dân chủ” và “tự do” của nội bộ đảng CSVN là kỳ đại hội đảng lần thứ 4 (có ông Gorbachev của Nga-sô tham dự), các đại biểu được cho học tập để bầu ban chấp hành trung ương và phải bầu thử. Bầu thử đến lần thứ hai vẫn chưa vừa ý “lãnh đạo” nên Lê Ðức Thọ (trưởng ban tổ chức trung ương) và Trần Quốc Hoàn (bộ trưởng công an) phải đến từng tổ hăm dọa là “ghi âm” các đại biểu khi phát biểu và lưu các phiếu bầu chuyển cho Ban bảo vệ đảng xem xét. Cho nên lần bầu thử thứ ba đã khớp với ý kiến chỉ đạo của “trên” nghĩa là Lê Duẩn được cao phiếu nhất để từ bí thư thứ nhất chuyển danh xưng thành Tổng bí thư, hoàn toàn thắng thế phe Trường Chinh. Hai triệu đảng viên cộng sản chỉ được phép bầu (có chỉ đạo) ra hơn một ngàn đại biểu đi dự đại hội đảng - cơ quan quyền lực cao nhất của đảng (như ghi trong điều lệ), mà còn không được hưởng cái quyền “tự do” và “dân chủ” chỉ trong gần một tuần lễ đại hội thì hỏi rằng làm sao quần chúng nhân dân Việt Nam (ngay cả công nhân và cốt cán lẫn đảng viên thường) lại được phép biết đến “tự do” và “dân chủ” trong cuộc đời mình, dưới sự thống trị của một dúm đảng viên chóp bu cầm quyền !!!

Phụ nữ Việt Nam nằm trong phạm trù “quần chúng nhân dân Việt Nam” nên đương nhiên cũng không thể biết được mùi vị của các khái niệm “tự do” và “dân chủ” chừng nào nước Việt Nam còn bị CS thống trị. Bởi lý thuyết kinh điển của CS coi “con người là tư bản quý nhất” (Lõhomme est le capital le plus précieux), nghĩa là so với các thứ khác như ruộng đất, trâu bò v.v... Còn Hồ Chí Minh giải thích thêm cho đệ tử rằng :”Nhân dân là vô tận”. Chính vì con người là “tư bản quý nhất”, vì đó là nguồn gốc sinh ra mọi loại tư bản khác, mọi giá trị khác cho nên người phụ nữ Việt Nam được ông Hồ Chí Minh và đảng của ông ta lôi ra khỏi vị trí “nội tướng” trong gia đình và được ban cho quyền bình đẳng như nam giới, nghĩa là làm cái việc như hiến pháp của nhà nước công sản ghi rằng :”Có nghĩa vụ và quyền lợi lao động”. Trong chế độ cộng sản, dù có tô màu bằng mọi uyển ngữ thì thực tế cho thấy thân phận người dân chỉ là “nô lệ” của tập đoàn cộng sản chóp bu cầm quyền. Mọi người chỉ được phép ước mơ và thực hiện cho sự hy sinh vì sự nghiệp của đảng và “bác” - tức một dúm chóp bu cầm quyền và Hồ Chí Minh, chứ không được phép bàn bạc việc nước, được ước mơ ngồi vào vị trí cầm lái con tàu tổ quốc, được xây dựng hạnh phúc cho đồng bào của mình, cho gia đình của mình và cho bản thân mình. Cho nên thực chất của cái mà Hồ Chí Minh và đảng của ông ta gọi là giải phóng phụ nữ chính là tước đoạt quyền xây dựng hạnh phúc gia đình và cá nhân của người phụ nữ, đưa lực lượng phụ nữ - chiếm ít ra là một nửa dân số - vào phạm trù “tư bản quý nhất” để tăng “tư bản quý nhất” đó lên gấp đôi một cách “nhẹ nhàng”. Như thế là chỉ cần một chữ ký ban bố sắc lệnh “giải phóng phụ nữ” và thi hành “luật hôn nhân và gia đình”, Hồ Chí Minh và các đệ tử đã nhân đôi được lực lượng có “nghĩa vụ và quyền lợi lao động” để “xây dựng và hoàn thiện chủ nghĩa xã hội”, nghĩa là Xây dựng và hoàn thiện lối hưởng thụ vương giả cho Hồ Chí Minh và đồng bọn (như xây lăng cho cả cha con Hồ Chí Minh; như bắt dân lục tỉnh đi lao động nghĩa vụ đào đất lấp sông xây biệt thự cho Lê Duẩn ở An Phú, Thủ Ðức...). Còn một vấn đề nữa là cộng sản và chiến tranh như bóng với hình. Bởi chiến tranh là sức sống của cộng sản. Làm chiến tranh để cướp chính quyền, để củng cố chính quyền, để mở rộng bờ cõi thống trị. Cho nên lôi lực lượng phụ nữ ra khỏi tổ ấm gia đình, ra khỏi chức năng người mẹ, người vợ để trở thành lực lượng chủ yếu trong sản xuất và phục vụ sản xuất - tức là cấu thành nền tảng cho cuộc sống hưởng thụ của tập đoàn cộng sản cầm quyền - còn nam giới sẽ được xử dụng chủ yếu cho mục đích chiến tranh bành trướng, núp dưới cái tên mỹ miều là “cách mạng vô sản toàn thế giới”.

Phụ nữ tham chính

“Cơ cấu thành phần” là khái niệm về tổ chức, một quái thai “dân chủ” do chế độ xã hội chủ nghĩa (hay cộng sản) đẻ rạ Nghĩa là từ bộ máy của đảng (cộng sản) cho đến quốc hội (bù nhìn), chính phủ, các đoàn thể và thậm chí đến cả đoàn chủ tịch các hội nghị (kể cả cấp tổ!), các cuộc mít tinh v.v... thì về nhân sự phải đủ các thành phần nam, nữ, già, trẻ, người sắc tộc, quân sự, dân sự, công nhân, nông dân v.v... Nói theo ngôn từ của cán bộ tổ chức (cộng sản) là phải “đủ mâm đủ bát”. Trò hề này là sáng kiến của ông Hồ Chí Minh nhằm “cụ thể hóa” cái gọi là “sự đoàn kết của mọi tầng lớp nhân dân xung quanh đảng (cộng sản) và bác (Hồ)”! Và, phụ nữ bao giờ cũng được ông Hồ Chí Minh và những kẻ kế thừa ông ta quan tâm cho “ngồi cạnh”, cho “chụp ảnh chung” - biểu hiệu cho việc “giải phóng” và “được bình đẳng” của phụ nữ !(?) Ðó cũng là sự cụ thể hóa cái gọi là “dân chủ tập trung” của chế độ xã hội chủ nghĩa của ông Hồ Chí Minh và những kẻ kế thừa ông tạ Người phụ nữ trong chế độ Hồ Chí Minh vì đã được “giải phóng” và được “bình đẳng” nên đương nhiên có đại biểu của giới mình tham chính, có đại biểu của mình trong cơ quan lãnh đạo của các đoàn thể được đặt tên là “đoàn thể quần chúng”. Ðiểm qua những nhân vật được cho nổi lên, ta thấy có : Nguyễn Thị Thập, Hà Thị Quế, Ðinh Thị Cẩn, Trương Thị Mỹ, Nguyễn Thị Ðịnh, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Hằng, Hồ Thị Bi, Nguyễn Thị Chiên, Cù Thị Hậu, Lê Thu Trà, Kim Hạnh... Nếu tìm hiểu nguyên nhân sự nổi lên của những người đó thì thật là... buồn cho chị em phụ nữ. Bởi vì, không thiếu gì người vừa có lòng yêu nước vừa có trí thức nhưng chỉ được dùng có tính chất đối phó với thời cuộc, một thứ bù nhìn trong sân khấu “dân chủ, hòa hợp, hòa giải”. Ðó là trường hợp của các bà như Trịnh Thục Viên, uỷ viên ban thường vụ của quốc hội khóa I; Phan Thị An (nguyên hiệu trưởng trường nữ học Hoài Ðức, Hà-nội từ trước 1945) phó chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ Việt nam; bác sỹ Vũ Thị Chín, phó chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ; bác sỹ Nguyễn Thị Ngọc Phượng, phó chủ tịch quốc hội (khóa 8); các anh hùng quân đội Nguyễn Thị Chiên, Hồ Thị Bi v.v... thì được dùng làm cái mồi “vinh hoa rởm” để lừa chị em cố mà hy sinh thật nhiều cho “đảng và bác”. Còn lại, số có quyền thực sự ở các mức độ khác nhau là ai ? Ðó là Hà Thị Quế, uỷ viên trung ương đảng từ khóa 3, từng giữ các chức phó ban kiểm tra trung ương đảng, phó ban tổ chức trung ương đảng, hội trưởng hội liên hiệp phụ nữ xuất thân từ du kích Yên Thế, từng là giao liên đặc biệt và bộ hạ thân tín của Trường Chinh. Ðó là Ðinh Thị Cẩn, uỷ viên dự khuyết trung ương đảng khóa 3, đã giữ các chức thứ trưởng thứ nhất kiêm bí thư đảng đoàn bộ y tế (thời kỳ bác sỹ Phạm Ngọc Thạch làm bộ trưởng) rồi phó chủ nhiệm phụ trách thường trực uỷ ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em, xuất thân là cấp dưỡng (tức đầu bếp) của ông Hồ Chí Minh. Ðó là Trương Thị Mỹ, phó chủ tịch tổng công đoàn Việt Nam (thời kỳ Hoàng Quốc Việt làm chủ tịch), xuất thân là cần vụ (tức hầu phòng) của ông Hồ Chí Minh. Ðó là Lê Thu Trà, phó chủ nhiệm thường trực uỷ ban thiếu niên và nhi đồng, vợ thiếu tướng Lê Liêm, từng là chủ nhiệm tổng cục chính trị (trước Nguyễn Chí Thanh), có bồ đỡ đầu là Nguyễn Côn, bí thư trung ương đảng kiêm phó thủ tướng (thời kỳ Phạm Văn Ðồng làm thủ tướng). Ðó là Nguyễn Thị Ðịnh, nhờ cặp bồ với trung tướng Trần Ðộ mà được thoát ra ẩn số, đẩy lên chức phó tư lệnh lực lượng vũ trang miền Nam (của CS trước 1975), được cho làm uỷ viên trung ương đảng từ khóa 4 và thay Hà Thị Quế trong chức chủ tịch hội phụ nữ. Ðó là Nguyễn Thị Bình, vợ lẽ của một đốc phủ sứ, ngán cảnh “kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng” nên được Nguyễn Thị Thập giác ngộ theo cộng sản, bỏ chồng có cưới xin lấy một đệ tử của Nguyễn Thị Thập và từ đó - nhờ có học - trở thành thư ký riêng của Nguyễn Thị Thập (chủ tịch đầu tiên của hội phụ nữ, luôn cặp bồ với ông Hồ và được ông ta cho chức uỷ viên trung ương đảng từ khóa 2); được bà Thập giới thiệu sang giữ chức vụ phó vụ lễ tân bộ ngoại giaọ Nhờ ở vị trí này bà Bình được bộ trưởng ngoại giao lúc đó là Xuân Thủy, bí thư trung ương đảng, để mắt tới, nên khi Xuân Thủy sang hội đàm Paris đã “lôi” bà Bình đặt vào cái ghế bộ trưởng ngoại giao của Mặt Trận Giải Phóng, đá Trần Bửu Kiếm về vườn, để được gần nhau bàn việc “thơ văn” và việc... nước. Từ đó bà Bình được lên như diều và nay là phó chủ tịch Hội đồng nhà nước! (mặc dù nhà xuất bản quân đội cộng sản có cho in một cuốn sách phơi bày toàn bộ mánh khóe và sự sa lầy của bà Bình trong mánh mung, tham nhũng khi giữ ghế bộ trưởng bộ giáo dục). Ðó là Nguyễn Thị Hằng, xuất thân từ xã viên dệt chiếu ở hợp tác xã dệt chiếu cói thị xã Thanh Hóạ Ðúng ngày máy bay Mỹ đánh phá thị xã Thanh Hóa, cô dân quân Nguyễn Thị Hằng bị thương ở ngực , cô dân quân Nguyễn Thị Tuyển mặc dù nhỏ yếu nhưng đã vác được những thùng đạn nặng hàng tạ tiếp tế cho pháo binh và được đơn vị pháo binh tuyên dương công trạng. Báo Tiền Phong (Hà-nội) nêu gương cô Nguyễn Thị Tuyển - Phóng viên ảnh của báo Tiền Phong là Mai Nam đi “thực tế” Thanh Hóa thấy cô Hằng cao đẹp, nét mặt như lai, cũng bị thương, chụp lên ảnh dễ “ăn khách” hơn nên đã chụp và đưa hình cô Hằng lên... các báọ Nhờ đó cô Hằng đã... lọt vào “mắt xanh” của bí thư trung ương đảng, phụ trách trưởng ban đối ngoại trung ương đảng, kiêm bộ trưởng, kiêm phó chủ tịch và tổng thư ký uỷ ban thường vụ quốc hội Xuân Thủỵ Thế là cô Hằng được ông Xuân Thủy đưa vào chức uỷ viên uỷ ban đối ngoại của quốc hội kiêm uỷ viên ban bí thư đoàn thanh niên lao động (cộng sản) Hồ Chí Minh; được Xuân Thủy đề cử vào danh sách ban chấp hành trung ương đảng khóa 4 (nhưng cô Hằng xin rút tên), được đưa sang giữ ghế thứ trưởng lao động và xã hội (thời kỳ này bị tố giác là buôn lậu thuốc lá ngoại) và khóa đại hội đảng kỳ 7 vừa xong được “trúng” uỷ viên trung ương đảng chính thức !!! Còn Kim Hạnh, cô sinh viên của trường đại học Sài-gòn nhờ chống quốc gia trốn vào bưng làm cấp dưỡng (tức đầu bếp) cho Mai Chí Thọ nên đã được giữ ghế tổng biên tập báo Tuổi Trẻ (Sài-gòn)! Nay thì Kim Hạnh mất chức vì cho đăng lại tin của báo Nhân Dân rằng ông Hồ Chí Minh từng có vợ (nghĩa là không phải trai tân như ông Hồ và đảng của ông ta tự hào), nhưng ở Việt Nam thì ai cũng biết đó là cái “cớ rẻ tiền” còn sự thực là phe Mai Chí Thọ lung lay thì loại tầm gửi như Kim Hạnh tất phải rụng.

Qua những dẫn chứng về “người thật việc thật” kể trên, có thể kết luận rằng số phụ nữ tham chính trong chế độ cộng sản ở Việt Nam từ trước đến nay, loại trừ một số bù nhìn chắp vá cho cái áo rách “dân chủ”, hầu hết là kẻ ăn người ở của vài viên chức công sản chóp bu hoặc là “nhân tình nhân ngãi” của những nhân vật cộng sản có thế lực.

Từ ông Hồ Chí Minh cho đến các đệ tử gần gũi của ông ta đều lớn tiếng kêu gào rằng trong chế độ cũ (phi xã hội chủ nghĩa), người phụ nữ là “đồ chơi”, là “đồ trang sức” cho đàn ông và giai cấp thống trị. Buồn thay, ông Hồ Chí Minh và đảng của ông ta đã “giải phóng” phụ nữ khỏi cái chế độ cũ ấy để bước vào chế độ Hồ Chí Minh với thân phận vừa là “đồ chơi” vừa là “đồ trang sức” vừa là “nô lệ”.

Nữ nô lệ của thế kỷ 20

Ngày ban hành bộ luật “Hôn nhân và gia đình”, ông Hồ Chí Minh đắc ý tuyên bố rằng thể chế chính trị ở Việt Nam là tiến bộ nhất vì là nước đầu tiên ở khu vực Á-Phi đã xóa bỏ chế độ đa thệ Nhưng cũng chính ông Hồ Chí Minh đã giới thiệu (không qua bầu bán) Lê Duẩn thay ông ta giữ ghế bí thư thứ nhất của trung ương cộng đảng Việt Nam có lẽ vì... Lê Duẩn cùng lúc ba vợ. Cũng chính ông ta bổ nhiệm Lê Ðức Thọ cùng lúc hai vợ, vào chức vụ trưởng ban tổ chức trung ương cộng đảng. Cũng chính ông ta đưa ra danh sách bộ chính trị trong đại hội đảng cộng khóa 3 (1960) những nhân vật có vợ lẽ hoặc bồ nhí như Phạm Hùng (2 vợ), Hoàng Văn Hoan (bồ nhí tên là Hoa, hiện ở Pháp); những nhân vật trong ban bí thư như Tố Hữu (bồ nhí), Nguyễn Văn Trân (bồ nhí), Nguyễn Côn (bồ nhí), Văn Tiến Dũng (bồ nhí), Xuân Thủy (bồ nhí); chủ tịch tổng công đoàn, kiêm viện trưởng viện kiểm sát tối cao, kiêm chủ tịch đoàn chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc là Hoàng Quốc Việt (bồ nhí). Ðược phép bỏ vợ già lấy vợ trẻ như Trần Xuân Bách, Nguyễn Ðức Lạc, Cù Huy Cận... Cho phép lấy thêm vợ lẽ như Trần Huy Liệu, Nguyễn Khánh Toàn, Hoàng Minh Giám... Phải chăng những đảng viên thân cận của ông Hồ vẫn được phép đa thê ? Và, thực sự trong con mắt của ông Hồ Chí Minh và đảng của ông ta, phụ nữ vẫn là “đồ chơi”... rẻ tiền nhất. Vì, ông ta cũng hay quất ngựa truy phong.

Sau khi được ăn hai cái bánh vẽ của ông Hồ Chí Minh là “được giải phóng” và “được bình đẳng”, người phụ nữ Việt nam bị khoác vào cổ một lô gông xiềng “3 đảm”, “tay búa tay súng”, “tay cày tay súng”.

Trong “3 đảm” có hai khoản là “đảm đang việc nước” và “đảm đang việc xã hội”, nghĩa là thay người đàn ông làm lính và nhận gánh nặng lao động sản xuất trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân và kinh tế quốc phòng cũng như sức nặng của sưu dịch - tức một năm tự túc lương thực đi dân công 3 tháng hoặc gia nhập các đội thanh niên xung phong thường trực.

Người phụ nữ xưa kia làm nhiệm vụ thờ chồng, nuôi con, vun vén gia đình mình ở vị trí “nội tướng” thì nay được ông Hồ Chí Minh và đảng của ông ta cho làm cùng lúc vừa là lính vừa là nông hoặc công nhân, vừa là phu phen tạp dịch.

Không chỉ ở lãnh vực sản xuất mà ngay trong lãnh vực nghệ thuật, phụ nữ cũng được xử dụng như những nữ nô lệ của giới chức cầm quyền chóp bụ Các “cô văn công” tài sắc thường để mua vui cho “lãnh đạo” khi mệt mỏi, ốm đau và được dùng trong một số mưu đồ chính trị. Thí dụ : nữ ca sỹ Khánh Vân được theo ông Hồ đi Ấn Ðộ chỉ vì nghe nói thủ tướng Nerhu và con gái là Indira Gandhi thích giọng ca của Khánh Vân. Xong việc, Khánh Vân đau ốm bị bịnh tâm thần cũng chẳng được chữa chạy và chết thật thảm khốc. Thúy Quỳnh (nay là giám đốc nhà hát nghệ thuật) là diễn viên múa, có chửa con so đã được năm tháng mà chỉ vì yêu cầu của Fidel Castro muốn có đoàn múa Việt nam (cộng sản) nhân quốc khánh Cuba nên chính quyền Hồ Chí Minh đã buộc Thúy Quỳnh phải “phá thai” và chỉ được nghỉ 10 ngày sau khi làm “đọa thai nhân tạo”, đã phải lên đường đi Cuba “phục vụ nước bạn”! Aí Loan (chị Aí Vân) một nghệ sỹ cải lương tài sắc, trước ngày cưới bị bắt đi vét bùn ở sông Tô Lịch do cống thành phố chảy ra nên bị chết vì uốn ván. Ca sỹ Tường Vi của đoàn văn công Tổng cục chính trị, người có giọng hát quyến rũ đã “được” anh chàng đại úy Koong-Le của Lào chết mê chết mệt. Mặc dù Tường Vi đã có chồng con, nhưng chính quyền cộng sản Hà-nội lúc đó cũng định “ghép đôi” để lợi dụng Koong-Lẹ May mắn sao đại úy một bước lên trung tướng Koong-Le bị ngã ngựa chính trị ! Nguyễn Thị Hằng (nay là ủy viên trung ương cộng đảng) được một đô đốc hải quân Nga-xô có “tình cảm đặc biệt” nên được bổ xung vào đoàn quân sự đi xin vũ khí về giết dân và đặc biệt là được “đi trước” và “về sau” đoàn.

Ðể chắp vá thêm cho tấm bình phong che đậy bộ mặt bán nước hại dân, ông Hồ Chí Minh đích thân viết thư mời bà Hoàng Thị Thế con gái cụ Ðề Thám, ở Pháp về (1960). Sau khi chụp ảnh, quay phim, báo chí trong và ngoài nước đưa tin đã tới mức “quá đầy đủ” thì bà Hoàng Thị Thế bị đưa về “lưu đày” ở Bắc Giang. Cũng may chính quyền ở tỉnh và huyện hầu hết là binh lính hoặc con em binh lính cụ Ðề Thám nên bà Thế không bị khó khăn lắm. Thế là ông Hồ cho lôi bà về Hà-nội, ở một phòng thuộc lầu 2 nhà tập thể trong ngõ Khâm Thiên, tháng tháng ra Mặt Trận Tổ Quốc lĩnh một số tiền vừa đủ khỏi chết đóị Bà Thế xin trở lại Pháp không được và đã chết già trong cô đơn và nghèo khổ.

Ngay “được” làm vợ của các “ông lớn” thì nhiều phụ nữ cũng vẫn chỉ như “con ở”; chẳng có chút bình đẳng nào trong quan hệ vợ chồng. Thí dụ như vợ chồng Trường Chinh, trong khi ông ta ngồi ăn cơm thì bà vợ mặc áo dài đứng hầu cơm. Hay như Lê Duẩn, bà vợ cả được cho qua “gánh việc nước” ở sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh (Trung cộng). Còn Xuân Thủy, ngự tọa trong tòa vi-la liền tường với trường Nguyễn Trãi (cũ) ở đường Lý Thường Kiệt, sang trọng tiếp các Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Hằng v.v... để bàn “việc nước” ở nhà trên; còn bà vợ già răng đen, ăn trầu thuốc, lấy ông ta từ khi Xuân Thủy còn thái dao cầu, tán thuốc bắc ở ga Ða Phúc thì... ăn ngủ ở nhà ngang, chỗ xưa chủ Tây cho bồi bếp và chị hai ở! Nữ ca sỹ Diệu Thúy, giọng hát trẻ đang lên, vừa tốt nghiệp trường đại học âm nhạc Hà-nội, trong chuyến đi Chili - thời kỳ A-gien-đê cầm quyền - với bí thư thứ nhất đoàn thanh niên lao động (cộng sản) Hồ Chí Minh là Vũ Quang, bị “ăn cơm trước kẻng” (tức ngủ trước khi cưới) khi ghé qua La Habana; về làm vợ Vũ Quang, không còn được

*
***
*

về làm vợ Vũ Quang, không còn được hát “phục vụ” nhân dân nữa mà ngày ngày cơm nước, giặt giũ và tưới nước cho những giỏ phong lan do các chi đoàn thanh niên trong quân đội và thanh niên xung phong ở Trường sơn gửi biếu. Bà vợ già của Trần Xuân Bách - là đảng viên “lão thành” - cùng hoạt động từ thời kỳ bí mật cho đến lúc bật mí, chồng làm chánh văn phòng trung ương đảng (cộng), chiếm một tòa vi-la đồ sộ tại Hà-nội, có kẻ hầu người hạ còn đông hơn của “tư sản mại bản”, lại có cả một cô “đầu bếp” mới 20 tuổi, đã tốt nghiệp trường trung cấp nấu ăn, phục vụ nhưng bà vợ già vẫn phải ở Nam Ðịnh làm “việc nước” và “xã hội”. Ðùng một cái, từ bộ chính trị “phôn” về Nam Hà lệnh cho bí thư tỉnh uỷ là Lê Ðiền phải cho tòa án tỉnh xử ly hôn khẩn cấp cặp vợ chồng “vừa là đồng chí vừa là phu thê” ấy để ông Trần Xuân Bách kịp cưới cô đầu bếp 20 tuổi - bằng 1/3 tuổi của ông Bách - kẻo con biết bò vào dịp đầy năm cưới của mẹ.

Những thí dụ về “người thật việc thật” hay “con người mới xã hội chủ nghĩa” đó kể cả đời người cũng không hết. Trên đây tạm dẫn chứng như là nền của bức tranh của ngày hội được “giải phóng” và “bình đẳng” của phụ nữ Việt nam do “công ơn” ông Hồ Chí Minh và cái đảng ma-phi-a của ta ông đem lại.

Nhân dân là vô tận

Ðầu đề trên là khẩu hiệu đầy “sáng tạo” của chính ông Hồ Chí Minh khi phát triển khái niệm kinh điển của chủ nghĩa cộng sản rằng “người là tư bản quí nhất”. Chính vì thế ông Hồ Chí Minh đã tung ra lệnh cho đảng của ông ta là “dù có phải đốt cháy Trường sơn” hay “tát cạn biển đông” - một dạng khác của tư bản (bình thường) thì cũng phải giải phóng (tức thôn tính) miền Nam Việt Nam (còn hàm ý cả Lào và Cam-bốt) để thu được “tư bản quí nhất” là “quần chúng nhân dân” trong đó bao gồm “quần chúng phụ nữ”. Biểu hiện thành chính sách cụ thể cái tư tưởng “tàn bạo, khát máu” đó của ông Hồ, trước năm 1975, phụ nữ ở cả hai miền Bắc và Nam Việt Nam đều bị lợi dụng theo những phương thức khác nhau.

Ở miền Bắc, phụ nữ vừa là lính; vừa là lao động chính thay trâu cày bừa trên đồng ruộng, thay máy trong các công trường xí nghiệp; vừa là phu đi đắp đường, khẩn hoang, xây dựng các công trình phục vụ quân sự, hoặc có thời hạn - mỗi năm 3 tháng phải tự túc lương thực, hoặc phải thường trực - tức thanh niên xung phong. Người phụ nữ phải làm tất cả những việc nặng nhọc nhất, hoàn toàn không phù hợp với giới tính; bị bóc lột sức lao động tàn khốc dưới cái trò thi đua “làm thay cho đồng bào miền Nam”, làm thay cho anh “anh Trổi, chị Quyên” để phải lao động cả 3 ca/ngày và hoàn toàn không có ngày nghỉ trong suốt 3 tháng đi sưu như vậy trong mỗi năm. Còn nữ thanh niên xung phong ? Ðược nuôi cơm... độn, một năm 2 bộ quần áo, được đi phép 10 ngày/năm, được lương tháng đủ ăn... những 2 tô phở theo giá mậu dịch quốc doanh (nếu là nam giới thì chỉ đủ tiền một lần hớt tóc). Ðiều đáng nói là chị em phải lao động không kể giờ giấc, hoàn cảnh, địa hình, tình trạng sức khỏe. Nghĩa là ngày kinh nguyệt cũng phải lội sông, ngâm bùn, gánh nặng; ốm bệnh cũng phải lao động; lao động không kể ngày đêm : từ làm đường ở Trường Sơn cho đến phá bom nổ chậm; từ tải thương cho đến gánh vác súng đạn. Ấy thế mà trong thực tế người nào cũng phải làm đơn “xin hiến” 10 ngày phép năm cho “đảng” và “bác” cho đến khi “cách mạng thành công” và còn thi đua “mặc áo cũ không lãnh áo mới” để tiết kiệm tiền của vào việc “đánh Mỹ-Ngụy”! Mỗi tháng còn vài lần nhịn ăn lấy gạo “giúp đồng bào miền Nam ruột thịt” (vì như sách, truyện của đảng cho biết : miền Nam đói khổ đến nỗi lính Mỹ còn phải “cưỡi trực thăng đi cướp từng bao gạo” và nhà buôn thì trộn hạt ny-lông vào gạo để bán)!!! Bị chôn vùi cả tuổi trẻ trong rừng sâu, bị lừa đảo niềm tin, bị tước đoạt sức khỏe và hạnh phúc, bị làm “trò giải khuây” cho những người lính “sinh Bắc tử Nam” trên đường hành quân... nên hầu hết nữ thanh niên xung phong bị bệnh phụ khoa, bị rong kinh, bị sốt rét rừng, bị bệnh đường ruột, bị tâm thần... mà không được chữa chạy, bị... phá thai chôn gốc cây rừng v.v... Có ai thoát về làng thì cũng... quá lứa lỡ thì ! Ông Hồ Chí Minh kêu gọi thanh niên rằng :“Ðâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên” cũng như bài “Thanh niên xung phong ca” có câu :

“Bác Hồ dạy chúng ta Không có việc gì khó Ðào núi và lấp biển Quyết chí cũng làm nên”

Nhưng chỉ có “thơ ghế đá” mới nói đúng số phận của nữ thanh niên xung phong :

“Em là thanh niên xung phong Ðắp đường, tải đạn, long đong tháng ngày Ðảng nuôi hai bữa một ngày Cơm độn ba bát, muối đầy lòng tay Aó quần hai bộ đổi thay Một năm đi phép mười ngày... “có lương” Cho nên chẳng có người thương Xuân tình chợt gặp giữa đường với nhau Nói ra bảo kể khổ đau Thời gian thấm thoát bước mau về già Sốt rừng da mái, mắt lòa Ðảng cho giải ngũ về nhà ăn rơm ! Tuổi xuân chôn chốn Trường sơn Nhiều cô thai nạo vứt chân cây rừng Về làng chân bước ngập ngừng Tương lai mờ mịt, gối trùng, lưng cong Biết khôn đã chót vào tròng !!!”

Hai chính sách nữa rất tàn bạo của ông Hồ Chí Minh và cái đảng ma-phi-a của ông ta đối với phụ nữ miền Bắc Việt Nam (kể cả một số vùng trong Nam gọi là “vùng giải phóng”) là đem phụ nữ làm cái mồi câu, làm vật khen thưởng mua bán (nhất là phụ nữ ở nông thôn): một là tổ chức theo lối cưỡng bức để buộc nữ thanh niên lấy chồng là thương bệnh binh - nhất là những người lính bị tàn phế nặng - làm chồng mà còn phải làm đơn tình nguyện “lao động nuôi chồng” không nhận một thứ trợ cấp nào. Chính sách tàn bạo này đã là nguyên nhân của biết bao vụ “vợ đầu độc chồng” cho thoát nợ đời hoặc người vợ đành... tự tử chết mà không nhắm được mắt. Hai là tổ chức cưới cho những thanh niên bị bắt lính trước khi nhập ngũ vài ngày nhằm trút gánh nặng lao động bên gia đình người tân binh lên đầu người phụ nữ, nhằm lấp lỗ hổng trong luật nghĩa vụ quân sự về khoản “miễn đi lính cho những thanh niên là con một trong gia đình”. Chính quyền Hồ Chí Minh tổ chức lấy vợ cho thanh niên đến tuổi bắt lính và lý luận rằng “khi người thanh niên con một có vợ thì không còn là con một nữa vì vợ cũng là con trong gia đình nên không được miễn lính như luật nghĩa vụ quân sự qui định”!!! Còn nữa, đó là ràng buộc tình cảm người lính với “quê hương” để yên tâm đi chiến đấu cho “sự nghiệp của đảng và bác” vì cha mẹ đã có vợ “đảm đang” (khoản thứ ba trong đường lối “3 đảm” của phụ nữ), hệt như ngón võ “tập kết ra Bắc” của năm 1954. Người phụ nữ vừa kịp hưởng tuần trăng mật với chồng nay sống trong sự chờ đợi còn nhức nhối hơn Pénéllope chờ chồng sau cuộc chiến thành Troie, bị cột cho sợi dây “vợ bộ đội cụ Hồ” để trói vào guồng máy “lao động quên mình” vì nước vì chồng ! Chính nó là nguyên nhân đẻ ra bao chuyện “bi hài” của xã hội miền Bắc Việt Nam dưới chế độ Hồ Chí Minh, cứ tưởng “như đùa”. Một thí dụ : bệnh viện C (bệnh viện phụ sản đầu ngành của miền Bắc Việt Nam) ở Hà-nội được một bệnh nhân từ Hà Bắc chuyển tới. Bác sỹ Thìn phó giám đốc bệnh viện - đã sống từ chế độ Bảo Ðại, không thể nào ngạc nhiên hơn được khi biết nguyên nhân bệnh nhân bị nhiễm trùng nặng “chỗ kín” là do người chồng bệnh nhân, một tân binh lấy vợ được 3 ngày thì phải “ra trận”, vì quá ghen đã lấy kim chỉ khâu “chỗ ấy“ của vợ lại (chắc vì chưa biết đến loại “thắt lưng trinh tiết” của nước Nga xưa)!!!

Ðiều đáng lưu ý nữa là chính cái cảnh “chồng Nam vợ Bắc” khổ hơn cả vợ chồng ngâu (ít ra một năm được gặp nhau một lần) cộng với đời sống kinh tế khó khăn cùng cực và quyền sinh quyền sát của các cấp uỷ đảng nên chị em vắng chồng trở thành đàn gà con trước cấp uỷ đảng quạ. Nạn chửa hoang, phá thai từ nông thôn đến thành thị là chuyện “quá bình thường”. Người phụ nữ đi phá thai được “đảng và bác” bảo vệ tuyệt đối bí mật (như bí mật quốc phòng). Các cơ sở nạo thai chỉ biết nạo thai theo yêu cầu của người nạo, không cần một giấy giới thiệu nào, không được hỏi họ tên và “tác giả“ của thai nhi. Sáng vào nạo, chiều ra về, cứ như đi lao động “thông tấm”, hàng xóm có tọc mạch cũng đành chịu. Các bào thai nạo ra được chế biến thành thuốc bổ, nghe nói còn hơn “lợn hà nàm”. Ðó cũng là nguồn “lấy thu bù chi” của cơ sở nạo thai, tất cả trực thuộc uỷ ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em do chính ông thủ tướng Phạm Văn Ðồng làm chủ nhiệm và bà Ðinh Thị Cẩn, uỷ viên dự khuyết trung ương cộng đảng từ khóa 3, xuất thân là đầu bếp của ông Hồ Chí Minh, làm phó chủ nhiệm phụ trách thường trực. Thế là dưới chế độ Hồ Chí Minh, tục “người ăn thịt người” được khuyến khích như quốc sách và phụ nữ ngoài chức năng là “đồ chơi”, là “đồ trang sức”, là “nô lệ” lại còn có nhiệm vụ “sản xuất” thêm “chất đạm” - tức thai nhi - cho xã hội !

Còn phụ nữ ở miền Nam thì sao ? Tất nhiên ông Hồ Chí Minh và cái đảng ma-phi-a đã triệt để lợi dụng thể chế chính trị ở miền Nam trước 1975 có lỏng lẻo và nhiều sơ hở, nghĩa là có việc độc tài độc diễn, có việc dân chủ quá trớn, cùng với sự “nhẹ dạ” và “lòng yêu nước” của phụ nữ để lập ra những đội quân “tóc dài”. Những chị Quyên (vợ anh Trổi mà nhà thơ cung đình Tố Hữu “lộn” tên làm thơ khi gọi là Trôi lúc gọi là Trổi !). chị Tạ Thị Kiều, Chị Trần Thị Lý v.v... được đề cao, đến mức Tố Hữu hạ bút vẽ tàu bay... giấy cho chị Lý :

“Em là cô gái hay nàng tiên Em có tuổi hay không có tuổi ? Tóc của em hay là mây là suối?...”

Nhưng cũng chị Lý ấy sau 1975 về ở Ðà-nẳng đến tận 1991 vẫn khổ như ăn mày vì bệnh tật, lương thấp, chồng cũng là thương binh. Ðảng bận hưởng thụ quên đã đành, ngay chính nhà thơ kiêm chính trị và kinh tế gia (loại 3 xu) Tố Hữu cũng quên luôn sau khi lĩnh một đống tiền nhuận bút về bài thơ. Chỉ có chị Quyên, nhờ được vào “bưng” ở với “chú” Nguyễn Hữu Thọ và “chú“ Trần Bạch Ðằng, nên được phóng viên báo Cứu Quốc (Hà-nội) là Thái Duy đi công tác B (tức xâm nhập miền Nam) đổi tên thành nhà văn giải phóng Trần Ðình Vân, phỏng vấn viết một truyện ngắn “người thực việc thực” được đích thân Tố Hữu đặt tên truyện là “Sống như anh”, nên sau 1975, vào lúc anh Trổi được tạc tượng và được đặt tên cho đường phố Sài-gòn, chị Quyên được các chú kiếm cho một tấm chồng khác và được cho ngồi ghế giám đốc nhà hàng Vĩnh Lợi (đường Hàm Nghi, quận nhất, Sài-gòn). Ðúng là có số “quý nhân phù trợ”, mệnh “giáp thọ giáp đằng”!

Còn số phận đội quân tóc dài ? Xin giành để bạn đọc tìm trong truyện ngắn “Tượng đài” của Hoàng Thiếu Phủ đăng trên tờ “Tuổi trẻ cười” hiện nay của Sài-gòn, rất đầy đủ.

Ngoài cái số đội quân tóc dài đó ra, phụ nữ miền Nam Việt Nam có chồng là sỹ quan, binh lính, nhân viên chính quyền Việt Nam Cộng Hòa v.v... bị lừa đi tù (học tập cải tạo) cũng bị đảng ma-phi-a của ông Hồ theo đúng sách của đảng trưởng để lợi dụng “triệt để”. Ðó là đem chị em ra làm phần thưởng cho tù nhân. Tất cả các trại tù của cộng sản Việt Nam đều áp dụng chính sách rằng tù nhân nào “cải tạo tiến bộ” sẽ được phép “ngủ với vợ mình 24 giờ, 48 giờ hoặc hơn” - tùy theo mức độ tiến bộ hoặc số lượng tiền đút lót công an. Trong lịch sử Việt Nam, có lẽ chỉ có cái đảng ma-phi-a của Hồ Chí Minh mới đủ vô liêm sỷ là đem vợ tù ra làm phần thưởng cho tù, chưa kể sự bẩn thỉu thú vật của lũ công an là chọc tường để rình xem vợ chồng tù ngủ với nhau để kháo thành chuyện cười của bọn chúng và trêu chọc người tù được ngủ với vợ của mình !..

Sau sự “đứt phim” năm 1975, miền Nam được “hoàn toàn giải phóng” nên phụ nữ miền Nam được đi vào vết xe đổ của phụ nữ miền Bắc, nghĩa là vừa là “đồ chơi” vừa là “đồ trang sức” vừa là “nô lệ”. Nam thanh niên cũng được vét vào lính để “giải phóng Cam-bốt”, để khi trở về hoặc “lê trên nạng gỗ” hoặc nằm trong bệnh viện “chờ” một chị em nào đó dại dột nghe lời đảng “cõng về làm chồng...hờ”, may mắn lắm thì được hỏa thiêu cho vào lọ sành đem về cho gia đình, hoặc thất nghiệp đi lang thang ngoài phố “chiêm ngưỡng” các anh chị hải quan, thủy thủ tàu viễn dương, công an các loại và con cái giới quan lại đỏ nhậu nhẹt và khoe bộ cánh hợp thời trang ! Và, phụ nữ lại gánh toàn bộ sức nặng của mọi loại hình sản xuất và phục vụ sản xuất của xã hội.

Con đường phụ nữ miền Nam phải đi sau lá cờ đỏ sao vàng hệt như phụ nữ miền Bắc trước đây, đã ai oán rằng :

“Chồng bị bắt lính phương xa Mẹ cha cải tạo chết già rừng sâu Ngày cày thay kiếp ngựa trâu Ðêm làm cái nệm để hầu quan viên : - Ðảng uỷ, chủ tịch ưu tiên Trưởng công an xã tiếp liền theo sau Ơn đảng, nghĩa bác dày sâu Nhân dân thành đĩ, thành trâu hết đời Thấu tình chăng, hỡi Ðất, Trời ?”

Nhiều chị em, chồng bị lừa đi tù (cải tạo), đã phải chịu sự cưỡng ép bán thân cho quan lại đỏ để yên thân nuôi con và có thể đi thăm nuôi chồng, như trong vụ án Hai Hiệp ở Ðồng Nai, hay như bà chủ tiệm phở “Thủy tiên” ở phố Tự Do (Ðồng khởi) Sài-gòn với tên Ngọc, chủ tịch phường... Ngay một diễn viên điện ảnh nổi tiếng, từng bị ghép là nhân viên CIA của Mỹ, cũng đành đến nhà riêng “chú“ Cao Ðăng Chiếm (thứ trưởng công an, phụ trách khu vực miền Nam) cho nên mới được “chú Chiếm” viết lá thư tay cầm ra Hà-nội gặp riêng “chú” Phạm Hùng (bộ trưởng công an), nhờ vậy cô diễn viên có cái phận “Thuý Kiều” đó mới được Hồ Tôn Hiến (của cộng sản chứ không phải của cụ Nguyễn Du) đặc cách cho thăm cả chồng sau và... chồng trước. Hơn thế, ông chồng sau còn được thả sớm hơn cả thượng sỹ canh cửa sân bay Tân Sơn Nhất và được... vào cả quốc hội làm đại biểu của dân (may thiệt).

Ðau khổ của phụ nữ Việt Nam còn phải nhắc đến những người ra đi phải bỏ xác ngoài biển, phải chịu cảnh cưỡng hiếp của hải tặc, phải nằm chôn năm tháng trong các trại với bao nhục nhằn. Mà, tác giả những bất hạnh đó của phụ nữ vẫn là ông Hồ Chí Minh và cái đảng ma-phi-a của ông ta. Còn phải kể đến biết bao chị em bị bán làm nô lệ (dưới cái uyển ngữ “hợp tác lao động”) sang Nga, Trung Ðông v.v... trong cảnh mang con bỏ chợ. Ðược sự “chỉ đạo” của đảng ma-phi-a tác giả các văn tự bán nô lệ đó chính là Trần Ðình Hoan và Nguyễn Thị Hằng - cô bồ tỉnh Thanh của ông lang cách mạng Xuân Thủy. Cho nên đến đại hội đảng ma-phi-a lần 7, cả Hoan lẫn Hằng đều được là trung uỷ chính thức !

Phụ nữ với “mở cửa” và “đổi mới”

Năm 1986, vở hài kịch “mở cửa” và “đổi mới” được quảng cáo rùm beng. Những màn đầu tiên là các khách sạn, nhà hàng xưa kia bị đảng ma-phi-a đổi cho tên mới, nay lại “đổi mới” thành tên cũ, như ở Sài-gòn : Ðồng Khởi trở lại Continental, Hữu Nghị trở lại Palace, 147 Ðồng Khởi trở lại Brodard v.v... và, ngay đó là các cuộc thi đủ loại hoa hậu được tổ chức với sự đỡ đầu của thương nhân nước ngoài. Kinh doanh đĩ điếm là nét đặc trưng của ma-phi-a. Cho nên cái đảng ma-phi-a của ông Hồ Chí Minh cũng không ra ngoài qui luật của trò chơi ma-phi-a thông thường. Chỉ có điều nó được công khai hóa với “mở cửa” và “đổi mới”. Nếu xưa kia - trước 1975 - ở cảng Hải-phòng có những tổ chiêu đãi viên là nữ để phục vụ thủy thủ nước ngoài, kể cả thân xác, do cơ quan an ninh quản lý với lý do vừa thu ngoại tệ (dùng cho công tác gián điệp) vừa moi tin tình báo và tìm cộng sự viên (tức điệp viên) ở nước ngoài, thì nay lực lượng “chiêu đãi viên” nhiều gấp bội lần và công khai hóa, thí dụ như quán Lan Thành ở phố Nguyễn Thiệp, Sài-gòn (phố nối liền Ðồng Khởi - Nguyễn Huệ). Nếu xưa kia ở khu họp hành và nghỉ ngơi của trung ương đảng cộng ma-phi-a gồm những căn nhà kiểu “cottage” của Anh trên dẻo Hồ Tây có những nữ thanh niên được chọn lọc để mua vui cho lãnh đạo đỡ “buốt đầu” thì nay ở ngành nào, bộ nào cũng có nhà khách ở Sài-gòn, Ðà-lạt và người phụ trách nhà khách kiêm việc “kiếm gái” cho lãnh đạo. Nhiều nhân vật nổi lên từ nghề ma-cô quốc doanh này, điển hình là tay Trường, hiện là giám đốc Culturimex của Sài-gòn - cơ quan thuộc bộ văn hóa thông tin của nhạc sỹ cung đình Trần Hoàn (quan thầy của Trịnh Công Sơn).

Trong chính sách “mở cửa” và “đổi mới”, phụ nữ trở thành mặt hàng có thể nói là quan trọng của giới ma-phi-a cầm quyền. Chẳng có thế mà ngay giữa Sài-gòn, một cơ quan gọi là “tìm việc cho thanh niên” thuộc thành đoàn thanh niên do Lê Văn Nuôi làm bí thư, và do thành uỷ quản lý với Võ Trần Chí, uỷ viên bộ chính trị ma-phi-a, đứng đầu, đã công khai tuyển các nữ thanh niên và đánh lừa cho ra các khách sạn ven biển như Vũng-tàu “làm đĩ”. Giám đốc cái cơ sở ma-cô ma-phi-a quốc doanh đó là Nguyễn Anh Dũng. Sự bung ra làm kinh tế đĩ điếm lan sang đến cả các ngành như đường sắt, thư viện, tòa án, bệnh viện v.v... đều lấy mặt bằng làm nhà hàng và tuyển người đẹp, trẻ, nhẹ dạ để làm chiêu đãi viên (tức đĩ). Phụ nữ được từ Nguyễn Văn Linh đến Ðỗ Mười; Võ Văn Kiệt dùng làm mồi câu “Việt kiều yêu nước” và thương nhân nước ngoài. Nhiều “Việt kiều yêu nước” đã “áo gấm về làng” lấy vợ lẽ (vừa là lẽ vừa ít tuổi) ở quê hương để tỏ rõ lòng yêu nước mặn nồng. Chính quyền chắc nhớ đến trường hợp ông tổng bí thư quá cố Lê Duẩn, 3 vợ, nên không gây phiền hà gì cho các “Việt kiều yêu... đa thê”. Phải chăng những người cầm quyền nhớ câu “trai anh hùng năm thê, bảy thiếp” và “bác” Hồ đã phong cho nhân dân Việt Nam là anh hùng, nghĩa là “sấm” cho đệ tử phải dùng võ “phục hồi đa thê” để phục hồi kinh tế, củng cố chính quyền... độc đảng cộng sản ?

Nhiều “Việt kiều yêu nước” thăm quê hương trở ra hải ngoại không ngớt lời khen Hà-nội, Sài-gòn... thay đổi nhiều lắm ! Nhưng, thay đổi cái gì ? Bộ mặt các thành phố, thị xã ở Việt nam hiện nay nhiều màu sắc chói chang là nhờ lực lượng phụ nữ bị chính sách “mở cửa” và “đổi mới” của cộng sản lôi từ nông thôn ra để nhập vào đạo quân thần Bạch Mi, với áo quần hợp thời trang do... buôn lậu nhập vào, đã giết chết hàng nội địa. Số liệu công khai của chính quyền Ðỗ Mười, Võ Văn Kiệt dự đoán có khoảng 600 ngàn điếm ở Việt Nam, hiện nay. Con số đó còn rất xa với sự thật. Nó có thể xấp xỉ số lượng đảng viên của tổng bí thư Ðỗ Mười hiện nay, nhưng có điều tốc độ phát triển của nó nhanh gấp rất nhiều lần tốc độ phát triển đảng (cộng sản), bởi nó được sự quan tâm của cả “ba giòng thác cách mạng” là đảng cộng sản Việt nam, thương nhân nước ngoài và Việt kiều “yêu nước”.

T h a y k ế t l u ậ n

Người dân miền Bắc Việt Nam đã thấy các trò hề về các ngày lễ từ trước 1975. Cho nên đã lưu hành trong dân thơ ghế đá về các ngày “hề” của cộng sản, rằng :

“Nhớ ngày mùng 3 tháng 2 Liềm búa lễ đài máu đỏ mưa sa Nhớ ngày mùng 8 tháng 3 Ðàn ông đi lính, đàn bà đi phu Nhớ ngày 26 tháng 4 Thanh niên chết trận hoặc tù quanh năm Nhớ ngày mùng 1 tháng 5 Công nhân đào đất xây lăng “bác Hồ” Hai mươi tháng 7 lập lờ Thương binh, tử sĩ được tờ “vẻ vang” Bước sang tháng 8 rõ ràng Phất cờ khởi nghĩa, xóm làng mừng vui Nào ngờ vận nước còn xui Mùng 2 tháng 9 ngậm ngùi Việt Nam Aí quốc lại hóa Việt gian Chiến tranh huynh đệ tương tàn từ đây Con côi, vợ góa, mẹ gầy Rừng xanh tàn úa, máu đầy biển Ðông...”

Chừng nào còn là chế độ cộng sản độc đảng trị thì nhân dân Việt nam, nhất là phụ nữ, không thể nào có tự do, hạnh phúc được. Cái gọi là “mở cửa” là mở cửa cho khách tìm hoa lạ và “đổi mới” là đổi mới đối tượng đi tàu bay giấy : khi chiến tranh thì nam thanh niên là những anh hùng “Phù đổng”, và bây giờ với “kinh tế thị trường” (có chỉ đạo) là đạo quân hàng triêu phụ nữ phấn son trong các vũ trường, khách sạn, nhà hàng.

Với Việt Nam lúc này có hai cách nhìn khác nhau : một của những người có ngoại tệ mạnh nhằm hưởng thụ “tứ khoái” và hai là của đại đa số nhân dân Việt Nam còn nghèo khổ, không có tự do, không có hạnh phúc. Caí thứ nhất nhìn từ ánh đèn vũ trường, bàn tiệc nhà hàng, qua đôi vai trần của người phụ nữ phải bán thân xác. Cái thứ hai nhìn qua những túp lều chắp vá, qua bãi rác, qua đồng ruộng bùn lầy, qua rừng hoang tàn, qua bờ hè v.v... Cho nên nghe một người “bàn” về chuyện Việt nam - dù người nước ngoài hay Việt kiều yêu nước hay cò mồi cơ hội hay bồi bút văn nô - đều dễ dàng nhận ra chỗ họ đứng để ngắm con tàu Việt nam.

Còn đại đa số nhân dân Việt Nam, những người dân đen bất hạnh bị thống trị bởi cái đảng ma-phi-a của ông Hồ Chí Minh thì vẫn sáng suốt thấy rằng :

“Ông Anh, ông Kiệt, ông Mười Dở khóc, dở cười biết chọn ông nao Ông nào ông nảo ông nao Một đồng một cốt làm sao bây giờ “Cửa mở” ra phải giấy tờ “Ðổi mới” nhìn lại vẫn thờ mấy ông Ðèn cù cứ chạy lòng vòng Dân chủ cái còng, tự do đói ăn Hạnh phúc chú cuội cung trăng !!!

Viet Thuong

http://www.hungviet.org/suthat010293.html

Vài lời chân thật với Huỳnh Văn Tiểng

Tài liệu:

Vài lời chân thật với Huỳnh Văn Tiểng

Nhân đọc bài của ông Huỳnh Văn Tiểng trên DCVOnline

Nhân đọc bài của ông Huỳnh Văn Tiểng trên DCVOnline


Tôi là một đảng viên cộng sản trên 50 năm tuổi đảng, năm nay đã bước vào tuổi 86, tôi lại vào đảng trước anh nhiều, cho nên tôi biết rõ lịch sử của đảng Dân Chủ. Mà anh cũng biết rõ nó chẳng kém tôi, một thời anh đã được đảng Cộng Sản cử vào ban lãnh đạo đảng Dân Chủ mà, thấy anh ở tuổi gần đất xa trời lẽ ra phải nói thật thì anh lại nói dối, tôi lấy làm lạ.

Sự thật là thế này:

Trong một cuộc họp mấy người trong ban lãnh đạo đảng Cộng Sản. vào cuối tháng 5 đầu tháng 6 năm 1945, (ngày nào tôi không còn nhớ rõ), ở làng Hoàng Mai, có các anh Thận (Trường Chinh), anh Cả (Nguyễn Lương Bằng), anh Tiến “to đầu” (Khuất Duy Tiến), anh Hoàng Quốc Việt (Hạ Bá Cang) bàn chuyện đại chiến thứ hai chấm dứt rồi, mình phải làm gì để chớp lấy thời cơ này. Thế rồi trong lúc bàn các việc linh tinh anh Thận có sáng kiến nên lập thêm mấy đảng nữa để phô trương thanh thế cho Việt Minh (Mặt trận Việt Minh). Anh Hạ Bá Cang bảo việc ấy cứ giao cho anh Hoàng Minh Chính. Anh Chính trẻ nhất, lại hăng hái, việc gì được giao cũng không từ nan. Anh Chính rủ được mấy người trong nhóm Thanh Nghị, mấy người trong Hội Truyền bá Quốc ngữ, chỉ có mấy người thôi, kỳ thực lúc bấy giờ gọi là đảng chứ nó nó chưa là cái gì giống một đảng cả. Anh ở trong Nam, mãi cuối năm 1945 mới theo chân các anh Bùi công Trừng, Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Tạo, Trần Văn Giàu, Cao Hồng Lãnh… ra Hà Nội, vào lúc ấy anh đâu có biết cái đảng ấy mặt ngang mũi dọc nó ra làm sao. Thế thì làm sao anh có thể là đảng viên cái đảng chưa có thật ngay từ năm 1944? Liệu có ai trong những người cộng sản từ trong Nam ra Bắc hồi ấy còn sống có đủ gan xác nhận những lời ba xạo của anh là sự thật?

Ngay cái ngày thành lập của cái đảng ấy cũng là sau này mới được mấy anh trung ương đặt ra cho nó có vẻ là một đảng thôi, chứ tôi biết: chính anh Hoàng Minh Chính cũng không nhớ nó được lập ra ngày nào. Cán bộ của Đảng Dân chủ và tờ báo Độc Lập, cơ quan ngôn luận của nó, đều lĩnh lương của đảng Cộng Sản tuốt, thì những thứ như ngày thành lập, cương lĩnh, điều lệ chẳng qua là sự vẽ rắn thêm chân cho nó có vẻ giống rồng mà thôi. Thế mà anh lại nói: “Thời gian đầu, Đảng Dân chủ có mục tiêu tập hợp lực lượng chống thực dân, đế quốc. Quá trình tồn tại, Đảng Dân chủ đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc tập hợp những nhà tư sản yêu nước ủng hộ, hợp tác với Đảng Cộng sản Đông Dương đánh đuổi thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Năm 1988, Đảng Dân chủ tự giải thể vì xét thấy đã hoàn thành nhiệm vụ chính trị của mình”. Cái câu “Đảng Dân chủ đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc tập hợp những nhà tư sản yêu nước ủng hộ, hợp tác với Đảng Cộng sản Đông Dương đánh đuổi thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc” - là anh nói vống lên, chứ đảng Dân Chủ đâu có được hợp tác với Đảng Cộng sản Đông Dương. Hợp tác là phải bình đẳng với nhau mới gọi là hợp tác, chứ Đảng Dân chủ được lập ra chỉ để làm cho cái biển hiệu của đảng Cộng sản Đông Dương thêm đẹp mắt - giấu đi cái chuyên chính vô sản để không bị người ta sợ người ta tránh - thì bình đẳng với hợp tác cái nỗi gì?!

Là người trong ban lãnh đạo Đảng Dân chủ một thời gian, anh lĩnh lương ở đâu? Của đảng Dân Chủ ư? Không phải! Anh lĩnh lương của đảng Cộng Sản ở Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam, nhưng kiêm nhiệm một cái chức hữu danh vô thực ở đảng Dân Chủ. Sao anh không nói cái sự thật này ra? Mà chẳng phải mình anh, người trong Đảng Dân chủ đều lĩnh lương của đảng Cộng Sản cả. Anh Nguyễn Việt Nam làm chủ nhiệm báo Độc lập, anh Ngô Quân Miện làm thư ký toà soạn cũng là người của đảng Cộng Sản hết, mặc dầu các anh ấy không có tuổi đảng bằng anh, họ chỉ là công chức thường mãi cho tới khi được đảng Cộng Sản nhận vào hàng ngũ.

Có một Tổng thư ký Đảng Dân chủ đúng là không phải đảng viên cộng sản là ông Nghiêm Xuân Yêm. Khi biết ông ấy nộp đơn xin gia nhập đảng Cộng Sản, ông Hồ Chí Minh mới gọi ông ấy tới mà bảo rằng: “Chú không cần phải vào Đảng Cộng Sản làm gì. Chú cứ ở cái vị trí của chú là có lợi cho Đảng hơn cả, Đảng bao giờ cũng coi chú là người cộng sản, coi chú như đảng viên”. Chuyện này nhiều người Hà Nội biết, do chính ông Nghiêm Xuân Yêm nói ra. Ông Yêm tự hào về câu nói ấy của ông Hồ Chí Minh lắm.

Anh lại nói: anh Hoàng Minh Chính bị Đảng Dân chủ khai trừ vì anh ấy chống đảng. Thật nực cười. Đảng Dân Chủ có làm gì mà anh ấy chống? Đảng ấy không làm gì cả, ngoài vai trò vật trang trí. Anh Chính rời khỏi chức vụ Tổng thư ký đảng Dân Chủ là tại đảng Cộng Sản cử anh ấy đi làm công tác khác đấy chứ. Cho đến khi đi học trường đảng Liên Xô về anh Chính vẫn còn là một đảng viên cộng sản thuần thành cơ mà. Năm 1956 anh ấy còn viết giúp anh Trường Chinh cái báo cáo chính trị, nhưng không được dùng vì bị xem là ủng hộ đường lối mở rộng dân chủ của Khơ Rút Sốp. Cũng từ đó anh Chính mới xa rời cái chuyên chính vô sản, mới bị đảng Cộng Sản tặng cho cái danh hiệu "xét lại hiện đại", hành lên hành xuống, cho vào tù mấy lần trên chục năm. Hoàng Minh Chính có bị khai trừ thật, nhưng là đảng Cộng Sản khai trừ chứ không phải là đảng Dân Chủ.

Còn cái chuyện anh bảo đảng Dân chủ tự giải thể vì xét thấy đã hoàn thành nhiệm vụ chính trị của mình thì rõ là quá xạo. Không một đảng viên cộng sản nào không biết cả hai đảng dân chủ và xã hội cùng giải thể một lúc là do lệnh của Ba Duẩn. Ba Duẩn thấy để hai cái đảng ấy sống thêm là vô tích sự thì Ba Duẩn cho nó chết, đỡ lằng nhằng. Xạo nữa là anh buộc cho Hoàng Minh Chính cái tội chủ trương chỉ cho những người giàu mới được đến Hà Nội học. Vào năm 1946 thì học cái gì hở anh Tiểng? Mà đảng Dân Chủ thì có tiền đâu để mà cấp học bổng cho người này hoặc người kia! Nó cũng chẳng có quyền để cấm ai học đâu.

Cũng có cái anh nói đúng sự thật: ấy là “Đảng Dân chủ hiện nay mà ông Hoàng Minh Chính lên tiếng “khôi phục” thì về bản chất đã khác Đảng Dân chủ từng tồn tại từ năm 1944 đến 1988”. Nếu Đảng Dân chủ mà ông Chính muốn khôi phục để cho nó làm đúng cái nhiệm vụ bưng bê cho đảng Cộng Sản như nó từng làm bằng ấy năm thì chắc chắn trang báo VietnamNet đâu có phỏng vấn anh Tiểng làm gì. Nó phỏng vấn anh với mục đích nhờ miệng anh để vu cáo bôi nhọ Hoàng Minh Chính, vì nó biết, hay nói cho đúng hơn là cha chú nó biết, cha chú nó sợ cái đảng này nó khác cái đảng Dân Chủ trước kia nên mới bảo nó bầy trò ra để chống.

Anh Chính chỉ mượn cái tiếng rằng trước kia đã có đảng Dân Chủ, cái đảng ấy tuyên bố “tự giải thể” chứ có ai cấm nó đâu, nay nó không thích tự giải thể nữa thì nó phục hồi sinh hoạt, có gì lạ.

Tất nhiên Đảng cộng sản muốn bóp chết nó ngay lập tức, nhưng thời nay đã khác thời xưa, không bóp chết được thì phải bày trò ngăn cản. Anh còn được hưởng quả thực mà đảng Cộng Sản chiếm được của nhân dân nên anh phải hưởng ứng nó, tôi không lấy làm lạ. Thói thường là vậy. Nhưng chẳng gì anh cũng được tiếng là người có học, anh ăn cái bã mía ấy mà làm điều bất lương là ngậm máu phun người như thế không thấy tủi hổ sao? Anh phải nghĩ đến con cháu anh nữa chứ. Đừng để cho chúng nó phải xấu hổ vì anh.

Chính vì phải tránh xa những hành động tàn bạo, những trò bỉ ổi chính trị của đảng Cộng Sản mà tôi ra khỏi cái đảng này. Tôi cũng nghĩ tới con cháu tôi nữa. Tôi muốn chúng nó là người lương thiện, nên tôi phải lương thiện trước, cho chúng nó theo. Anh không thấy rằng những người yêu nước không thể có chỗ đứng trong đảng Cộng Sản Việt Nam sao? Kể cả những người vẫn yêu thích chủ nghĩa cộng sản thuần tuý về lý thuyết cũng không chấp nhận đứng chung với những kẻ nhân danh nó áp đặt một bộ máy cai trị độc tài và vi phạm nhân quyền đến mức khủng khiếp như hiện nay.

Chỉ có những kẻ tự nguyện làm tay sai cho mấy tên lãnh tụ là còn ở lại thôi. Vì thế mà tôi trọng Hoàng Minh Chính. Vì thế mà tôi khinh anh, anh Tiểng ạ.

Hà Nội 8/06/2006
Khuất Duy Quốc

http://hungviet.org/vact/khuatduyquoc080606.html
---
- DCVOnline - Vài lời chân thật với Huỳnh Văn Tiểng
Khuất Duy Quốc Nhân đọc bài của ông Huỳnh Văn Tiểng trên DCVOnline Tôi là một đảng viên cộng sản trên 50 năm tuổi đảng, năm nay đã bước vào tuổi 86, ...www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=print&sid=1852
- DCVOnline - Vài lời chân thật với Huỳnh Văn Tiểng
Hoan hô và cám ơn ông Khuất Duy Quốc, một cựu đảng viên CSVN ... Cám ơn tg Khuất Duy Quốc đã viết lên những sự thật về ĐDCVN để mọi người tường tận. ...www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=1852
- Tin Tuc khap noi
Khuất Duy Quốc. Là một đảng viên cộng sản trên 50 năm tuổi đảng, năm nay đã bước vào tuổi 86, ... Vì thế mà tôi khinh anh, anh Tiểng ạ. Khuất Duy Quốc.tiengnoigiaodan.net/anews/un060865.html
- Chơi trò đá giò lái
Sau bài của ông Tiểng, ông Khuất Duy Quốc, một đảng viên cộng sản với trên 50 ... Ở cuối bài, ông Khuất Duy Quốc đã nói với ông Huỳnh Văn Tiểng và Đảng CSVN ...motgoctroi.com/Mtmchuyen/ChoiTroDaGioLai.htm
-

VŨ ANH KHANH NHÀ VĂN KHÁNG CHIẾN ÐẦU TIÊN CHỐNG LẠI CỘNG SẢN VIỆT NAM

VŨ ANH KHANH NHÀ VĂN KHÁNG CHIẾN ÐẦU TIÊN CHỐNG LẠI CỘNG SẢN VIỆT NAM



Vũ Anh Khanh và Xuân Vũ là hai người bạn chí thân trong văn chương và quảng đời dấn thân chống Pháp cưú nước suốt chín năm máu lửa 1945-1954, khi thực dân trở lại dày xéo quê hương Việt lần thứ hai. Mang chí cả của người trai thời loạn, sống hết mình cho lý tưởng phụng sự đất nước , hai ông cũng như bao nhiêu người con thân yêu của Mẹ, lầm đường lạc lối trước những xảo thuật chính trị tuyên truyền của đệ tam quốc tế, qua cái bình phong Mặt trận Việt Minh, nên ngày hòa bình trở lại năm 1954, đã hăm hở tập kết về bắc. Nhưng than ôi tất cả chỉ là ảo vọng khi cái mặt thật của thiên đường xã nghĩa hiện ra trong máu lệ, qua cảnh đời nghèo đói bất công và nổi cùng khốn tận tuyệt của dân chúng vô tội bên bờ này vỹ tuyến, qua cái gọi là cải cách ruộng đất và vụ án trăm hoa đua nở, mà chánh quyền cọng sản rập khuông theo Trung Cộng để diệt các tầng lớp phú, nông,thợ thuyền và trí thức VN, những người đã làm đá lót đường, làm cầu qua sông, làm phương tiện cho đảng chiếm được nửa nước để thụ hưởng và cầm quyền.

Như Phùng Quán đã viết :

“Tôi đã đi qua những xóm làng chiến tranh vừa chấm dứt,
Tôi đã gặp những bà mẹ già quấn dẻ rách
Da đen như củi cháy giữa rừng
Kéo dây thép gai tay máu chảy ròng
Bới đồn giặc trồng ngô trỉa lúa..
Yêu ai cứ bảo là yêu,
Ghét ai cứ bảo là ghét..”

Thế nên hai người đã quyết ý phải từ bỏ thiên đường đang ngoi ngóp sống, để quay về với Mẹ với em, với những thân thương đang ràn rụa nước mắt đợi chờ. Nhưng than ôi, số đời đã định, cùng ra đi trong khi Xuân Vũ biết rằng “ Ðường đi không đến” thì lại đến vào năm 1965 tại Củ Chi. Trong lúc đó Vũ Anh Khanh đã sắp vói tay được vào bờ nam dòng sông vỹ tuyến, thì một mũi tên tẳm thuốc độc vô tình đã kết liểu cuộc đời tài hoa của người chiến sĩ vào năm 1956.

Trên tờ Văn Hoá VN, số 14 mùa thu 2001, xuất bản tại Houston Texas , Xuân Vũ nhớ bạn có nhắc lại câu thơ : “ Vũ Anh Khanh, quê hương còn ly loạn”, rồi kể lại câu chuyện của một người chết không mồ. Cuộc đời như vậy sao mà không buồn ? nhất là qua biến cố 30-4-1975 đã cho chúng ta thấy một cách minh bạch rằng chế độ thực dân đồng chủng hay dị chủng, Pháp hay Việt cộng bản chất vẫn như nhau và những điều mà các nhà văn kháng chiến miền Nam, trong đó kiệt hiệt nhất là con chim đầu đàn Vũ Anh Khanh, Người Bình Thuận-Phan Thiết của miền Trung duy nhất, qua các bản cáo trạng, tới nay vẫn còn giá trị. Có điều thật là bất công và tàn nhẩn đối với những người yêu nước, trong đó có Vũ Anh Khanh, tại VNCH miền đất được mệnh danh là tự do dân chủ. Càng mai mĩa thay, trong khi chương trình Việt sử bậc Trung và Ðại Học, chính phủ Quốc Gia đã long trọng đề cập tới cuộc kháng chiến của Dân Tộc qua sự nghiệp lật đổ ách thống trị của Thực dân Pháp từ 1945-1954 tại Nam Kỳ và việc chấp nhận bản Thanh niên hành khúc của Lưu hửu Phước làm Quốc Thiều VN, sau khi được sửa chữa một vài chữ. Ai cũng biết họ Lưu là Việt Cộng chứ không phải Việt Minh, nhất là sau khi Miền Nam mất nước, ngày 20-8-1975, Lưu hửu Phước qua chức phận Bộ Trưởng Thông Tin Văn Hoá của cái Chính phủ Lâm thời CHMN, đã ký nghị định “ Ðốt sách chôn học trò “ trên khắp lãnh thổ VNCH củ. Trong khi đó chỉ vì chính trị và định kiến hẹp hòi, Miền Nam đã gạt bỏ những người yêu nước như Vũ Anh Khanh, kể luôn các tác phẩm của ông, chỉ vì nội dung sách như những bản cáo trạng, tố cáo thẳng bọn cầm quyền hại dân bán nước ở bất cứ chế độ nào. Ngày nay trắng đen đã rỏ, chỉ đau đớn là Quê Hương vẫn còn ly loạn ma xác thân của người chiến sĩ không biết đã trôi giạt về đâu ?

+ VŨ ANH KHANH QUA MINH HỌA CỦA NHÀ VĂN XUÂN VŨ :



Từ các tài liệu rất ít ỏi còn sót lại, được biết Vũ Anh Khanh tên thật là Võ Văn Khanh, sanh năm 1926 tại Mũi Né, quận Hải Long, tỉnh Bình Thuận. Ngoài bút hiệu trên, ông còn ký tên Vương Ấu Khương khi viết truyện ngắn “ Mắt xanh sống vẫn lầm than bụi đời” đăng trên tờ Xuân VN vào Tết năm 1951.

Mũi Né, quê hương của nhà văn hiện nay là một trong những khu du lịch nổi tiếng của VN, vốn là một thị trấn miền biển bao gồm hai xã Khánh Thiện và Thạch Long, nằm cách Phan Thiết về hướng đông bắc chừng 20 km, thời nào cũng vẫn là miền đất trù phú và thơ mộng của tỉnh Bình Thuận. Ba trăm năm qua như một giấc mộng nhưng cái tên Mũi Né vẫn tồn tại trong tâm khảm của mọi người, cho dù trên giáy tờ hay bản đồ qua thời gian với bao nhiêu cái tên như Vị Nê, Cap Nê, Hải Long, Hàm Dũng và gì gì nữa trong tương lai. Ðiều trên cũng giống như thân phận của nhà văn Vũ Anh Khanh, kẻ chết không mồ nhưng vẫn sống mãi với những tác phẩm đấu tranh để đời mà ai cũng biết tới , dù đã có thời gian và ngay bây giờ chúng vẫn bị cấm đọc hay quảng bá. Sách của ông không nhiều vì cuộc sống của nhà văn ngắn ngủi, hơn nữa trong lúc văn thi tài đang lên như diều gặp gió, thì năm 1950 ông đột ngột từ bỏ thành đô hoa lệ, sau một chuyến viếng thăm Tha La xóm đạo, một làng quê êm đềm thơ mộng như chính quê hương Mũi Né của ông với những rặng dừa xanh ẻo lã, chạy song song với đồi cát trùng trùng, ngày tháng nép mình ôm ấp biển xanh :

“ Ðây Tha La xóm đạo,
Có trái ngọt cây lành
Tôi về thăm xóm Ðạo
Giữa mùa nắng vàng hanh..”

Nhưng rồi giặc đến, vào làng giết người cướp của, cuộc sống an bình của quê hương bổng chốc thành máu lệ, bao nam nử đã ra đi để hiến mình cho quê hương đất nước, chỉ còn lại nổi tang tóc, buồn hiu :

“ Kính thưa cụ, vì sao Tha La vắng ?
Cụ ngạo nghễ cười rung rung râu trắng
Nhẹ bảo chàng, em chẳng biết gì ư ?
Bao năm qua khói lửa phủ mịt mù
Người nước Việt ra đi vì nước Việt.”
(Tha La xóm Ðạo-Vũ Anh Khanh ).

Ðó chính là lý do, khiến ông đã từ bỏ tất cả để dấn thân vào cuộc kháng chiến chống Pháp đang bùng nổ dữ dội khắp nước, dù lúc đó là một nhà văn độc nhất, đang có nhiều sách bán chạy như chuyện dài BẠC XÍU LÌN, được Tiếng Chuông xuất bản năm 1949, chỉ trong 2 tháng đã bán hết 10.000 cuốn, sau đó phải tái bản nhiều lần vẫn không cung ứng nhu cầu của người ái mộ. Nói chung theo giáo sư Nguyễn văn Sâm viết trong “ Văn Chương Nam Bộ và cuộc kháng Pháp 1945-1950, thì hầu hết tác phẩm của Vũ Anh Khanh rất có giá trị và tiêu biểu trong dòng văn chương đấu tranh thời đó, dù là thơ như CHIẾN SĨ HÀNH (Tân VN, Sài Gòn 1949), Truyện dài NỮA BỒ XƯƠNG KHÔ gồm 2 tập (Tân VN, Sài Gòn 1949), CÂY NÁ TRẮC (Tân Việt, Sài Gòn 1947), truyện ngắn NGŨ TỬ TƯ (Tân VN, Sài Gòn 1949), ÐẦM Ô RÔ (Tiếng Chuông, Sài Gòn 1949), SÔNG MÁU ( Tiếng Chuông, Sài Gòn 1949) và BÊN KIA SÔNG ( Tân VN, Sài Gòn 1949).Riêng bài thơ Tha La Xóm Ðạo của ông, sau này được nhạc sĩ Dũng Chinh, tên thật là Nguyễn văn Chính, cũng là người Phan Thiết, phổ nhạc và rất được mọi người ưa thích nhất là qua giọng hát truyền cảm tha thiết trầm buồn của nam ca sĩ Anh Khoa cũng là người Bình Thuận, giống như bài “ Hoa trắng thôi cài trên áo trắng” của thi sĩ Kiên Giang. Ngoài ra soạn giả cải lương nổi tiếng Viễn Châu cũng đã mượn ý của Vũ Anh Khanh để viết tình khúc tân cổ giao duyên “ Tha La xóm đạo”.

Theo Xuân Vũ thì Vũ Anh Khanh lớn hơn ông chừng vài tuổi, hai người đã quen biết nhau khi cùng ở chung trong hàng ngủ kháng chiến quân, gọi tắt là Việt Minh, một tổ chức chống Pháp qui tụ toàn dân VN không phân biệt đảng phái chính trị. Theo hí họa của họa sĩ Thanh Long và các bằng hửu lúc đó đang phục vụ tại Ban Tuyên Huấn, Phòng Chính Trị, đóng ở Cái Thun, gần Cái Chanh Lớn, miệt Cạnh Ðền miền tây Nam Phần. Qua nhận xét của các Thi sĩ Rum Bảo Việt, Nguyễn văn Trị , Ðiêu khắc sư Trần văn Lắm, Sơn Nam, Hà Huy Hà, các họa sĩ Thanh Tòng, Thanh Long, Hoàng Tuyển, nhà thơ Việt Ánh, nhạc sĩ Nguyễn Hửu Trí, Phạm công Nhiều, Quốc Hương và Xuân Vu, thì Vũ Anh Khanh lúc đó dù là một nhà văn đang nổi tiếng và có rất nhiều tác phẩm bán chạy, lại là một sĩ quan, đã tốt nghiệp tại Trường Lục quân, thuộc Phân hiệu II Trần Quốc Tuấn nhưng tánh tình khiêm cung, hiền hậu, có thể nói là chẳng bao giờ để lộ cái tôi ra ngoài, khiến cho cả đơn vị kể luôn Xuân Vũ lúc đó, không hề biết ông là ai.

Ðiều này cũng chẳng có gì lạ, vì với những tâm hồn nghệ sĩ lớn như Vũ Anh Khanh, thì chuyện viết lách, làm thơ , phát biểu những ẩn ức trong lòng, được coi như lẽ sống của kẻ cầm bút, chứ đâu cần phải phô trương dao to búa lờn để lòe thiên hạ ?. Vẫn theo Xuân Vũ thì dường như đã có một điều gì khác lạ, nên từ năm 1950 khi về phục vụ tại cơ quan chính trị kháng chiến, không hiểu vì lý do gì Vũ Anh Khanh trở nên bất động, thậm chí tại Khu có tờ báo mang tên Tiếng Súng Kháng địch, sau đổi thành tờ Quân Ðội Nhân Dân Miền Tây, vậy mà Vũ Anh Khanh hầu như không hề biết tới, kể cả những lúc sinh hoạt cũng chẳng hề có ý kiến, nếu bị hỏi tới mới nói :” tôi đồng ý thế thôi“.

Như vậy , chẳng lẽ lúc đó ông đã nhận ra cái mặt thật của Việt Minh đang bị Việt Cộng núp bóng điều khiển hay vì cực khổ nên hối hận ? cả hai thắc mắc không thấy Xuân Vũ đề cập tới, ngoài một thố lộ chân thành là Vũ Anh Khanh với người bạn kháng chiến Nguyễn hữu Trí, em ruột tướng Nguyễn Sơn, xuất thân trong một gia đình vọng tộc, đại diền chủ tỉnh Vĩnh Long, và Vũ Anh Khanh cũng thuộc một gia đình giàu có ở Mũi Né, Phan Thiết.. nên trong lúc cả nhóm đi cải thiện sinh hoạt, kiếm thêm chất tươi để bồi dưởng vì thức ăn hằng ngày chỉ có muối, chao và các loại rau dại. Những lúc này, hình như Vũ Anh Khanh không biết làm gì cả ngoài việc quơ quào các thứ rau má ngoài vườn, hỏi sao không đi cắm câu, bắt cá thì ông chỉ cười và trả lời từ nhỏ tới lớn, gia đình không cho làm chuyện này, dù rằng tại quê hương Mũi Né của ông cũng có vườn, ruộng và biển. Thêm một chi tiết khác là ông còn độc thân cho tới lúc qua đời. Cũng theo lởi kể của Xuân Vũ, thì hai ông sống chung rất lâu nhưng năm 1954 tập kết ra Bắc, Xuân Vũ đi tại bến Chắc Băng, Cà Mâu và chỉ gặp lại Vũ Anh Khanh tại Hà Nội trong khu tập thể của dân Nam Kỳ tập kết.

+ XUÂN VŨ KỂ LẠI CÁI CHẾT CỦA VŨ ANH KHANH :

Ngay khi vừa ký kết hiệp định ngưng bắn năm 1954 tại Genève chia đôi đất nước, Bắc Việt đã mở ngay chiến dịch tuyên truyền về cái gọi là Kháng chiến VN, đánh dưổi Pháp-Nhật do đảng cọng sản lảnh đạo, bằng cách cho nhiều phái đoàn văn nghệ sĩ VN đến các nước thân cộng, cọng sản, trung lập hay có liên hệ ngoại giao để tuyên truyền. Trong chiến dịch qui mô này, Hồ đã cho Nguyẽn văn Bổng, tức Trần Hiếu Minh sau này được cài vào VNCH tổng chỉ huy đám văn nghệ sĩ nằm vùng, Ðoàn Giỏi, Anh Thơ, Nguyễn Ngọc, Nguyễn Tuân đi Tân Tây Lan và Úc Ðại Lợi. Nguyễn đình Thi, Nguyễn Huy Tưỏng đi Liên Xô, Trung Cộng, Tô Hoài đi Ðông Âu còn Nguyễn công Hoan, Võ Huy Tâm, Phạm hửu Tùng và Vũ Anh Khanh đi Ấn Ðộ.

Trước khi đi, Khanh có đến thăm các bạn Nam Kỳ trẻ tập kết lúc đó chưa có tiếng tăm gì như Nguyễn quang Sáng, Bùi Ðức Ái, Xuân Vũ.. đối với cây đại thụ trong làng thi văn Nam Kỳ là Vũ Anh Khanh. Bao nụ cười ra nước mắt, những đáng cay chua xót của kiếp người nhất là những người văn nghệ sĩ có tim, óc và tri thức đã được Xuân Vũ đắng cay cười cợt diễn tả nhắc lại qua các mẫu đối thoại giữa hai người bạn thân cùng trong cảnh ngộ lầm đường lạc lối, bỏ tất cả để hôm nay chuốc lấy sự nản phiền và đau lòng.

Có đọc Xuân Vũ mới biết về Vũ Anh Khanh, có nghe Xuân Vũ tự sự về bạn mình từ lúc sống với nhau trong khu đồng chua nưóc mặn ở tận cùng cảnh nghèo cực của miền tây Nam Kỳ và sau này trong thiên đàng xã nghĩa chết bỏ tại Bắc Việt , ta mới nghiêng mình cảm phục những tâm hồn hy sinh vì nước của các đại gia công tử giàu sang phú quý như Vũ Anh Khanh, như Trí và cũng vì đã từng sống trong cảnh giàu , trước khi dấn thân vào con đường chông gai chống Pháp, họ đã biết tự trọng như việc Vũ Anh Khanh mượn quần áo sang của Ðảng để diện khi đi ngoại quốc làm vẹt tuyên truyền, lúc về vẫn hoàn trả nguyên vẹn, mà theo bè bạn lúc đó là chuyện điên rồ. Cũng theo Xuân Vũ thì mới đây, nhà văn Nhuệ Hồng viết trên tờ Thời Luận hải ngoại, cho biết năm đó ông đại diện cho VNCH cùng đi dự Hội nghị các nưóc Á Phi và có gặp Vũ Anh Khanh tại New Delhi, thủ đô của Ấn Ðộ. Chắc chắn đây là nguyên nhân thúc đẩy ông tìm đường về Nam, một việc đã nung nấu từ lâu nhưng không thực hiện được hoặc vì một lý do thầm kín mà chúng ta không biết được vì bản tính của Vũ Anh Khanh trước sau kín như bưng, kể cả người bạn thân Xuân Vũ cũng không hiểu đươc.

Sau khi ở hội nghị về, Vũ Anh Khanh có mua một chai rượu quý của Anh quốc để giải sầu với đám bạn bè Nam Kỳ tập kết. Theo Việt Thường trong tác phẩm “Chuyện thâm cung DTDHCM” thì năm đó (1956), tình hình miền Bắc vô cùng rối loan, nhất là trong Bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc, thuộc sư đoàn của Ðồng văn Cống và Tô Ký, bất mãn nên nổi loạn cưóp phá tỉnh Ninh Bình, còn một số bỏ đơn vị trốn chạy về Nam. Giống như tâm trạng của những người bộ đội trên, Vũ Anh Khanh đã kín đáo mượn cớ đi Ấn Ðộ về, ông dùng rượu để chia tay bạn bè thay lời vĩnh biệt, vì sau đó trong một cuộc Hội nghị khoáng đại của Hội Liên Hiệp Văn Nghệ, Xuân Vũ mói biết tin Vũ Anh Khanh đã chết ở Vĩnh Linh, Quảng Trị vì tai nạn.

Sự thật theo tiết lộ của Võ hồng Cương, phó Tổng thư ký Hội cũng là Cục phó Cục Tuyên Huấn quân đội nhân dân Bắc Việt thì năm 1956, Vũ Anh Khanh được nghĩ phép ở Vĩnh Phúc nhưng ông đã sửa giấy phép thành Vỉnh Linh, Quảng Trị và từ đó bơi qua sông Bến Hải quảng trên cầu Hiền Lương vài cây số, quyết tâm về Nam tìm tự do nhưng hởi ơi Trời không thương người hiền, nên khi sắp tới bến tự do thì bị Bộ đội biên phòng bờ Bắc phát giác và để khỏi bị Ủy ban quốc tế làm biên bản vi phạm Hiệp định ngưng bắn, thay vì dùng súng, Việt Cộng dùng tên tẳm thuốc độc bắn chết Vũ Anh Khanh. Sông Bến Hải lớn hơn sông Mường Mán tại Phan Thiết và thủy triều lên xuống bất thường, nên xác của người chết nhất là một phạm nhân vượt tuyến nếu may mắn không bị trôi ra biển đông hay xuôi về mạn ngược, mà tắp vào một bãi bờ nào đó trong khu phi quân sự, thì chắc chắn cũng được dân chúng vùi dập vội vả để làm phước, chứ đâu có ai dám truy nguyên lý lịch của nạn nhân, để tự chuốc họa cho mình ?

Mấy năm sau Xuân Vũ theo phái đoàn văn nghệ đi công tác ở Vĩnh Linh, Quảng Trị và ông cũng đã có ý định như Vũ Anh Khanh , bơi qua sông tìm tư do nhưng khi chợt nhớ tới giọng ngâm sang sảng năm nào của người quá cố: “Vũ Anh Khanh, quê hương còn ly loạn”.. thì tỉnh ngộ, nhờ vậy trong cuộc trường kỳ “ đường đi không tới “ nhưng cuối cùng ông đã tìm được tự do thật sự khi ra hồi chánh vào năm1965 tại Củ Chi, Hậu Nghĩa.

+ VŨ ANH KHANH, MỘT ÐỜI ÐÁNG KÍNH :

Sống trong buổi loan ly, nhà tan nước mất, chỉ có một thiểu số không tim óc dửng dưng nhìn thế sự xoay vần, mặc cho quốc dân bị đè bẹp dưới gót sắt của ngoại bang. Nhưng tuyệt đại đa số dân chúng VN đã đứng dậy hưởng ứng phong trào chống trả với giặc thù. Cuối tháng 12-1946, quân Pháp ch1nh thức làm chủ Sài Gòn và cũng giống như lần trước, giặc đã gặp phải sự Ư khábg cự của toàn dân. Lần trước vào năm 1862, người Việt dùng những vũ khí thô sơ và lòng yêu nước để chống chọi với súng đạn tối tân. Lần này, người Việt tuy vô Chánh phủ và thực tế chỉ là những lực lượng tự phát nhưng lại có trong tay các loại vũ khí hiện đại như người Pháp, của Nhật để lại. Thêm vào đó là tim óc của các tầng lớp trí thức tân học, thể hiện qua các tác phẩm tuyên truyền, những lời hiệu triệu, những tờ truyền đơn nẩy lửa, tố cáo sự dã man của Pháp, đồng thời kêu gọi toàn dân đứng lên đáp lời sông núi, tiêu diệt kẻ thù. Ngày xưa các cụ Ðồ Chiểu, Huỳnh mẫn Ðạt,Nguyễn Thông, Phan văn Trị.. cũng đã từng dùng thơ văn cổ xúy cho cuộc kháng Pháp của Trương Ðịnh, Nguyễn trung Trực, Thủ khoa Huân, Thiên hộ Dương.. nhưng lúc đó vì phương tiện và hoàn cảnh eo hẹp nên ảnh hưởng không được bao nhiêu. Trái lại khoảng thời gian năm năm 1945-1950, các nhà văn, nhà thơ, nhà báo , nói chung là văn nghệ sĩ miền Nam đã tiếp tay cho kháng chiến một cách tích cực, góp phần lớn với toàn dân cả nước, tạo nên chiến thắng Ðiện Biên Phủ năm 1954, thu lại nền hòa bình độc lập cho đất nước .

Trong chiều hướng trên, các tác phẩm văn xuôi của Vũ Anh Khanh, từ truyện ngắn cho tới truyện dài, qua nhận xét của các nhà nghiên cứu văn học hiện đại, trong đó có giáo sư đại học Nguyễn văn Sâm, đều đáng được xem là những tiêu biểu nhắm vào các mục đích đấu tranh nhằm tố cáo chính sách ngu dân của thực dân Pháp, làm cản trở sự tiến hóa của dân tộc VN. Tình trạng tạo nên cảnh ngu dân này, trước đây cũng đã được các nhà ái quốc tiền phong như Phan bội Châu, Phan chu Trinh.. đặt thẳng vấn đề với nhà cầm quyền Pháp nhưng có lẽ quyết liệt hơn hết là tôn chỉ của VN Quốc dân đảng,được cố Ðảng trưởng Nguyễn thái Học, viết trong bức thư tuyệt mệnh vào tháng 3-1930 gởi cho Hạ nghị viện Pháp , yêu cầu mở trường cũng như cải tổ nền giáo dục tại VN. Nối tiếp tâm nguyện của tiền nhân, Vũ Anh Khanh qua các tác phẩm BÊN KIA SÔNG và CÂY NÁ TRẮC, đã công khai tố cáo Pháp cố tâm ngăn chận sự học hành của VN,Trong truyện ngắn MỘT ÐÊM TRĂNG, Vũ Anh Khanh qua lời nhân vật của mình, đã thổn thức :”.. Dân VN hiếu học nhưng bao lâu nay, họ cam tâm chịu dốt nát vì bị người ta tìm cách chèn ép..” Hậu quả trên đã tạo nên tuyệt đại tầng lớp dân chúng thất học, chịu câm lặng cúi gập trước nổi bất công phi lý, như hầu hết các nhân vật trong truyện dài NỬA BỒ XƯƠNG KHÔ gánh chịu.

Song song, ông còn mạnh mẽ tố cáo Pháp cố tình tạo nên một xã hội băng hoại, để đầu độc dân tộc VN, là tác giả của những tệ nạn rượu chè, hút sách, cờ bạc, đĩ điếm, công khai khuyến khích hay dùng bạo lực bắt dân chúng phải mua rượu, trồng nha phiến, mở sòng bạc, ổ điếm. Tất cả những tệ nạn xã hội trên đều được Vũ Anh Khanh ghi lại đầy đủ và nát tim trong các tác phẩm BẠC XÍU LÌN, SÔNG MÁU và ÐẦM Ô RÔ .. Tất cả các cơ sở trụy lạc trên đều nhan nhản khắp nước, đặc biệt là tại Hà Nội, Hải Phòng và nổi tiếng ở Sài Gòn-Chợ Lớn với hai sòng bạc Kim Chung và Ðại thế giới, do các xì thẩu Hoa,Ấn và Pháp kiều toa rập làm chủ, kết quả nhiều người Việt vì say mê cờ bạc, thần đề, bàn đèn, đĩ điếm.. phải tan gia bại sản và cuối cùng đã :

“... bán con, thế vợ, đợ chồng
hết cơ, mất nghiệp, thần vòng rũ đi..”

Sau rốt, ông đã tố cáo thực dân làm cho người VN trở thành lạc hậu, hung tàn, mất hết bản tánh con người văn hiến. Trong lãnh vực này, Vũ Anh Khanh xứng đáng là một chiến sĩ,, một nhà văn can trường khi dám dùng trí óc như những phát súng thần công nhắm thẳng vào bọn cầm quyền Pháp, lũ xì thẩu bất nhân Hoa kiều và đám tư bản bốc lột Ấn Ðộ, chuyên sống ký sinh trên thân thể đầm đià máu lệ của người Việt, qua các truyện ngắn như ‘ Sài Gòn ơi, Ma thiên Lãnh, Hối tắc.. ‘ . Nói tóm lại dưới chế độ thực dân, qua nổi nghèo cực tối tăm, người Việt không còn tương lai và gần như đánh mất hết đạo lý của thánh hiền, trở nên yếu hèn nông nổi vì quanh quẩn bị bạo lực vây bủa, kềm chế, sống trong cảnh một cổ bốn tròng,chia rẽ Trung Nam Bắc dù tất cả đều là VN và thê thảm nhất về kinh tế, Pháp và bọn ký sinh Hoa-Ấn hầu như nắm hết tất cả nguồn lợi quốc gia. Nạn đói năm Ất Dậu 1945 khiến cho hơn 2 triệu người bị chết đói, là hậu quả tất yếu của chính sách trên, sau này được Vũ Anh Khanh lập lại trong truyện dài ưng ý và nổi tiếng nhất của ông NỬA BỒ XƯƠNG KHÔ.. Văn chương của Vũ Anh Khanh phản ảnh đúng nét đặc trưng của người Bình Thuận, Phan Thiết luôn thấy sao nói vậy, ngay thẳng, trung hậu, không biết nể nang bất cứ ai đã làm bậy dù đó là cấp chỉ huy, thầy cô kể cả những thân quyến trong gia đình, vì vậy thật linh động, có lúc thống thết lâm ly, có khi mĩa mai cay độc nhưng vẫn không dấu nổi nét cảm khái hùng hồn, chưa chan niềm uất hận.

Vũ Anh Khanh hiện diện trên cõi đời thật ngắn ngũi (1926-1956), giống như hoàn cảnh của Vũ trọng Phụng cũng tài hoa lại vắn số, nhưng ông cũng đã làm tròn thiên chức của một thanh niên thởi đại, trong cảnh quốc phá gia vong. Ðây cũng là cái giá trị cao quý nhất của kiếp người, nhất là giới mày râu hàng tri thức có lương tri và nhân phẩm, cái hào quang để thế nhân phân biện được hư thực, tốt xấu của con người. Sau năm 1975, nhiều văn nghệ sĩ miền Bắc thẳng thắng bảo rằng, cái chết sớm của Vũ Anh Khanh là một hạnh phúc, để ông không trở thành ông bình vội như hầu hết các văn thi sĩ tiền chiến đã lãnh nhận, trong suốt thời gian sống nhục nơi cõi thiên đàng xã nghĩa u trầm. Qua việc Vũ Anh Khanh tập kết ra Bắc năm 1954, nên nhiều người đã kết tội ông là cọng sản. Cũng vì lý do này mà suốt thời gian1955-1975, tác phẩm của ông lại bị cấm tiếp, không được tái bản, lưu hành, không có tên trong chương trình giáo dục, dù năm 1956 ông đã bị cọng sản miền Bắc bắn chết trên sông Bến Hải, khi quyết lòng đi tìm tự do sau khi đã đối mặt với sự thật nảo lòng. Thật ra việc Vũ Anh Khanh có là cọng sản hay không, giờ này cũng chưa có ai xác nhận được vì trong 9 năm chống Pháp, CSVN đã núp bóng Việt Minh để quản thúc toàn dân kháng chiến và trong hàng ngũ kháng chiến Việt Minh lúc đó có đủ mọi thành phần, đảng phái. Vũ Anh Khanh, Xuân Vũ.. hay mọi người khác trong dòng người yêu nước lúc đó, biết ai là Việt Minh hay Việt Cộng. Còn vấn đề về Tề hay tập kết phần lớn chỉ vì mang tâm trạng sợ bị trả thù, nên bặm môi tới đâu hay đó.

Nhưng thôi sự thật giờ đã rõ ràng, bộ mặt thật của cọng sản từ 1930-2007 cũng đã trôi hết lớp son phấn và huyền thoại, cho nên sự thức tỉnh của Vũ Anh Khanh năm 1956 là thái độ của một anh hùng đáng kính phục và mến mộ. Hơn nửa công hay tội của những người liên hệ tới lịch sử xin hãy để cho lịch sử định đoạt. Tự dưng tâm hồn cảm xúc và bối rối kỳ lạ khi bâng quơ đi vào ngỏ khuất của một phần đời nhà văn bị đời quên lãng VŨ ANH KHANH. Trong gió, trong mưa, trong cảnh mùa đông sụt sùi nước mắt, hình như có tiếng ai đang thì thầm :” Hãy khóc lên đi cho quê hương yêu dấu. Quê hương vẫn còn trong cơn ly loạn mà Anh nay ở đâu ?”

Là một chiến sĩ cầm bút đầu tiên dám công khai chống lại Thực Dân Ðỏ là đảng CSVN, Vũ Anh Khanh xứng đáng được các thế hệ đồng thời cũng như tuổi trẻ hôm nay, qua các nhà trí thức trẻ đang dấn thân đấu tranh trong nước, mục đích đòi lại quyền làm người đã bị đảng CSVN cướp giựt từ mấy chục năm qua.. lấy đó làm tấm gương chiến đấu với kẻ thù , dám nói lên sự thật, dù có chết nhưng còn hơn sống nô lệ nhục nhã . -/-

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

* Văn chương Nam Bộ và cuộc kháng Pháp của Nguyễn văn Sâm

* Văn học Miền Nam tổng quát của Võ Phiến

* Trăm hoa đua nở trên đất Bắc

* Người chết không mồ của Xuân Vũ đang trong VHVN số 14-2001 xuất bản tại Hoa Kỳ

* Thi văn quốc cấm thời Pháp thuộc của Thái Bạch

* Ðặc san Bình Thuận, DDPN, HV, LV

* 40 năm văn học của Nguyễn Vy Khanh

Xóm Cồn , Tháng 6/2007
HỒ ÐINH

VŨ ANH KHANH NHÀ VĂN KHÁNG CHIẾN ÐẦU TIÊN CHỐNG LẠI CỘNG SẢN VIỆT NAM

Tình Đồng Chí hay Những Bản Án Tử Hình Đồng Loại

Tình Đồng Chí hay Những Bản Án Tử Hình Đồng Loại

Tôi (tác giả Hứa Hoành) có dịp đàm đạo với 1 vị cao niên, quen nhau từ hồi ở bên trại ty nạn, mới đây gặp lại trong 1 tiệc cưới. Ông nhận xét về thành phần dao búa tham gia kháng chiến năm 1945, kể lại những chuyện thật, xin giấu tên:

Năm 1945, khi Việt Minh cướp chính quyền, kêu gọi toàn dân kháng chiến. Chúng tôi, dân giang hồ sống ngoài vòng pháp luật từ lâu, nghĩ rằng đây là dịp đoái công chuộc tội. Hơn nữa, chúng tôi có người còn chút lương tri, muốn ngoi lên ánh sáng làm người lương thiện và làm người yêu nước trong thời loạn. Đó cũng là tâm trạng các tướng cướp khét tiếng như Bảy Viễn, Mười Trí, Thomas Phước (tướng cướp hào hoa nổi tiếng 1 thời ở Saigon.) Đầu tiên, chúng tôi xin gia nhập Tự Vệ của Lâm ủy Hành chánh. Nhóm này chia làm 2 phe: 1 phe lo bảo vệ an ninh cá nhân trong Lâm ủy, còn 1 nhóm khác nhận mật linh thi hành các vụ giết người "Việt gian," "phản động." Tôi thuộc nhóm thứ hai. Qua mấy tháng nhúng tay vào máu, chúng tôi, có người tỉnh ngộ và đổi thái độ. Một hôm, Trần Văn Giàu họp chúng tôi và nói:

- Cách mạng nào mà không đổ máu ? Chúng ta hãy tiêu diệt bọn "phản động," "Việt gian" với bất cứ giá nào.

Những lời kết tội đó chỉ chung chung, không nói rõ tội trạng một ai. Rồi cứ mỗi tối, chúng tôi lại nhận mật lịnh đi lùng sục, bắt bớ, thủ tiêu nhiều nhân vật tên tuổi mà Lâm ủy có sẵn tên trong "sổ bìa đen."

Một người trong nhóm chúng tôi thắc mắc:

- Tại sao độc lập rồi mà còn giết nhiều người tài đức, có uy tín?

Trần Văn Giàu trả lời:

- Cách mạng làm gì có đức? Ai làm cách mạng mà không giết người?

Từ trong tiềm thức chúng tôi, hận thù được khơi dậy, nhiều người say máu, muốn trả thù. Tuy nhiên, cũng có người chùng bước, không nở nhúng tay, nhưng cũng không dám cãi lịnh. Chúng tôi lao vào công việc chém giết và được khuyến khích như "nhiệm vụ cách mạng."

Mấy tháng sau chúng tôi tỉnh ngộ. Kẻ còn chút lương tri như bọn tôi, tự động rã ngũ, về thành để bảo vệ mạng sống 1 cách nhục nhả. Có người "đâm lao thì phải theo lao." Lại có người tiếp tục "đánh đu với tinh, đùa giởn với rắn độc," chỉ trong 1 thời gian ngắn, họ "sanh nghề tử nghiệp." Đó là trường hợp của Ba Nhỏ, Hoàng Thọ, Giang Minh Lý và ngay cả Trung tướng Nguyễn Bình. Còn lại những kẻ mù quáng, tiếp tục vay máu đồng bào, cuối cùng cũng bị "hy sinh." Họ chết không phải vì lằn tên mũi đạn của kẻ thù mà chết vì dao găm, mã tấu của "đồng chí" họ như Tưởng Đàn Bảo, Vũ Đức, Sư Muôn..."

Sau đây là vài trường hợp thương tâm ấy
Khi Pháp chiếm lại các công sở trong thành phố Saigon đêm 22 rạng 23/9/45, Ủy ban Hành chánh đã chạy thục mạng vô Chợ Đệm mấy hôm trước, bỏ lại bọn Tự Vệ (Tự Vệ Cuộc, tức công an Việt Minh), Thanh Niên Xung Phong như rắn mất đầu. Võ khí thô sơ làm sao đương đầu với quân Pháp khí giới tối tân? Từ chỗ ẩn náu an toàn, Ủy ban Hành chánh ra lịnh tàn sát bất cứ người da trắng nào họ gặp. Ba Nhỏ, 1 đầu đảng cướp hoàn lương, chỉ huy 1 toán Tự Vệ thành, được lịnh ấy. Nửa đêm 25/9/45, Ba Nhỏ dẫn 1 đám lâu la, đột nhập cư xá He''rault (He''rault City) dành riêng cho gia đình Pháp kiều tại Tân Định, Phú Nhuận tàn sát 1 số đàn bà, trẻ con tại đây; Rồi họ bắt theo độ 50 người làm con tin, nhưng rồi cũng giết nốt. Tổng số nạn nhân lên tới khoảng 200 người. Nhiều quân lính Pháp, nóng lòng vì thân nhân bị giết, nên ra đường gặp ai đều bắn bừa bãi để trả thù. Dư luận tức giận, quay lại kết án Việt Minh là bọn mọi rợ. Nổi sùng, mấy ngày kế tiếp, Ba Nhỏ, Tô Ký, Kiều Đắc Thắng, Kiều Tấn Lập của Việt Minh được lịnh lùng sục, bắt bớ, chém giết man rợ. Chỉ trong vòng 1 tháng, có hàng trăm nhân vật tên tuổi, người quốc gia yêu nước đều bị giết.

Cũng như lớp CS đàn anh, Ba Nhỏ xuất thân từ băng du côn Bà Chiểu, Cầu Bông, Thị Nghè; 3 năm cầm đầu dân dao búa, Ba Nhỏ thạo nghề chém giết. Được Lâm ủy Hành chánh trọng dụng, hắn "làm việc cần mẫn". Nạn nhân của hắn không 1 ai sống sót. Vậy mà khi Pháp xua quân chiếm lại Thủ Đức, Ba Nhỏ theo bộ đội kháng chiến rút ra trước tới Biên Hòa. Biên Hòa thất thủ, bộ đội Ba Nhỏ rút về Bà Rịa, Long Thành. Để xoa dịu dư luận bất mãn đối với Việt Minh, Tướng Nguyễn Bình được lịnh dàn dựng tội trạng để xử tử Ba Nhỏ "làm gương" vì tội "vô kỷ luật."

Giữa cảnh dầu sôi lửa bỏng, giặc Pháp thập thò trước cửa, tàu chiến xập xình trên sông Lòng Tảo hàng ngày, mà Việt Minh ngụy tạo tội trạng cho Ba Nhỏ "đã giết người đàn mà mang 2 kg thịt tiếp tế vùng tạm chiếm" để tử hình đồng đội.

Khi Ba Nhỏ bị kêu án, Ba Dương (Ba Dương là lãnh tụ Bình Xuyên trước Bảy Viễn) và đồng đội giang hồ cũ, đều ký tên xin ân xá hoặc giảm án, nhưng Nguyễn Bình được lịnh phải hành quyết tức khắc. Quá ức vì biết mình bị làm con vật hy sinh, Ba Nhỏ liều giựt cây súng lục của đội hành quyết định tự sát cho rõ khí phách 1 tay anh chị, nhưng toán hành quyết giựt lại và bắn Ba Nhỏ chết liền tại chỗ.

Kiều Đắc Thắng là 1 tên du thủ du thực, từ miền Trung lưu lạc vào Nam trước năm 1945. Thắng làm đủ nghề từ phu đồn điền, khuân vác, thợ hớt tóc. Kiều Đắc Thắng ăn cướp bị bắt giam vào khám ở Vũng Tàu. Ở đây, Thắng cùng 1 bạn đồng tù tên Năm Bé móc nối với 1 tên coi ngục để vượt ngục.

Lúc đó đúng vào cơ hội Việt Minh cướp chính quyền, Thắng xin làm Tự Vệ. Từ Tiểu đội trưởng Quốc Gia Tự Vệ Cuộc (công an Việt Minh,) Kiều Đắc Thắng lên lên chức quyền Giám đốc công an các tỉnh miền Đông chỉ hơn 1 năm, nhờ khả năng bắt cóc và ám sát. Những ai bị Lâm ủy Hành chánh kết tội "Việt gian, phản động," Thắng hạ sát không gớm tay Nạn nhân của Thắng dài sọc. Ông Phan Văn Hùm bị Kiều Đắc Thắng ám sát tại quê nhà Bún, Lái Thiêu, tháng 10/1945. Về sau, thấy Thắng có quyền hành quá lớn, muốn qua mặt Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Trấn, nên Tướng Nguyễn Bình "gởi Thắng ra gặp bác Hồ". Có nguồn tin nói rằng Hồ Chí Minh cho Thắng gặp mặt, phủ dụ mấy câu theo công thức, rồi đổi tên Thắng là Vũ Tùy Nhàn để khỏi mang tiếng. Tuy nhiên, trên đường về Nam, Kiều Đắc Thắng chết 1 cách mờ ám.

Một nhân vật độc đáo khác cũng xuất thân từ giới gian hồ, đánh giặc rất gan lỳ, đó là Hoàng Thọ. Hoàng Thọ là người Hải Phòng cũng do lò ba búa đào tạo, lưu lạc vô Nam từ năm 1939. Thọ có thân hình cao lớn, khá điển trai, râu quai nón. Khá hơn những tên trước, Thọ từng làm thợ máy quấn dây điện. Khi Nhật đảo chánh Pháp (3/1945,) Thọ theo Nhật làm lính hải quân, nên được gọi là "Thọ Mạch lô." Việt Minh nắm chính quyền mở ra cho Thọ 1 con đường mênh mông vì hợp khả năng. Khi Tướng Nguyễn Bình vào Nam, nghe tiếng Thọ, lại người cùng quê, nên Nguyễn Bình chọn bộ đội Thọ để bảo vệ cho mình. Mộ năm sau, bộ đội của Hoàng Thọ được bổ sung thêm nhiều chiến sĩ, đánh nhiều trận tiếng tăm lừng lẫy. Địa bàn hoạt động của Thọ là vùng Gò Dầu, Trãng Bàng, Tây Ninh. Tuân lịnh Việt Minh, Thọ từng gây nhiều tội ác đối với giáo phái Cao Đài. Những người quen biết với Hoàng Thọ có kể lại rằng, mỗi lần phục kích, Thọ chọn hướng gần mé sông. Binh sĩ chỉ có tiến chớ không có lùi.

Khi Nguyễn Bình chính quy hóa quân đội kháng chiến, bộ đội Hoàng Thọ trở thành Tiểu đoàn 303. Đó là đơn vị chủ lực của Quân khu 7. Nguyễn Bình gài 1 tên CS, tên Kính, vào làm chính trị viên thì Tiểu đoàn 303 bắt đầu chia rẽ nội bộ và trở nên suy yếu. Có lần Hoàng Thọ bắt gặp 1 số bộ đội sinh hoạt riêng rẽ, bí mật. Khi Thọ điểm danh, thì vắng mặt. Lúc đó, tên chính trị viên Kính cố thuyết phục, rùn ép, dụ dỗ Thọ vô đảng CS. Bất mãn, Thọ bỏ đi, rồi cạo đầu để phản đối. Lúc trở về, Thọ thấy vật dụng cá nhân đều bị lục soát, anh ta bực tức không dằn được:

- Đ.M. Hoàng Thọ này đi kháng chiến vì dân vì nước, đâu có ngờ ngày nay có đảng này đảng nọ. Đem mà bắn cha nó cái đảng CS cho rồi!

Sau đó, Thọ bị kiểm điểm, phê bình và thế là 1 bản án tử hình bí mật đã định sẵn. Tháng sau, Tướng Nguyễn Bình "giới thiệu" Hoàng Thọ ra Bắc "gặp bác Hồ". Biết rõ âm mưu của Việt Minh định giết mình, Hoàng Thọ đi vài chặng, rồi đổi ý quay về Mỹ An mở quán lá bên bờ kinh Nguyễn Văn Tiếp trong Đồng Tháp Mười làm sinh kế. Hoàng Thọ có tiền, tiếp đãi bạn cũ có dịp công tác đi ngang qua đó rất hậu chẳng khác gì Mạnh thường quân.

Đầu năm 1950, văn phòng Trung tướng Nguyễn Bình dời về Cá Lóc, quận Long Mỹ. Bị Tây phát giác, họ chuyển đến Ông Dèo, ấp Cầu Đúc, quận Gò Quao, tỉnh Rạch Giá. Trong 1 đêm tối trời, Hoàng Thọ bị bắt, đem đi hành quyết tại 1 địa điểm gân Cạnh Đền. Bọn sát nhân đập đầu Hoàng Thọ như đập đầu con cá lóc. Trước khi chết, Thọ rống như bò và chửi rủa Việt Minh thậm tệ.

Cùng thời gian đó, ông Giang Minh Lý bị giết rất dã man. Lý con nhà đại điền chủ bỏ theo kháng chiến, lập nhiều công trạng, làm chính trị viên 1 đại đội đóng ở Cần Thợ Lý bị rùn ép, đe dọa phải vào đảng CS và phục tùng mệnh lệnh của họ. Lý từ chối nên bị nghi ngờ, theo dõi. Lý bất mãn ra mặt. Có lần Lý tuột quần, chỉ vào con c. và điểm mặt Hoàng Dư Khương, Chính ủy Khu 9, nói:

- Tao sợ mày cái con c. tao nè!

Mấy hôm sau, Lý bị bắt đem đi hành quyết tại Cạnh Đền. CS căng 2 tay ông ra, rồi dùng dao găm đâm túi bụi vào mắt, vào tim ...

Sau đây là 1 vụ hành quyết tập thể các "đồng chí" của mình (Việt Minh)
mà tác giả Dương Đình Lôi có thấy hoặc nghe kể lại trực tiếp
(qua 1 bức thơ ông Dương Đình Lôi gởi riêng cho tác giả Hứa Hoành):

... Tất cả độ 20 người thuộc bộ chỉ huy, tham mưu và hậu cần, chính trị của Tiểu đoàn 300 Dương Văn Dương, có cả Trương Văn Phụng và anh Tám Sơn đều bị trói thúc ké, đem xuống bờ biển Đông Hòa, rồi chặt đầu hết. Trong số nạn nhân có Bảy Nghiệp, nguyên Chi đội trưởng Chi đội 21 từ nhóm Bình Xuyên qua, phụ trách đảng vụ của Trung đoàn và chị Hai Sương được "hưởng ân huệ" khi xử tử. Đó là dùng súng bắn vào đầu thay vì bị chăt đầu.

Về cái chết của chị Hai Sương, ông Dương Đình Lôi không chứng kiến, nhưng được nghe chính người hành quyết kể lại:

Tôi nghe anh Năm Triệu, Đại đội trưởng chỉ huy cuộc hành quyết đó về văn phòng trung ương báo cáo lại. Năm Triệu gốc lính Nhật, to lớn con, mang gươm dài chấm đất. Năm Triệu kể:

“Tao thấy con Sương rụng rời tay chân. Tới phiên nó, nó xin đi đái. Tới lúc nó đứng dậy sau bụi cây mưa. Nó lột trần truồng dưới ánh trăng lờ mờ, làm tao trân trối nhìn nó chậm rãi đi trước miệng hố. Tao biết tội nó chỉ là liên lạc đưa thơ về Saigon mà sao họ cũng giết đành đoạn? Khi tới gần tao, nó nói:

- Anh Năm ! Em muốn hiến cho anh rồi em chết.

"Tao bàng hoàng định tha cho con nhỏ. Nhưng thằng mắc dịch Bảy Mầu đi tới (Bảy Mầu cũng là Đại đội trưởng, chồng chị Dưỡng, rễ của Ba Dương, bị Tướng Nguyễn Bình sai Từ Văn Ri ám sát chết ở Bến Tre.) Thằng Mầu nó bảo:

- Bộ hỏng mạnh dạn xuống gươm hả? Để tao tặng cho em viên đạn.

"Thế là kết liễu 1 đời hồng nhan bạc phận. Chị Sương là 1 người đẹp nhất của Trung đoàn, con nhà giàu, học sinh ở Saigon, bỏ theo kháng chiến và rước lấy cái chết thê thảm.

"Những người bị chặt đầu, chôn, hoặc thả trôi sông Lòng Tảo hôm ấy tôi được biết gồm có:

- Hai Điều, Trưởng ban quản trị, bị bắt ở An Thành.

- Tám Son, Trưởng văn phòng Trung đoàn.

- Bảy Nghiệp, Tiểu đoàn trưởng, Trưởng ban đảng vụ.

- Năm Son, Trưởng ban quân nhu.

- Bác sĩ Năm Ngà, Trưởng bịnh xá Trung đoàn.

- Chị Sương, 1 thiếu nữ xinh đẹp, thuộc ban quân báo Trung đoàn.

- Chín Lá, Trưởng đài vô tuyến điện.

Sau đây là chuyện của Sư Muôn
Sư Muôn là 1 nhà tu mang nhiều tai tiếng xấu, báo chí phanh phui những hành động lem nhem với phụ nữ. Lý lịch sư Muôn cũng ít người biết, nhưng nhắc tới sư Muôn, những người lớn tuổi ở miền Tây không ai không nghe tiếng. Tôi (Hứa Hoành) may mắn được ông Xuân Tước và 1 vị cao niên khác chỉ dẫn nhiều chi tiết.

Hồi những năm từ 1936-1939, sư Muôn có chùa ở quận Giồng Riềng, tỉnh Rạch Giá. Sát bên chùa có 1 cái am nhỏ, nơi đây những phụ nữ, những bà hiếm muộn muốn cầu tự, thường tìm đến sư Muôn để nhờ làm phép và nhiều người mãn nguyện. Nhờ vậy tiếng ông đồn rất xa.

Sư Muôn tên thật là Nguyễn Kim Muôn, người ở Gia Định, trước làm công chức Sở hỏa xa. Lúc đó, ông có mướn căn phố tại đường Hamelin (Hồ Văn Ngà sau này.) Ông xuất tiền và lạc quyên thêm để cất ngôi chùa Long Vân Tự tại đường Hàng Xanh, Thị Nghè. Bây giờ Long Vân Tự vẫn còn. Trong khi tu, sư Muôn có nhiều chuyện bất chánh với phụ nữ khiến dân chúng căm phẫn. Ông bỏ chùa xuống Giồng Riềng, Rạch Giá, tiếp tục lập chùa, lừa gạt phụ nữ hiếm muộn. Báo chí Saigon đã tố cáo ông thậm tệ.

Đầu năm 1946, Pháp chiếm trọn các tỉnh miền Nam. Hết đất dụng võ, nhóm CS đầu não của Khu 9 gồm Tỉnh ủy Nghiêm Cai Cơ, Bí thư Tỉnh ủy Dương Quang Đông (tức Năm Đông,) Phan Trọng Tuệ, Lâm Ngọc Minh phải bôn đào ra Phú Quốc. Sẵn thấy chùa sư Muôn có cơm gạo do bá tánh dâng cúng, nên bọn này ghé ăn dầm nằm dề tại chùa để ăn chực. Để lợi dụng sư Muôn, họ bèn phong cho ông làm "Ủy viên Xã hội" bằng miệng. Năm 1948, CS bao vây chùa bắt sư Muôn đem giết ven mé rừng, giữa Dương Đông và Hàm Ninh.

Phong trào "Thổ dậy" ở miền Nam vào năm 1945
Miền Nam là đất cũ của Chân Lạp, tức lãnh thổ Miên (sau khi Chân Lạp bị suy tàn.) Dân Nam Kỳ gọi người Miên là "Thổ." "Thổ dậy" là phong trào những người Miên trả thù (cáp Duồng) giết người Việt. Trong thời Pháp thuộc, người Miên, người Việt sống đề huề, thuận hòa với nhau trong gần 1 thế kỷ. Bình thường, bản tính người Miên rất hiền lành. Họ ăn uống cực khổ (thường ăn mắm) làm việc nặng nhọc như chèo ghe, vác lúa ... Người Miên theo Phật giáo Tiểu thừa. Tuy nhiên, bị khích động, họ thịnh nộ, giết người dã man.

Sau khi cướp chính quyền ở Cà Mau (lúc đó là 1 quận,) Ủy ban Hành chánh quận này đã giết hàng loạt thường dân và các nhà sư Miên 1 cách dã man. Thừa gió bẻ măng, khi Pháp ruồng bố tới, Thổ nhứt tề nổi lên theo Pháp để trả thù người Việt, gặp ai giết nấy. Võ khí của họ là chiếc phảng phát cỏ, kèo ngay, xử dụng như mã tấu. Những ai từng sống ở Hậu Giang vào các năm ấy, chắc không khỏi hãi hùng vì những tin "Thổ dậy." Thảm cảnh đó do 1 nhóm Việt Minh CS khơi nguồn, nhưng nhiều người dân vô tội sau đó đã trở thành nạn nhân.

Chứng kiến cuộc hành quyết dã man, ông Văn Nguyên Dưỡng, trong hồi ký "Tết Chạy Giặc Sau Mùa Thu Nhiễu Nhương," đã thuật lại cuộc giết các thường dân và sư sải Miên ở Cà Mau năm 1945 như sau:

"... Rồi không lâu, sau ngày "Mừng độc lập", cuộc tao loạn bắt đầu. Ngoài danh từ mới "Việt Minh" được biết vào ngày đó, tôi còn biết thêm 1 danh từ nữa là "Việt gian." Dân chúng, ai cũng sợ danh từ ấy. Ai cũng có thể bị kết tội là Việt gian với những chứng cớ mơ hồ, hay những việc làm trong dĩ vãng, rồi đem ra bắn hoặc cho "mò tôm." Người đầu tiên bị xử bắn dưới dạ Cầu Quay bên kia sông là cậu Bảy Mầu, "ông Cò Cà Mau." Mắt tôi mở rộng thêm khi biết rằng "có độc lập rồi" mà Việt Minh vẫn đem người ra xử bắn hàng loạt. Nhứt là các sư sãi ngươi Miên bị lôi từ trong chùa Miên ra, hoặc bị bắt ở đâu đó trong quận.

"Cách xử tử quá dã man: Họ trói tay hay bịt mắt, bắn hoặc chặt đầu. Cho rằng các sư Miên có "cà tha" (bùa,) có ngải, súng đạn không lủng, chém không đứt, Việt Minh nghĩ ra các xử tử bằng tầm vông vạt nhọn, đâm vào hậu môn rồi thả trôi sông. Xử tập thể trước mắt công chúng, trông thật khủng khiếp.

"Cầu tàu dưới bến, nơi họp lưu của sông Cà May và kinh xáng Đội Cường, thường là nơi diễn ra cuộc hành quyết đó. Mỗi lần như vậy, dân chúng tò mò kéo nhau đi coi rất đông. Hàng loạt sư sãi Miên bị cột chặt vào 3 đòn tre cứng, dài, mỗi người cách nhau 1 bước, thành 1 hàng ngang, xoay mặt ra phía sông. Quần bị lột bỏ. Đòn tre thứ nhứt đặt trên cổ, sau ót hàng người bị xử tử. Đòn tre thứ hai đặt ngang thắt lưng. 2 tay mỗi nạn nhân bị trói thúc ké, bẻ quặc ra sau lưng, buộc chặt vào đòn. Đòn tre thứ ba đặt ngang mắt cá, phía trước hàng chân dạng ra của họ. 1 đoạn dây buộc vào cổ mỗi người dính vào đòn tre thứ nhứt, kéo thẳng xuống buộc 2 chân họ vào đòn tre thứ ba. 6 du kích khoẻ mạnh giữ cứng 6 đầu của 3 đòn tre, kèm cho hàng người tù tội đứng ở thế cúi người xuống, chổng mông hướng vào mép trong cầu tàu.

"Ở mép trong cầu tàu, đã có sẵn 1 đội du kích bằng với số tử tội, đứng sắp hàng ngang, tay giữ tầm vong vạt nhọn đầu, dựng ngọn lên trời, chờ đợi.

"Đến giờ xử, có lịnh hành quyết do 1 người chỉ huy phất lên. Những tên du kích này hạ tầm vông ngang thắt lưng, chỉa mủi nhọn ra trước mặt, cùng 1 lượt chạy nhanh ra mép cầu, dùng hết sức mạnh, đâm thẳng mũi nhọn vào hậu môn của mỗi tử tội, đẩy cả hàng tù tội này xuống sông và buông luôn cả cây tầm vông ...

"Cách xử như vậy là xong. Bọn du kích Việt Minh bình thản kéo nhau ra về mang đầy máu me của những người bị xử phọt ra. Chúng bỏ cho những người đi coi mặc tình tràn ra cầu tàu nhìn xuống nước, xem những người này sống chết ra sao. Dĩ nhiên không 1 ai sống sót. Nếu họ không chết vì vết đâm thấu ruột gan, thì cũng chêt vì ngộp nước không lâu sau đó. Những cán tầm vông sẽ chổng lên trời hoặc ngã nghiêng xiên xọ, rồi những đàn diều, quạ, kên kên lượn vòng khu vực đó. Vài con đậu trên cán tầm vông. Năm bảy con chúi xuống rỉa thịt xác chết. Cả 1 vùng nồng nặc hôi thúi, gieo sự kinh hoàng tột đỉnh cho mọi người.

"Người dân lành trong quận đã bắt đầu câm nín. Cuộc sống của họ bị đe dọa và bị ám ảnh bởi những cuôc hành quyết man rợ của CS ..."

Hứa Hoành
Tình Đồng Chí hay Những Bản Án Tử Hình Đồng Loại